Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
                    
                    Chương 2
                              


               NƯỚC VIỆT NAM
                 DÂN TỘC VIỆT
                    TÊN NƯỚC
          Nguồn gốc dân tộc Việt


I- NƯỚC VIỆT NAM

Nước Việt Nam hình cong chữ S, bề dài 1,650 Km (khoảng 1,025 miles) và  diện tích  
khoảng 331,000 km2*  (127,000 Sq. miles), chia ra: Bắc phần 115,700 km2, Trung phần
147,600 km2, Nam phần 67,700 km2. Chiều dài bờ biển từ  Đông sang Tây khoảng 2,200
km, với những quần đảo ở Biển Đông như:
Quần Đảo Hoàng Sa, Quần Đảo Trường Sa,
Đảo Côn Sơn, ở Biển Tây như: Đảo Phú Quốc, Quần Đảo An Thới, Quần Đảo Hải Tặc và
rất nhiều đảo nhỏ.

So với các nước trên thế giới, Việt Nam lớn hơn: Phi Luật Tân (299,000 km2), Ý (301,000
km2), Anh (250,000 km2), Phần Lan (330,000 km2), Hy Lạp (131,944 km2), Nam Tư
(255,800 km2), Cuba (114,500 km2), Guatemala (109,000 km2), Uruguay (186,000 km2).

Phía Bắc Việt Nam giáp nước Trung Hoa, phía Tây giáp Lào và Campuchia,  phía Đông và
Nam giáp biển Đông. Đường ranh giới Việt Trung, Việt Lào và Việt Thái dài tổng cộng
2,500 km*.

Núi và cao nguyên chiếm 252,000km2, tức 73% diện tích toàn quốc, chia ra: Bắc phần
102.000km2 (88%), Trung phần 122,300km2 (83%), Nam phần 27,000km2 (41%).  

Núi cao trên 2000 m: Cao nguyên Đông Bắc (bắc & đông bắc giáp Trung Quốc), gồm có
núi Kiều Lùng Thi (Keou Leon Ti) (2,403m), Tây Côn Lĩnh (2,478m), núi (pu) Ta Ca (2,274
m), Yên Bình (2,070m).

Cao nguyên Tây Bắc và rặng Trường Sơn gồm có núi Fan Si Pan (3,140m) cao nhất, núi
Tao Phung (vùng Nhị Đà) (2,831m),  núi Ta Leng (3,091m), núi Mong Ca (2,888m), Lang
Cung (2,913m), núi (pou) Luông (2,983m), Sa Phin (2,879 m).

Cao nguyên Đà Mã, khu Lai Châu có Si Lung (3,076m), Pu Na Sam (2,100m), Pu Đen
Đinh (2,070m).

Cao nguyên Sơn La có Len Hương (2070m). Rặng Trường Sơn (từ thung lũng sông Cả
đến đèo Keo Nưa có núi (Pu) Xai Lai Leng (2711m), núi Bà Mụ (1357m). Rặng Trường
Sơn đoạn từ Keo Nưa đến đèo Mụ Già có rặng Vũ Quang, đỉnh cao nhất là Hoành Sơn
(2,286m). Núi A Tuất (2,500m) ở đoạn từ đèo Lao Bảo đến thung lũng sông Bông (phần
nam sát biên giới Việt Lào).

Cao nguyên miền Nam  - vùng núi Sê Đăng có núi Ngọc Lĩnh (2,598m), Mô Via (2,338m),
Ngọc An (2,251m).

Cao nguyên Lâm Viên – Di Linh núi Ha Mu (2,021m), có núi Vọng Phu (2,022m). Phía
đông bắc có núi Yang Sin (Thần Sin) (2,405m), Lang Biang  (2,163m), phía đông có Hòn
Giốc (2,010m), Bi Đúp (2,287m)  

Sông ngòi Việt Nam

Sông ngòi miền Bắ
c có Hệ thống sông Hồng (dài 500 km), sông Lô, sông Chảy, sông
Gầm, sông Nho Quế, sông Đáy, sông Đà,  Nậm Na, sông Ma, sông Mấc, sông Trà Lý,
sông Nam Định, sông Ninh Cơ. Hệ thống sông Thái Bình (dài 340 km), sông Lục Nam,
sông Thương, sông Cầu, sông Chu, sông Đuống, sông Luộc, sông Đà Bạch, Kinh Thầy,
Kinh Môn, sông Văn Úc, sông Rang, sông Bạch Đằng, sông Lạch Tray…Hệ thống sông Kỳ
Cùng chảy sang Trung Quốc, Bắc Giang, Bằng Giang.

Sông ngòi miền Trung có sông Mã, sông Cả, sông Chu (thuộc Thanh Nghệ Tĩnh), sông
Gianh, (Rao Nay), Đài Giang, sông Bến Hải, sông Cam Lộ, Hàn Giang, sông Hương, sông
Tả Trạch, sông Hữu Trạch (thuộc Bình Trị Thiên), sông Bông, sông Thu Bồn, sông Tam
Kỳ, sông Trà Khúc, Lại Giang, sông An Lão, sông Kim Sơn, sông Mang (thượng lưu là Hà
Giao), sông Đà Rằng (thượng lưu là sông Ba), sông Ayun, Krông Huang (thuộc nam Trung
Phần), sông Cái (sông Nha Trang), sông Kinh Dinh (sông Phan Rang), sông Lòng Sóng,
sông Lũy, sông Mao, sông Cà Tót, sông Căn, sông Mường Mán, sông Phan, sông Dinh,
sông Ray, (thuộc vùng Khánh Thuận - Có nhiều đầm cạn gọi là Bàu), sông (krong) Pơ Kô,
sông Sê San, sông (nậm) Liêu hay Ya Hleo và sông (Ea) Kroong, sông Srépok (thuộc Tây
Nguyên).  

Sông ngòi miền Nam có Hệ thống sông Đồng Nai, phát nguyên từ cao nguyên Lang
Biang (Lâm Viên), sông Đa Dung, sông Đa Nhim, sông Pha, sông Nhà Bè, sông Soài Rạp,
sông Bé, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ, sông Vàm Cỏ Đông, sông Vàm Cỏ Tây, sông La
Nha, sông Lòng Tảo, sông Đồng Tranh, sông Gò Gia, sông Đinh Ba, sông Cát Lái. Hệ
thống sông Cửu Long, phát nguyên từ Tây Tạng dài 4200km chảy qua Vân Nam, Miến
Điện, Lào, Căm Bốt, vào Việt Nam bằng 2 nhánh: sông Tiền (MéKong) và sông Hậu
(Bassac hay Ba Thắc), sông Mỹ Tho, sông Cửa Đại, sông Cửa Tiểu, sông Ba Lai, sông
Hàm Luông, sông Cổ Chiên, sông Cung Hầu. Hệ thống kinh đào miền Tây (có từ trước thế
kỷ thứ V do người Phù Nam đào để làm đường giao thông đến AnKor Borei, Óc Eo núi Ba
Thê và thị trấn Trăm Đường của Vương Quốc Phù Nam). Sau đó, triều Nguyễn và người
Pháp tiếp tục đào thêm kinh: Kinh Vĩnh Tế, kinh Hà Tiên, kinh Tri Tôn, kinh Ba Thê, kinh
Long Xuyên, kinh Rạch Sỏi, kinh Thốt Nốt, kinh Phụng Hiệp, kinh Cà Mau, kinh Mộc Hóa,
kinh Chợ Mới.

Thành phố và tỉnh , huyện (theo thống kê năm 1999 - 2004 – có thể thay đổi): Hiện nay
(kể từ  tháng 8 năm 2008) có 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc Trung Ương là Hà Nội, Hải
Phòng, Sài Gòn, Đà Nẵng và Cần Thơ, chia ra như sau:

Miền Bắc có 23 tỉnh và 2 Thành Phố trực thuộc Trung Ương (Hà Nội & Hải Phòng):
Nội
(Thành phố Thủ Đô – Hà Bắc sát nhập vào Hà Nội) 3,334.47 km2 –  6,232,940 dân –
7 quận, 5 huyện),  
Hải Phòng (Thành phố trực thuộc TƯ) (1,526 km² -  trên 1.7 triệu dân
- thị xã Đồ Sơn và 8 huyện), 1-
Bắc Ninh (807,6 km² - Gần 1 triệu dân - Thành phố Bắc
Ninh và 7 huyện), 2-
Vĩnh Phúc (1.715km² - 470 ngàn dân - Thành phố Vĩnh Yên, Thị xã
Phúc Yên và 6 huyện), 3-
Hà Nam (849 km2 - gần 800 ngàn dân - thị xã Phủ Lý  và 5
huyện), 4-
Hải Dương (1,648 km2 – trên 1.6 triệu dân – thành phố Hải Dương và 11
huyện), 5-
Hưng Yên (928 km2 – hơn 1 triệu dân - thị xã Hưng Yên và 9 huyện), 6- Nam
Định
(1,637 km2 - gần 1.9 dân – thành phố Nam Định và 9 huyện), 7- Thái Bình (1,542
km2 - gần 1.8 triệu dân - thị xã Thái Bình và 7 huyện), 8-
Ninh Bình (1,382 km2 - gần 900
ngàn dân - thị xã Ninh Bình & thị xã Tam Điệp  và 6 huyện), 9-
Hà Giang (7,884 km2 –
Hơn 600 ngàn dân - thị xã Hà Giang và 9 huyện), 10-
Cao Bằng (6,691 km2 - Khoảng 500
ngàn dân - thị xã Cao Bằng và 10 huyện), 11-
Lào Cai (8,057 km2 - Gần 600 ngàn dân -
Thị xã Lào Cai, thị xã Cam Đường và 8 huyện), 12-
Bắc Kạn (4,857 km2 - gần 280 ngàn
dân -  thị xã Bắc Kạn và 6 huyện), 13-
Lạng Sơn (8,305 km2 – Hơn 700 ngàn dân - thị xã
Lạng Sơn và 10 huyện), 14-
Tuyên Quang  (5,868 km2 - gần 700 ngàn dân - thị xã Tuyên
Quang và 5 huyện), 15-
Yên Bái (6.882,9 km2 - Hơn 700 ngàn dân - Thành phố Yên Bái,
Thị xã Nghĩa Lộ và 7 huyện), 16-
Thái Nguyên (3.562,82 km2 – hơn 1 triệu dân - thành
phố Thái Nguyên,  thị xã Sông Công và 7 huyện), 17-
Phú Thọ (3.519 km² - Hơn 1 triệu
300 ngàn dân - Thành phố Việt Trì, Thị xã Phú Thọ và 11 huyện), 18-
Bắc Giang (3.823
km² - 1.56 triệu dân - Thành phố Bắc Giang và 9 huyện), 19-
Quảng Ninh (8.239,243
km²  (đất liền 5.938 km²) – Hơn 1 triệu dân - Thành phố Hạ Long, Thành phố Móng Cái,
Thị xã Cẩm Phả, Thị xã Uông Bí và 10 huyện), 20-
Điện Biên (9.560 km² - gần nửa triệu
dân - Thành phố Điện Biên Phủ, Thị xã Mường Lay (thị xã Lai Châu trước kia) và 7
huyện), 21-
Hòa Bình (4.662.5 km² - Hơn 800 ngàn dân - Thành phố Hòa Bình và 10
huyện), 22-
Lai Châu (9.059,4 km² - Hơn 300 ngàn dân - Thị xã Lai Châu và 6 huyện), 23-
Sơn La (14.055 km² - Gần 1 triệu dân - thành phố Sơn La và 10 huyện).

Miền Trung có 18 tỉnh và 1 thành phố trực thuộc Trung Ương: 1- Thanh Hoá (57.8
km² - Gần 200 ngàn dân - Thành phố Thanh Hóa gồm 12 phường và 6 xã), 2-
Nghệ An
(16,487 km² - Hơn 3 triệu dân - Thành phố Vinh, Thị xã Cửa Lò & Thị xã Thái Hòa và 17
huyện), 3-
Hà Tĩnh (56,19 km² km² - Hơn 100 ngàn dân - Thành phố Hà Tĩnh và 10
phường, 6 xã), 4-
Quảng Bình (8.051,8 km² - Hơn 800 ngàn dân - thành phố Đồng Hới và
6 huyện), 5-
Quảng Trị (4,745.7 km² - Hơn 600 ngàn dân - Thành phố Đông Hà, Thị xã
Quảng Trị và 8 huyện), 6-
Thừa Thiên-Huế (5,053 km² - Hơn 1 triệu dân (2005) - Thành
phố Huế và 8 huyện) -
Thành phố Đà Nẵng trực thuộc T.Ư (1.256 km² - Hơn 800 ngàn
dân (2007) – thành phố Đà Nẵng, 6 quận, 1 huyện ngoại thành và 1 huyện đảo (Hoàng
Sa), 7-
Quảng Nam (10,408 km² - Gần 1 triệu rưỡi dân (2005) - Thành phố Tam Kỳ,
Thành phố Hội An và 16 huyện), 8-
Quảng Ngãi (5,137 km² - Hơn 1.2 triệu dân - Thành
phố Quảng Ngãi và 13 huyện), 9-
Bình Định (6,024 km2 – Hơn 1.5 triệu dân - Thành phố
Qui Nhơn và 10 huyện), 10-
Khánh Hòa (5,197 km² - Hơn 1 triệu dân – Thành phố Nha
Trang, Thị xã Cam Ranh, 6 huyện và 1 huyện đảo (Trường Sa), 11-
Phú Yên (5,045 km2
– Hơn 800 ngàn dân - Thị xã Tuy Hoà và 8 huyện), 12-
Ninh Thuận (3,360 km² - Hơn 500
ngàn dân - Thị xã Phan Rang –Tháp Chàm và 5 huyện, 13-
Bình Thuận (7,992 km² - Hơn
1.1 triệu dân – Thành phố Phan Thiết và 8 huyện), 14-
Kon Tum (9,614.5 km² - Hơn 366
ngàn dân (2004) - Thị xã Kon Tum và 8 huyện), 15-
Gia Lai (Pleiku), (15,495 km² - Hơn 1
triệu dân - Thành phố Pleiku, Thị xã An Khê, Thị xã Ayun Pa (Cheo Reo) và 13 huyện),  
16-
Đắc Lắc (19,600 km2 - Hơn 1.7 triệu dân -  Thành phố Buôn Ma Thuột (Ban Mê Thuột
và 18 huyện), 17-
Lâm Đồng (9.765 km² - Hơn 1.1 triệu dân - Thành phố Đà Lạt (tỉnh lỵ),
Thành phố Bảo Lộc và 10 huyện), 18-
Đắc Nông (6,515 km² - 385,800 dân (2004) - Thị
xã Gia Nghĩa (tỉnh lỵ) và 7 huyện).

Miền Nam Việt Nam có 17 tỉnh và 2 thành phố trực thuộc Trung Ương: 1- Lâm
Đồng
(9,764.8 km² - Hơn 1.1 dân (2004) - Thành phố Đà Lạt, Thành phố Bảo Lộc và 10
huyện), 2-
Tây Ninh (4.030 km² - Hơn 1 triệu dân - Thị xã Tây Ninh và 8 huyện), 3- Bình
Phước
(6.857 km² - 783.600 dân - Thị xã Đồng Xoài và 5 huyện), 4- Bình Dương (2.696
km² - 883.200 dân - Thị xã Thủ Dầu Một và 6 huyện), - (
Thành phố trực thuộc TƯ) Sài
Gòn
(2.095 km² - 6.378.100 dân – 17 quận và 5 huyện), 5- Đồng Nai (5.895 km² -
2.174.600 dân - Thành phố Biên Hòa và 8 huyện) , 6-
Bà Rịa – Vũng Tàu (1,982 km² –
897.6007 dân - Thành phố Vũng Tàu, Thị xã Bà Rịa và 5 huyện (huyện đảo Côn Đảo) , 7-
Long An (4.491 km² - 1.400.500 dân - Thị xã Tân An và 13 huyện), 8- Đồng Tháp (3.246
km² - 1.639.400 dân - Thành phố Cao Lãnh, Thị xã Sa Đéc và 9 huyện), 9-
Tiền Giang
(2.367 km² - 1.681.600 dân - Thành phố Mỹ Tho, Thị xã Gò Công và 6 huyện), 10-
Trà
Vinh
(2.215 km² - 1.015.800 dân - Thị xã Trà Vinh và 7 huyện), 11- Vĩnh Long (1.475 km²
- 1.044.900 dân - Thị xã Vĩnh Long và 6 huyện), 12-
An Giang (3.406 km² - 2.170.100 dân
- Thành phố Long Xuyên, Thị xã Châu Đốc và 9 huyện) ,
Thành phố (trực thuộc TƯ)
Cần Thơ
(1.390 km² - 1.122.500 dân – Thành phố Cần Thơ, thị xã Vị Thanh và 6 huyện),
13-
Sóc Trăng (3.223 km² - 1.257.400 - Thành phố Sóc Trăng và 6 huyện), 14- Bạc Liêu
(2.526 km² - 786.200 dân - Thành phố Bạc Liêu và 3 huyện), 15-
Cà Mau (5.202 km² -
1.200.800 - Thành phố Cà Mau và 6 huyện), 16-
Kiên Giang (6.268 km² - 1.630.300 dân
- Thành phố Rạch Giá, Thị xã Hà Tiên và 12 huyện), 17-
Hậu Giang (1.608 km² - 781.000
dân - Thị xã Vị Thanh, Thị xã Ngã Bảy (Tân Hiệp cũ) và 5 huyện).

II- DÂN TỘC VIỆT

Theo truyền thuyết, dân tộc Việt thuộc dòng giống Lạc Việt là bộ tộc hùng mạnh nhất
trong nhóm Bách Việt, khởi đầu lập quốc năm 2879 trước Tây Lịch tại vùng đất Lĩnh Nam,
tức đất Hồ Quảng (bao gồm các tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây), Bắc Việt và một
phần phía bắc Trung Việt Nam ngày nay, do Kinh Dương Vương làm thủ lãnh.

Dân tộc Việt gồm đa số là người Việt (87%), thống nhất về chủng tộc, tiếng nói, phong tục,
tập quán... và 53 sắc tộc thiểu số (13%), dựa theo ngôn ngữ chia thành 8 nhóm (**)
:
1- Nhóm Việt - Mường:
4 sắc tộc Việt***, Mường, Thổ, Chứt
2- Nhóm Tày – Thái:  8 sắc tộc Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái
3- Nhóm H’Mông – Dao: 3 sắc tộc Dao, H’Mông, Pà thẻn
4- Nhóm Tạng - Miến: 6 sắc tộc Cống, Hà Nhì, La hủ, Lô lô, Phù lá, Si la
5- Nhóm Hán: 3 sắc tộc Hoa, Ngái, Sán dìu
6- Nhóm Môn - Khờ  me: 21 sắc tộc Ba na, Brâu, Bru-Vân kiều, Chơ-ro, Co, Cơ-ho, Cơ-
tu, Gié-triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ mú, Mạ, Mảng, M'Nông, Ơ-đu, Rơ-măm, Tà-
ôi, Xinh-mun, Xơ-đăng, Xtiêng
7- Mã Lai – Đa đảo: 5 sắc tộc Chăm, Chu-ru, Ê đê, Gia-rai, Ra-glai
8- Nhóm Kađai (Hỗn hợp Nam Á ): 4 sắc tộc Cờ lao, La chí, La ha, Pu péo

Dân số Việt Nam theo kiểm kê năm 1999, có trên 76 triệu người.

*
Địa lý Việt Nam - Nguyễn Khắc Ngữ & Phạm Đình Tiếu
** Nguồn: Chim Viet Canh Nam http://chimviet.free.fr/dangnet/54dantoc/dtv00001.htm
*** Nhiều tài liệu chua thêm chữ “Kinh” hay “người Kinh” (để chỉ tộc Việt), xét ra không cần
thiết vì ai cũng biết dân tộc Việt sống trên đất nước Việt là chính. Vả lại tộc người Kinh
(người gốc Việt) hiện sinh sống trên 3 đảo Vạn Vĩ, Vu Đầu và Sơn Tâm  tỉnh Quảng Tây -
trấn tự trị Phòng Thành - huyện Đông Hưng (sát  tỉnh biên giới Móng Cái Việt Nam) là một
sắc tộc thiểu số trong 56 sắc tộc của Trung Quốc. Người Việt của nước Việt Nam độc lập
có dân số  gần 80 triệu, không thể bị ngộ nhận là một tộc thiểu số của nước Tàu!   

III- TÊN NƯỚC

Theo truyền thuyết, Thời Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân (2879 – ? trước  Tây
Lịch – tr.T.L.) tên nước gọi là
XÍCH QUỈ (Có thể là XÍCH QUI tức vùng đất có nhiều Rùa
lớn ở phía Nam sông Dương Tử, thời cổ bên Tàu (nhà Thương) dùng làm “Giáp cốt” ? (1).
Thời Hùng Vương  (? – 258 tr. T.L.)  là
VĂN LANG (2).
Thời Thục An Dương Vương  (257 – 207 tr. T.L.) là
ÂU LẠC.
Theo chính sử, thời nhà Tần xâm lăng Bách Việt (214 trước Tây Lịch), chia  đất
Lĩnh Nam thành 3 quận NAM HẢI (Quảng Đông),  QUẾ LÂM (Quảng Tây) và TƯỢNG
QUẬN (thuyết cũ: thuộc Bắc Việt, thuyết mới: phía tây Quảng Tây).

Thời Tần Hán, Triệu Đà đánh chiếm Tượng Quận, sát nhập Tượng Quận với quận Nam
Hải, lập ra nước
NAM VIỆT (207-111 tr.T.L.) độc lập với nhà Hán. (3)

Thời Hán thuộc, nhà Hán xâm lăng, đánh lấy Nam Việt, rồi cải là
GIAO CHỈ BỘ, chia ra 9
quận: Nam Hải (Quảng Đông), Thương Ngô (Quảng Tây), Uất Lâm (Quảng Tây), Hợp Phố
(Quảng Đông), Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (Bắc Việt và mấy tỉnh phía bắc Trung Việt),
Châu Nhai và Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam). (4)

Thời Hai Bà Trưng (40-43) đất đai gồm thâu 4 quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, và
Nhật Nam.  Không rõ quốc hiệu. Người Hán vẫn gọi là Giao Chỉ. “Đại Nam Quốc Sử Diễn
Ca” gọi lãnh thổ mới dưới thời Hai Bà Trưng là
LĨNH NAM (“Lĩnh Nam riêng một triều đình
nước ta” – và ghi chú: Lĩnh Nam ở phía Nam núi Ngũ Lĩnh, tức phía Bắc tỉnh Quảng Tây).
Lê Tắc (An Nam Chí Lược) cũng viết: “...đất LĨNH NAM đều được bình định”.

Cuối thời Đông Hán (203) Thứ sử Trương Tân và Thái Thú Sĩ Nhiếp xin cải Giao Chỉ
thành  
GIAO CHÂU.

Thời Đông Ngô chia đất Giao Châu  thành QUẢNG CHÂU (từ Hợp Phố về Bắc), và GIAO
CHÂU (từ Hợp Phố về Nam). (Sau Ngô chủ lại hợp Quảng Châu và Giao Châu làm một và
giao cho Lữ Đại làm  Giao Châu mục). Năm 264, nhà Ngô lại chia thành QUẢNG CHÂU
(gồm Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, châu trị ở Phiên Ngung) và
GIAO CHÂU (gồm Hợp
Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam, châu trị ở Long Biên). (5).

Thời Lý Bôn (544) nhà Tiền Lý gọi tên nước là
VẠN XUÂN.
Thời nhà Tùy (589-617) lại gọi là
GIAO CHÂU. (6)  

Thời nhà Đường (618-907) lập
AN NAM  ĐÔ HỘ PHỦ (7). Sau khi Cao Biền đánh tan
quân Nam Chiếu (866), vua Đường lại đổi An Nam thành TĨNH HẢI  (Cao Biền làm Tiết Độ
Sứ Tĩnh Hải.).

Thời độc lập, vua Đinh Tiên Hoàng (968-979)  đặt tên nước là
ĐẠI CỒ VIỆT. Nhà Lý (Lý
Thánh Tông) đổi là  ĐẠI VIỆT (1054) (8). Thời nhà Hồ đổi là  ĐẠI NGU (1400) (9).  Lê Thái
Tổ nhà Lê lấy lại quốc hiệu là  
ĐẠI VIỆT (1428). Vua Gia Long nhà Nguyễn đặt quốc hiệu
là  
VIỆT NAM (1804). Vua Minh Mệnh đổi thành  ĐẠI NAM (1838).  Các phong trào chống
Pháp và dân chúng đều gọi tên nước là  
VIỆT NAM (1945).

Ghi chú
(1)        Có thể “Xích Quỉ” đọc trại từ “Xích Qui” ra chăng? “Xích Qui” là vùng đất có nhiều
rùa lớn ở phương Nam. Theo Nguyễn Hiến Lê (Sử Trung Quốc – tr. 53), thời nhà Thương
bên Tàu đã có chữ viết khắc trên xương thú vật hoặc trên mai rùa lớn (chỉ có ở thung lũng
sông Dương Tử gần Động Đình Hồ) gọi là “Giáp cốt”. Rùa là vật có thật trong tứ linh
“Long, Ly Qui, Phụng”, và thường được nhắc đến trong truyện thần thoại Việt Nam như
thần Rùa giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa, hoặc Thần Rùa giúp vua Lê Lợi thanh
gươm để đánh đuổi giặc Minh, sau đó lấy lại ở hồ “Hoàn Kiếm”.  Đất Xích Qui theo truyền
thuyết rất rộng lớn, phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía nam giáp Hồ Tôn (Chiêm
Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải.
(2)        Lãnh thổ Xích Qui chỉ tồn tại trong truyền thuyết. Riêng đất Văn Lang được chia ra
làm 15 bộ: 1- Văn Lang (Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên); 2- Châu Diên (Sơn Tây); 3- Phúc Lộc
(Sơn Tây); 4- Tân Hưng (Hưng Hóa - Tuyên Quang); 5- Vũ Định (Thái Nguyên – Cao
Bằng); 6- Vũ Ninh (Bắc Ninh); 7- Lục Hải (Lạng Sơn); 8- Ninh Hải (Quảng Yên); 9- Dương
Tuyền (Hải Dương); 10- Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình); 11- Cửu Chân
(Thanh Hóa); 12- Hoài Hoan (Nghệ An); 13- Cửu Đức (Hà Tĩnh); 14- Việt Thường (Quảng
Bình, Quảng Trị); Bình Văn. (?) (Trần Trọng Kim, sách đã dẫn trang 12).
(3)        Kể từ nước Âu Lạc trở về trước thuộc về lịch sử truyền thuyết. Từ nước Nam Việt
trở về sau thuộc về lịch sử truyền văn. Chính sử như “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” của Lê
Văn Hưu & Ngô Sỹ Liên hoặc “Việt Nam Sử Lược” của Trần Trọng Kim đều coi nhà Triệu là
một nhà chính thống, và Nam Việt là tên nước Việt Nam thời nhà Triệu (
Nam Việt đọc theo
tiếng Hán,
Việt Nam đọc theo tiếng Việt).
(4)        Sau này nhà Đông Ngô hợp bốn quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam
thành Giao Châu. Kể từ đây, vùng đất Xích Qui (đất Lĩnh Nam Bách Việt) của Kinh Dương
Vương coi như bị người Hán đồng hóa gần hết. Chỉ còn sót lại các quận Giao Chỉ, Cửu
Chân, Nhật Nam thuộc về Bắc Việt và phía Nam Trung Việt ngày nay. Riêng Quận Hợp
Phố thuộc về tỉnh Quảng Đông gần với Bắc Việt đã được Hai Bà Trưng giành lại trong
cuộc khởi nghĩa năm 40 và được sát nhập vào nước Nam độc lập thời Hai Bà Trưng (40-
43). Việt Nam bị Đông Ngô cai trị, nên có thuyết cho rằng danh từ “thằng Ngô”, hoặc chữ
“Ngô” trong “Bình Ngô Đại Cáo” dùng để chỉ người Tàu, từ  đó mà ra (Nguyễn Hiến Lê - Sử
Trung Quốc, tr. 227). Đối với quân tướng nhà Minh bên Tàu, Nguyền Trãi gọi quận Minh là
giặc Ngô vì Chu Nguyên Chương sáng lập ra Nh Minh  xuất phát  từ vùng đất Ngô Việt
trước đây và được phong là Ngô Vương.
(5)        Theo Trần Trọng Kim, “đất Nam Việt của nhà Triệu ngày trước thành ra Giao
Châu và Quảng Châu từ đấy”.
(6)        Từ đây, sử không nhắc tới phần đất Quảng Châu nữa, coi như vùng đất này đã
hoàn toàn bị đồng hóa và thuộc về người Trung Hoa.
(7)        Nhà Đường chia nhiều tỉnh bên Tàu thành Đô Hộ phủ. Vậy “Đô Hộ” là một chức
quan. Theo Trần Trọng Kim, nước ta gọi là An Nam khởi đầu từ đấy.
(8)        Từ nhà Đinh, nước Nam độc lập có tên riêng là Đại Cồ Việt, rồi Đại Việt, nhưng
Tàu vẫn phong cho vua ta là Giao Chỉ quận vương. Năm 1164 vua Tống đổi Giao Chỉ
quận thành AN NAM quốc và phong cho Lý Anh Tông làm An Nam quốc vương (Trần
Trọng Kim, sách đã dẫn, trang 111).
(9)        Hồ Quý Ly dòng dõi nhà Ngu bên Tàu, nên đặt tên nước là Đại Ngu để nhớ về
nguồn gốc, dòng tộc. Chữ Ngu tiếng Hán có nghĩa là “an vui”.

Nguồn gốc người Việt Nam :

Đây là một vấn đề gây ra nhiều tranh cãi và cần thêm nhiều thời gian nữa để nghiên cứu,
tìm hiểu
.

Theo Trần Trọng Kim (Việt Nam Sử Lược – in 1971 – tr. 5) nói về
gốc tích người Việt
Nam
, đã nêu lên ý kiến của những nhà nghiên cứu người Pháp, cho rằng người Việt Nam
và người Thái đều ở miền núi Tây Tạng xuống. Người Việt Nam theo sông Hồng Hà xuống
phía đông nam lập ra nước Việt Nam và người Thái theo sông Mê Kông xuống lập ra nước
Tiêm La (Thái Lan).  Một thuyết khác cho rằng ngày xưa nước Tàu có giống Tam Miêu ở.
Sau giống Hán tộc (người Tàu bây giờ) ở phía tây bắc đến đánh đuổi người Tam Miêu đi,
chiếm giữ lấy vùng sông Hoàng Hà, lập ra nước Tàu. Người Tam Miêu phải lẩn núp vào
rừng hay xuống miền Việt Nam bây giờ.

Cả hai giả thuyết này đều không nêu ra được chứng cớ rõ rệt nên không thể thuyết phục.
Chính học giả Trần Trọng Kim cũng đã bác bỏ 2 giả thuyết này.

Ta thử xét qua 3 giả thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt theo sách “Địa Lý VN”  của tác giả
Nguyễn Khắc Ngữ & Phạm Đình Tiếu (in trước 1975 – tr. 118-121):

1-        Thuyết Con Rồng Cháu Tiên: Truyền thuyết kể rằng Đế Minh là cháu 3 đời vua
Thần Nông đi tuần thú phương Nam, lấy bà Vụ Tiên (giống Tiên) sinh ra Lộc Tục được làm
vua phương Nam, tức Kinh Dương Vương (Đế Nghi là con trưởng làm vua phương Bắc).
Vua Kinh Dương Vương lấy bà Long Nữ (giống Rồng), con gái chúa Động Đình Hồ, sinh ra
Sùng Lãm tức Lạc Long Quân (là con Rồng, cháu Tiên  -  theo họ mẹ và bà ngoại, vì thời
đó theo chế độ mẫu hệ). Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ sinh ra một trăm con, 50 con theo
mẹ lên rừng (phía Quảng Tây và Bắc Việt Nam ngày nay), 50 con xuống biển Nam Hải (tức
vùng Quảng Đông – kinh đô là Phiên Ngung).

Nhận định về thuyết này ta thấy có nhiều điểm mang tính thần thoại, nhất là về thời gian
không rõ rệt. Hơn nữa, thuyết này nói rất mơ hồ về tình trạng Đế Nghi làm vua phương
Bắc là vua những nước nào? Có phải nước Tàu ngày nay không? Hay chỉ làm vua ở phía
Nam sông Dương Tử của nước Tàu thời bấy giờ (như nước Sở, Ngô, Việt?) nhưng là
phương Bắc đối với Động Đình Hồ? Lại nữa, cháu ba đời vua Thần Nông là Thần Nông
nào? Truyền thuyết Trung Hoa cũng nhận Thần Nông là những ông vua đầu tiên của họ,
tức Tam Hoàng, Ngũ Đế? Thuyết “Con Rồng Cháu Tiên” chỉ nói về nguồn gốc các vị vua
đầu tiên của nước Việt cổ (Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, các vị vua Hùng), mà
không đề cập đến nguồn gốc dân tộc Việt (Lạc Việt). Làm vua một nước đương nhiên phải
có dân.
Mặc dù vậy, về một vài địa danh như Động Đình Hồ, Ngũ Lĩnh, Nam Hải…là có thật.

2-        Thuyết Bách Việt: Do học giả người Pháp (ông Aurrousseau) nêu ra, cho rằng
người Việt là con cháu của nước Việt (nước Việt – Câu Tiễn) miền Chiết Giang bên Tàu,
từ thế kỷ thứ VI tr. CN. Đến thế kỷ thứ V, Việt Vương Câu Tiễn mở rộng đất đai về phía
Bắc đến tận Giang Tô và Sơn Đông. Sau Câu Tiễn mất, con cháu không giữ được đất,
đến thế kỷ thứ IV thì phải rút về đất cũ ở Chiết Giang. Năm 333 tr. CN, nước Việt bị nước
Sở chiếm, người Việt phải bỏ chạy về phía Nam, tập hợp thành nhiều bộ lạc, gọi là Bách
Việt.

Nhận định về thuyết này, việc thành lập giống dân Bách Việt được giải thích khá hợp lý.
Tuy nhiên không giải thích được tình trạng dân cư đã có sẵn ở Quảng Đông, Quảng Tây
(đất Bách Việt) và Bắc Việt Nam trước khi giống Việt (của nước Việt Câu Tiễn) tràn xuống
phía Nam.

3-        Thuyết thứ 3 căn cứ vào “Nhân chủng học”:

a-        Đào sâu dưới đất ở Thanh Hóa, Hòa Bình, Bắc Sơn -  kiếm thấy sọ người rồi mang
so sánh, thấy ở lớp sâu nhất là sọ các giống da đen (Négritos), Mélanésiens, và Úc –
Australlens.

b-        Đào lớp đất thứ nhì, ít sâu hơn thấy sọ các sắc dân di cư đến gồm dân Indonésiens.

c-       Loại thứ ba gồm giống đến sau nữa là giống Mông Cổ.

d-        Loại thứ tư là là sọ lai các giống nói trên.

Ngoài ra, xét về ngôn ngữ, tiếng Việt đơn âm, giống tiếng Mường, Thượng Tây Nguyên,
Chàm và Indonesiens.

Về văn minh (vẽ mình, nhuộm răng, theo chế độ mẫu hệ)  là nền văn minh Hải Đảo - từ Mã
Đảo (Madagascar) đến miền Bắc Nhật Bản.

Thuyết này kết luận, giống dân đầu tiên trên dải đất ta (?) là giống da đen Négritos,
Mélanésiens và Úc. Sau đó có giống Indonésiens ở phía Nam tiến lên và giống Mông Cổ từ
phía Bắc tràn xuống. “
Các sắc dân này đồng hóa với nhau tạo thành giống Việt Nam
chúng ta ngày nay
” (?).

Nhận định về thuyết này, theo thiển ý thấy có vẻ khoa học và đáng tin cậy. Tuy nhiên, việc
khảo cứu (đào đất tìm sọ) chỉ giới hạn ở một số địa điểm (như ở các tỉnh Thanh Hóa, Hòa
Bình, Bắc Sơn – đa số ở vùng cao - rồi mang suy diễn ra cho toàn vùng Bắc và Trung Việt
ngày nay, e rằng còn nhiều thiếu sót? Hơn nữa, chỉ đào sới ở đất Bắc Việt rồi mặc nhiên
kết luận đó là nước ta (?) thời thượng cổ, có vẻ khiên cưỡng chăng? Ta sẽ tự hỏi, thế còn
vùng đất Quảng Đông, Quảng Tây thì sao?  Theo cổ sử và sách địa lý Trung Quốc  đều
xác nhận vùng này thời thượng cổ đã có giống Việt ở, mang cùng chủng tính (vẽ mình,
nhuộm răng, ăn trầu…), khác với giống dân phương Bắc nước Tàu sinh sống rồi? Tại các
Hải Đảo như Mã Đảo Madagascar) có cuộc đào sới tìm sọ người và nghiên cứu tương tự
hay không? Biết đâu dân ở Hải Đảo chính là dân ở đất liền (vùng Nam Hải - Quảng Đông
hoặc Bắc Việt) đã đến đó ở từ trước, sau đó mới trở lại đất liền?  Như vậy việc nghiên cứu
cần phải được thực hiện rộng rãi hơn nữa, chưa thể vội kết luận người Việt Nam là một
giống “tạp chủng” (lai từ nhiều sắc dân đến cư ngụ, kể cả da đen, Mông Cổ, Indonésien,
Úc…).


                       Chương 3

                                   Phong tục tập quán
                                             Tôn giáo
                                      Văn Học Việt Nam
©2003 Hùng Sử Việt