Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Lạng Sơn, tỉnh địa đầu bao lần chống xâm lược
G S Tôn thất Trình
Ai lên xứ Lạng cùng Anh !
Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng Anh,
Bỏ công bác mẹ sinh thành ra em .
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ, biên giới với tỉnh Quảng Tây , Trung
Quốc phía Đông Bắc ranh giới dài 253 Km. Là cửa ngõ phía Bắc nước Việt Nam , vị trí địa lý
và chính trị quan trọng, trên tuyến biên giới với Trung Quốc có 2 cửa khẩu quốc tế ( cửa
khẩu xe lữa là Đồng Đăng và cửa khẩu đường bộ là Hửu Nghị), 2 cửa khẩu quốc gia ( Chi
Ma ở huyện Lộc Bình và Bình Nghi ở huyện Tràng Định và 7 cặp chợ đường biên giới, giao
lưu kinh tế sôi động .
Ngay từ thời Hùng Vương , nước ta có 15 bộ, trong đó có bộ Lục Hải và Lạng Sơn nằm
trong bộ Lục Hải này. Vào đời nhà Trần, gọi là lộ Lạng Giang; năm 1437 đổi làm trấn Lạng
Giang, năm 1466 đặt tên làm thừa tuyên Lạng Sơn. Năm 1940 đổi làm xứ Lạng Sơn. Năm
1509 đổi làm trấn Lạng Sơn. Thời vua Minh Mạng, năm 1831 đổi làm tỉnh Lạng Sơn. Tháng
12 năm 1975 , Lạng Sơn và Cao Bằng hợp nhất thành tỉnh Cao Lạng. Tháng 12 năm 1978,
lại tách ra làm hai tỉnh: Lạng Sơn và Cao Bằng .
Hành chánh và dân cư
Diện tích hiện nay là 8 331.2 km2 , gồm 1 thị xã tên là thị xã Lạng Sơn, 10 huyện ( Tràng
Định, thị trấn là Thất Khê ;Văn Lãng, thị trấn là Na Sầm; Bình Gia, thị trấn là Bình Gia; Bắc
Sơn, thị trấn là Bắc Sơn; Văn Quan, thị trấn là Văn Quan; Cao Lộc, có 2 thị trấn Đồng Đăng
và Cao Lộc; Lộc Bình có hai thị trấn là Na Dương và Lộc Bình; Chi Lăng , có hai thị trấn là
Đồng Mỏ và Chi Lăng; Đình Lập cũng có 2 thị trấn là Thái Bình và Đình Lập; Hửu Lũng, thị
trấn là Hửu Lũng.)
Dân số năm 1989, chỉ có 611 015 người, năm 1999 là 704 642 người và năm 2006 là 746
400 người. Lạng Sơn là cư trú của cộng đồng các dân tộc miền Bắc. Đông nhất là người
Nùng , Tày, Kinh, Dao , Hoa, Sán Chay , H’Mông - Mèo… Tài liệu điều tra năm 1999, cho
thấy tộc dân Nùng chiếm 43,9 % tổng số dân, tiếp theo là tộc dân Tày ( 35.6% ), tộc dân
Kinh (15.3%), tộc dân Dao ( 3.5% ), tộc dân Hoa ( 0,4 % ), tộc dân H’Mông ( 0,2 5 ), còn lại
là các tộc dân Thái, Mường , Sán Dìu …
Tộc dân Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày -Thái, làm ruộng nước thành thạo như ngưòi
Việt ( Kinh ) và người Tày, nhưng địa bàn cư trú của họ là khu vực chuyễn tiếp giữa vùng
thấp và vùng cao . Ruộng nước ít , nên nương rẫy và hệ thống ruộng bậc thang đóng vai
trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Người Nùng còn biết làm một số nghề thủ công
như dệt, nhuộm vải , rèn đúc, đan lát , làm ngói máng ( ngói âm dương ). Chúng ta thường
cho tộc dân Nùng là một khối ngôn ngữ kết dính, nhưng thật ra tộc dân Nùng , theo Beth
Nicolson ( 1998) và viện Dân tộc Học miền Bắc ( 1979 ), chia ra 12 nhóm biệt danh, tỉ như
Nùng Cháo, Nùng Inh , Nùng Hù Lai… Rất nhiều biệt danh này lấy tên từ các vùng Trung
Quốc, trước khi họ di cư sang Việt Nam, đã hơn 10 thế hệ, khỏang 300- 400 năm nay rồi. Tỉ
như Nùng Cháo từ Long Châu ( Longzhou ) ; Nùng Phàn Slình từ Vạn Trần Châu (
Wanchenzhou ); Nùng Inh từ Long Yên ( ? ) Châu ( Longyinzhou ) ; Nùng Ân từ Ân Kết (
Anjiwezhou ). Khi nói chuyên , có khi họ không hiểu nhau, phải dùng tiếng Việt , như khi
các tộc dân Nùng phụ Cháo, Inh , Phàn Slình, nói chuyện với Nùng Ân.
Địa bàn cư trú của tộc dân Tày ( Tổng bí thư đảng Cọng Sản V. N. hiện nay Nông Đức
Mạnh thuộc tộc dân Tày ) là các thung lũng có nhiều đồng ruộng như lòng chảo Thất Khê,
Bắc Sơn, Bình Gia hay ở một số huyện Lộc Bình, Chi Lăng… Ngòai kinh nghiệm canh tác
ruộng nước không thua kém tộc dân Kinh , người Tày còn thạo trồng cây công nghiệp như
trồng hồi (anis tree - illicium verum ), thuốc lá, ươm tơ, dệt lụa, nuôi vịt, đào ao thả cá , thủ
công bàn ghế tre, trúc . Từ thời Hùng Vương đã có sự liên minh giữa người Việt cỗ và
người Tày cỗ. Tộc dân Tày tiếp thu nhanh chóng văn hóa , phát triễn kinh tế tộc dân Kinh
Tộc dân Kinh ( Việt ) đứng hàng thứ ba. Nhóm Kinh cư dân đầu tiên của tỉnh, có nguồn
gốc con cháu nhà Mạc hay những tù nhân lưu đày, con cháu các phiên thần quan lại . Nhóm
thứ hai là người Kinh lên Lạng Sơn khai hoang do miền Bắc phát động vào thập niên
1960. Họ có mặt ở hầu hết các huyện thị trong tỉnh , nhưng tập trung hơn cả ở các vùng
thấp như thị xã Lạng Sơn, các huyện Hửu Lũng và Chi Lăng.
Địa bàn cư trú tộc dân Dao ( Mán ) là những vùng đồi núi gần nơi có nước hoặc có điều
kiện dẫn nước về bản . Trước đây hình thức canh tác của họ là du canh, du cư . Nhưng
nay họ tiếp thu nhiều nét tiến bộ, chuyễn dần sang định canh, định cư, nhưng với trang trại
quy mô nhỏ. Tộc dân Dao , cũng tộc dân láng giềng H’Mông ( Mèo ), di cư từ vùng Tây Nam
Trung Quốc ( Tứ Xuyên, Qúi Châu ) xuống Việt Nam , có lẽ từ thế kỷ thứ 13, thường sống ở
cao độ 800- 1500m., những cao độ này nhiều ở các tỉnh Hà Giang , Tuyên Quang, Cao
Bằng hơn là Lạng Sơn.
Một đặc điểm khác là từ năm 1954 cho đến nay hai tộc dân Tày và Nùng , có khi cả Dao
nữa, đã có mặt ở các vùng đồi núi Tây Nguyên, ngay cả ở đồng bằng duyên hải Miền
Trung ( Sông Lũy , sông Mao - Bình Thuận ), Cà Mau ? ( Cái Nước, Đầm Dơi ? ) .v.v…
Địa hình
Lạng Sơn là một tỉnh miền đồi núi, địa thế tương đối thấp. Độ cao trung bình tòan tỉnh là
252m so với mức nước biển. Nơi thấp nhất chỉ cao 20m, ở phía nam huyện Hửu Lũng, trên
thung lũng sông Thương. Nơi cao nhất là đỉnh Phia Mè, thuộc khối núi Mẩu Sơn, cao
1541m. Đại thể, Lạng Sơn chia ra làm 3 khu vực cơ bản. Vùng đá vôi cánh cung Bắc Sơn,
chiếm 25% diện tích tòan tỉnh ở phía Tây Nam, gồm các huyện Bắc Sơn, Bình Gia, Hửu
Lũng, Chi Lăng và Văn Quan. Độ cao trung bình là 400- 500m. Vùng đá vôi đang diễn ra
qúa trình cácxtơ hóa. Khó khăn lớn nhất là thiếu nước trên mặt cho sinh họat và nông
nghiệp, ngòai các cánh đồng ngọai vi cácxtơ rộng lớn như Chi Lăng , Mẹt ( Hửu lũng ),
Phổng, dân cư đông đúc và nông nghiệp phát triễn. Vùng đồi núi tả ngạn sông Kỳ Cùng và
dọc thung lũng sông Thương, chiếm 40% diện tích tòan tỉnh. Núi thấp và đồi, cấu tạo chủ
yếu là đá trầm tích lục nguyên, xen lẫn một ít đá magma. Phía Tây Bắc là 700- 800m ( đỉnh
Phia Ngòam cao 1175m , đỉnh Khau Khiêng cao 1107m ). Ở giữa, cao 500- 600m. Phía Nam
thuộc huyện Hửu Lũng, chỉ cao trung bình 200- 300m.Vùng máng trủng Thất Khê - Lộc
Bình và đồi núi dọc biên giới Việt Trung, nằm phía Đông Bắc tỉnh, chiếm 35% diện tích tự
nhiên. Rất nhiều địa danh nổi tiếng lịch sử Việt, ca dao cũng như cảnh quan hùng vĩ, hang
động đẹp, nhiều giá trị du lịch và nghĩ dưỡng, thuộc vùng này.
Khí hậu
Tuy Lạng Sơn nằm hòan tòan trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng nhờ cao
độ trung bình tòan tỉnh là 252m, lại chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc , nên
mang tính chất khí hậu á ( bán ) nhiệt đới. Lượng mưa 1400- 1500mm , số ngày mưa 135,
ẩm độ trung bình trên 82%. Nhiệt độ trung bình 21, 20 C , trung bình mùa đông từ 13- 17 0
C , nhưng nhiệt độ tối thấp ở vùng núi Mẩu Sơn có thể xuống dưới 50 C, có khi dưới O0 C.
Vị trí, địa hình Lạng Sơn duy trì khá lâu khối khí lạnh, giúp các cây đào lông, lê , mận tây
thỏa mãn nhu cầu lạnh các cây này ;đậu trái, tăng trưởng tốt hơn khí hậu Đà Lạt - Lâm
Đồng, nhưng vẫn chưa đủ lạnh cho cây anh đào - cerisier , cherry ra trái đẹp đẻ, ít nhất là
các giống trái anh đào hiện tại . Về mùa hạ, nhiệt độ không khí trung bình đều trên 250 C ,
nhưng vùng núi , khí hậu mát mẽ dịu hơn. Lạng Sơn ít chịu ảnh hưởng của bảo, nhưng
thời tiết tạo sương muối, sương mù và mưa phùn. Sương muối gây thiệt hại lớn cho cây
trồng và vật nuôi .
Thủy Văn
Tỉnh Lạng Sơn có 3 hệ thống sông chính : sông Kỳ Cùng thuộc hệ thống sông Tây
Giang, Quảng Tây ), sông Thương và sông Lục Nam, thuộc hệ thống sông Thái Bình .
Sông Kỳ Cùng là sông lớn nhất tỉnh Lạng Sơn và khu vực miền núi Đông Bắc. Chiều dài
trong Việt Nam là 243 km . Diện tích lưu vực là 6660km2 , phần nội tỉnh là 6532 km2 , chiếm
gần 80% diện tích tự nhiên của tỉnh. Sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa, huyện
Đình Lập cao 1166m, chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, qua các huyện Lộc Bình, Cao
Lộc, thị xã Lạng Sơn, Văn Lãng đến bản Trại huyện Tràng Định, rồi đổi sang hướng đông,
chảy vào lưu vực sông Tây Giang, Quảng Tây. Các nhánh sông lớn là Bắc Giang, Bắc Khê
và Ba Thìn. Sông Bắc Giang dài 114km, diện tích lưu vực là 2670km2 , bắt nguồn từ đèo
Gió thuộc tỉnh Bắc Cạn, chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc, đổ vào bờ tả sông Kỳ Cùng
ở xã Hùng Việt, huyện Tràng Định. Phụ lưu lớn thứ hai của sông Kỳ Cùng là sông Bắc Khê,
chỉ dài 54 km, lưu vực nhỏ 801 km2 , bắt nguồn từ xã Cao Minh, huyện Tràng Định ,chảy
gần như song song với sông Bắc Giang, rồi đổ vào bờ tả sông Kỳ Cùng ở xã Đại Đồng ,
huyện Tràng Đinh. Sông Ba Thìn dài 52 km , lưu vực 320 km2 , bắt nguồn từ vùng núi Bản
Xung, tỉnh Qủang Tây, chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, đổ vào bờ hửu sông Kỳ
Cùng ở huyện Lộc Bình.
Sông Thương là sông lớn thứ hai của Lạng Sơn, chiều dài 157km, đọan chảy qua
Lạng Sơn dài 70km, ở phần thượng và trung lưu. Sông Thương bắt nguồn từ dãy núi Na Pa
Phước, huyện Chi Lăng ở cao độ 600m, chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam rồi vào tỉnh
Bắc Giang tại xã Hòa Thắng, huyện Hửu Lũng. Sông Trung, một phụ lưu của sông
Thương, dài 65 km, lưu vực rộng 1270km2, bắt nguồn từ vùng núi Võ Nhai, tỉnh Thái
Nguyên, đổ vào hửu ngạn sông Thương tại Na Hoa, huyện Hửu Lũng. Sông Hóa, dài 47km,
diện tích lưu vực 385km2 , nhập vào tả ngạn sông Thương ở xã Hòa Lạc , huyện Hửu Lũng
.
Sông Lục Nam, ở thượng nguồn tên là Lục Ngạn, bắt nguồn từ vùng núi Kham Sau Chôm,
cao 700m, thuộc huyện Đình Lập, chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, rồi chảy vào tỉnh
Bắc Giang. Chiều dài ở tỉnh Lạng Sơn chỉ là 28km, diện tích lưu vực 642 km2. Ở phần
thượng nguồn lòng sông hẹp, uốn khúc, nhiều ghềnh tháp, độ dốc lớn .
Vài sông ngắn khác ở Lạng Sơn là sông Nà Làng, sông Phố Cũ, sông Đồng Qui.
Tổng lượng nước hàng năm các sông ước lượng 5, 9 tỉ m3 , nhưng chưa hòan tòan
khai thác tưới tiêu, cung cấp nước, điện đầy đủ cho tỉnh nhà.
Địa danh, thắng cảnh ca dao, lịch sử Lạng Sơn
Tài nguyên du lịch thiên nhiên là các khu danh thắng Nhị -Tam Thanh, Mẩu Sơn, rừng
Hửu Liên, hệ thống 92 hang động cáxtơ , chiều dài 13 560m , tập trung ở huyện Hửu Lũng (
hang Cả và hang Dơi ), Bình Gia ( hang Bắc Nguồm, hang Ông Việt ) , Bắc Sơn ( hang
Bông Hiên, Thẩm Oay, Mỏ Nghiên ) và huyện Chi Lăng ( hang Canh Tẻo, Đồng Mỏ và đặc
biệt là hang Gió mới phát hiện năm 1999 ). Rừng ngập nước trên núi cao, rộng 3500 ha có
thể là một tài nguyên du lịch sinh thái , cũng như các khu bảo tồn thiên nhiên, nhất là động
vật hiếm qúi Hửu Liên ( huyện Hủu Lũng ) và Mỏ Rẹ ( huyện Bắc Sơn như khỉ vàng, khỉ bạc
má, vượn đen , vượn vàng, cu li, sóc , gà lôi trắng , hồng hòang, gà tím, trĩ …
Thắng cảnh ca dao “ Chùa Tam Thanh “ có tượng Phật trong động Tam Thanh , cách thị
xã chừng 1 km. Thật ra động Tam Thanh gồm ba động, Nhất Thanh, Nhị Thanh và Tam
Thanh. Tam Thanh nổi tiếng hơn hết ở cuối Tây phố Kỳ Lừa. Động Tam Thanh giống như
một voi phục trong đồng cỏ hòa bản rộng. Cửa vào hang động chỉ cao hơn chân núi 8m ,
bị tàn cây cao lớn che phủ tất cả ánh sáng. Trên vách cao bên phải cửa vào có khắc một
bài thơ của hòang giáp Ngô Thì Sĩ ( 1726- 1780 ) một thi sĩ, tài cao đức ( nhân cách ) trọng,
cùng thời với nhà thơ bác học Lê Qúi Đôn ( 1726- 1784 ), lúc Ngô Thì Sĩ làm đốc trấn ( tỉnh
trưởng quân sự) Lạng Sơn, ca tụng vẻ đẹp hùng vĩ của đồi núi này, đặc biệt là tiếng nước
róc rách êm dịu trên đá. Gần đó là hòn Vọng Phu, Tô Thị ( ? ) chờ chồng . Chính Ngô Thì Sĩ
đã khám phá ra động Nhị Thanh, tên ông đặt ra để nhớ đến sinh quán làng Tả Thanh Oai,
huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Ông còn cho khắc hình ông trên vách đá Nhị Thanh.
Mẩu Sơn là đỉnh núi cao nhất tỉnh nhà, gió hú, mây trôi thấp lưng chừng đồi, tuồng như
trời cao ở ngay tầm tay, cảnh quan như một bức tranh thủy mạc Trung Hoa cỗ .Phía bắc
Mẩu Sơn là Ninh Minh Trung Quảng Tây , phía đông là Na Dương thành phố bụi bặm than
nâu, phía tây là thị trấn Đồng Đăng , tất cả hội nhập thành một cảnh quan lạ lùng. Mẩu
Sơn cách thị xã Lạng Sơn 30k . Đường lên núi ngoằn ngoèo như rắn uốn khúc giữa lòng
hai vực núi sâu; thỉnh thỏang vài cô gái Dao mặc áo quần cỗ truyền sặc sở, miệng cười tươi
thắm phất cờ, mong đựợc chở đi một đọan đường núi. Cách đây 70 năm, chưa có đường
này, lên Mẩu Sơn phải leo bộ hay trên lưng ngựa. Mẩu Sơn lúc đó được nguời Pháp chú ý
làm nơi nghĩ dưỡng vì không khí mát lạnh quanh năm và phía Đông Bắc là cửa ngõ sang
Tàu, Pháp thiết lập một căn cứ quân sự ở đây vào đầu thế kỹ thứ 20, để canh giữ biên
phòng . Dân địa phương thuôc tộc dân Dao ( Mán ) được di dời để quân binh Pháp cư trú.
Ai có giấy phép đặc biệt mới đượcvào căn cứ Pháp.Tuy nhiên sau đó, du khách được đón
mời thăm viếng. Tháng giêng năm 1936, bác sĩ O. Pflot, môn đệ của bác sĩ vi trùng học
danh vang thế giớiYersin, đến Mẩu Sơn tìm cây cỏ làm thuốc đông y, vài lòai đã được dân
địa phương khai thác, trồng trọt. Cũng năm đó, ông được phép thống sứ- governor miền
Bắc là Thorace cho xây cất nhiều biệt thự - villas đón du khách. Không có lò gạch quanh
vùng, Pflot dùng đá làm vật liệu xây dựng Nay còn phân biệt được các tầng lầu điêu tàn,
nền móng màu vàng bẩn rêu phủ xanh, nơi nào là nhà bếp, lò sưởi, nơi nào là các bậc
thang cấp. Trong gần 50 năm , như nàng công chúa giấc nồng ngũ say, không ai biết
đến. Năm 1987, xe mô tô cũng không được phép chạy đường lên núi. Nay thì du khách địa
phương trong vùng, rồi từ nguời Hoa Trung Quốc và Kinh miền đồng bằng V .N. viếng thăm
tấp nập, tưng bừng, khác hẳn cấm địa Mẩu Sơn thời Pháp thuộc. Hy vọng Mẩu Sơn mau
chóng trở thành một Sa Pa hay thị trấn mới ” Mang Đen “ ,huyện KomPlong , đang xây
dựng ở tỉnh Kontum . Đối chiếu Trung tâm du lịch Tháp Đức Thiên ( De Tian ), Trung Quốc
vừa thiết lập, gọi là đệ nhất Hùng Quan Nam Trung Quốc mà phân nữa là vùng thác đẹp
Bản Giốc, thuộc huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng , Trung Quốc chiếm giữ, sau cuộc xâm
lăng miền Bắc Việt Nam năm 1979, để bảo vệ chế độ Khmer Đỏ Pol Pot đánh phá các tỉnh
miền Nam Việt Nam
Trên đất tỉnh Lạng Sơn, đầu thế kỷ thứ 20, một nền văn minh cỗ, tuy còn được biết đến
ở Lào , Căm Bốt , Thái Lan , Miến Điện , Mã Lai Á và miền đông đảo Sumatra, nhưng không
đâu phong phú bằng Việt Nạm , người :Pháp đã tìm thấy hơn 150 di tích khảo cổ , cách
đây mấy chục ngàn năm, dấu tích xưa nhất con người trên đất nước ta . Nền văn hóa Hòa
Bình-Bắc Sơn trong các hang động văn hóa chứa hàng vạn di vật bằng đá cuội, ghè đẻo
thành những công cụ hình hạnh nhân , hình tròn , rìu ngắn , rìu dài , đặc biệt là ríu mài lưỡi
…
Không những phải cố tái tao khu thắng cảnh nghĩ dưỡng ( và quân sự phòng thủ ? ) Mẩu
Sơn mà phải tái thiết mở rộng các quần cư đô thị như thị xã Lạng Sơn và 14 đô thị trấn
thuộc 10 huyện, quá trình đô thị hóa còn thấp kém, lại còn bị ngọai xâm phá hoai. Đặc
biệt là các thị trấn Lạng Sơn, Đồng Đăng, Lộc Bình trong số 20 thị trấn quan trọng dọc
biên giới từ tỉnh Lạng Sơn đến tỉnh Lai Châu, tháng 2 năm 1979, Trung Quốc tràn sang tàn
phá ( theo Hà Mai Phương và Chu thu Hằng - 2000 ) , kể luôn cả mọi công nghệ ở các thị
trấn này .
Truyền thống chống xâm lăng
Vùng Ải Chi Lăng chủ yếu thuộc hai xã Chi Lăng và Quan Lang, huyện Chi Lăng, cách
Hà nội 110km , cách biên giới Việt Trung 60 km , là thung lũng ép giữa hai dãy núi, phía
Đông là núi đất Bảo Đài - Thái Họa, phía Tây là núi đá Cai Kinh vách núi dựng đứng . Có
sông Thương chảy ngang qua, có hai cửa ngõ khóa hai đầu thung lũng . Cửa phía bắc là
Qủi Môn Quan - ,Monster Gate nơi quân xâm lăng Trung Quốc tiến vào Việt Nam . Phía
Nam là của Ngõ Thề- Swearing Gate, cha ông chúng ta đã thề hy sinh chống giặc, bảo vệ
tổ quốc ngăn ngừa chúng tràn qua ải. Ải Chi Lăng cũng là một thắng cảnh hiểm địa , “
thập nhân khứ , nhất nhân hòan - mười người đi ( xâm lược ) , chỉ một người về được “. Từ
thế kỷ thứ 14, Phạm sư Mạnh đã hạ hai câu thơ đích đáng:
Lâu phong bạt mã cao hồi thủ (Trước gió, ghi cương ngựa, lên cao ngỏanh đầu nhìn lại)
Chi Lăng quan hiểm dữ thiên tề ( Chi Lăng ải hiểm tựu lên trời ). Những ngọn núi độc lập
rải dọc thung lũng , trấn ven đường đi: Hàm Qủi, Phương Hòang , Kỳ Lân , Mã Yên … Năm
981 vua Lê Đại Hành ( Lê Hoàn ) ở vùng quan ải này , đã chiến thắng quân nhà Tống, diệt
hết quân thù.
• Trận Như-Nguyệt ( sông Cầu ) :18-1 1077 đến tháng 3 - 1077
Năm 1076, Phò mã Thân Cảnh Phúc lập phòng tuyến chống 300 000 quân Tống ( 10 vạn
quân tác chiến, 20 vạn quân hổ trợ ) nhà Tống xâm lăng Việt Nam lần thứ hai. Ngày 8-1 -
1077 , quân Tống tiến vào nước ta theo hai ngã ở biên giới phía Bắc và một ngã theo
đường biển Đông Bắc, nhưng rất vất vả , nhất là trước các cửa ải Quyết Lý, Chi Lăng , vì bị
các lực lượng thổ binh ta chận đánh . Đến ngày 18 - 1, quân Tống mới đến bờ Bắc sông
Như Nguyệt ( còn có tên là sông Cầu , sông Nguyệt Đức ), đóng thành 2 cụm quân , cụm
Quách Qùy và cụm Triệu Tiết . Quân thủy của ta do Lý Kế Nguyên chỉ huy đánh tan quân
thủy nhà Tống Dương Tùng Tiên chỉ huy. Tháng 3 năm 1077 , 400 chiến thuyền của ta
bất ngờ, ngược dòng sông Như Nguyệt , tấn công cụm quân Quách Qùy từ hướng đông.
Trong khi cụm quân này đang mãi đối phó, Lý Thường Kiệt nắm đại quân, vượt sông đánh
thẳng vào tiêu diệt cụm quân Triệu Tiết. Thừa thắng, từ hướng Tây Bắc, Lý Thường Kiệt
đánh đạo quân Quách Quỳ, đóng cách đó 30 km, khiến chúng cuối cùng phải phá vây, chạy
về phía Bắc Đến Chi Lăng, bị đạo quân của Thân Cảnh Phúc chặn ở Chi Lăng. Địch bi
tiêu diệt đại quân và buộc lòng phải rút hết quân về Tàu.
• Chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông ( Cổ ) :1285 và 1285- 1288
Lần thứ nhất vào tháng giêng năm 1258 .Lúc bấy giờ chúa Mông Cổ đang tiến hành
cuộc xâm chiếm Trung Quốc. Chỉ một đạo quân khoảng 4 vạn người, gồm kỵ binh Mông
Cỗ và binh lính người Thóang Vân Nam, tướng Lương Hợp Thai ( Uryanquadai ) chỉ huy , từ
Vân Nam đánh xuống Đại Việt. Quân ta rút lui, bỏ Thăng Long nhưng quân dân không nao
núng Thái sư Trần Thủ Độ đã trả lời vua Lý Thái Tông. câu bất hủ “ đầu tôi chưa rơi xuống
đất, xin bệ hạ đừng lo “ . Ngày 29-1 1258 , vua Trần Thái Tông đem binh thuyền ngược
sông Hồng tái chiếm Thăng Long, đuổi quân địch tháo chạy về Vân Nam. Trên đường rút lui,
chúng còn bị quân các tộc miền núi tập kích, đánh tan tác .
Lần thứ hai, cuối năm1284, đạo quân Nguyên Mông do Thóat Hoan ( Togan ), con trai
vua Nguyên Hốt Tất Liệt ( Kubilai ) và A lý Hải Nha ( Ariquaya ) chỉ huy, lên đường xâm lược
Đại Việt. Cánh quân lớn nhất của Thóat Hoan đánh vào mặt Lạng Sơn . Cánh quân do Nạp
Tốc Lạt Đinh( Nasirut Din ) từ Vân Nam đánh mặt Tuyên Quang . Sau một vài trận đánh
chặn giặc ở mặt Lạng Sơn và Tuyên Quang, tháng 2 năm 1285 quân ta rút lui, bỏ trống
Thăng Long theo kế họach “ vườn không nhà trống “, kéo về mạn Thiên Trường và Trường
Yên ( Hà Nam Ninh ). Tháng 5 -1285, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn dẫn đại quân
phản công, giải phóng Thăng Long.Thóat Hoan hỏang hốt bỏ chạy, nhưng đến biên giới
Lạng Sơn, chúng lại bị quân ta chặn đánh. Đại tướng Lý Hằng đi đọan hậu , bị tên độc
ttrúng đầu gối về đến Tư Minh thì chết. Sau lần thất bại này , các đạo quân viễn chinh
Nguyên Mông lại lên đường xâm lược vào cuối năm 1287. Tháng 12 - 1287, Thóat Hoan đã
tiến sâu vào Lạng Sơn. và cuối tháng 1- 1288 mới chia quân tiến về Thăng Long. Quân ta
lại bỏ ngỏ Thăng Long lần thứ ba. Quân Nguyên vào Thăng Long ngày 2- 2- 1288. Đạo
quân Thóat Hoan chiếm đóng Thăng Long không có lương thực, lâm vào tình thế khốn
quẫn., vì thuyền lương của tướng Trương Văn Hổ đã bị Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư
nhận chìm hết ở vùng đảo Vân Đồn. Cánh quân bộ Thóat Hoan rút qua biên giới Lạng Sơn
, bị phục kích ở cửa ải Nội Bàng , bỏ con đường ra ải Khâu Cấp, vòng theo đường Đan Ba (
huyện Đình Lập ) chạy tạt ra biên giới. Nhưng ở đây chúng bị quân ta chặn đánh, tướng
giặc là A Bát Xích ( Abaci ) bị trúng tên chết . Mãi đến ngày 19- 4 - 1288 , tàn quân Thóat
Hoan mới về đến Tư Minh, Trung Quốc .
Sẽ tiếp : Chiến tranh ở tỉnh Lạng Sơn thời Pháp thuộc, mất mỏ đồng Tụ Long ; cuộc
tàn phá vùng biên giới của Đặng Tiểu Bình , mất Nam Quan - Hửu Nghị , thác Bản Giốc
… . Phát triễn kinh tế , công nghệ Lạng Sơn . Tranh chấp lảnh địa biên giới Việt Trung.
Hành lang kinh tế và vùng phát triễn kinh tế đặc biệt Lạng Sơn trong Thỏa Hiệp Hòa Nghị
giữa hai nước ?
(Xin click vao day):
Xem tiếp Lạng Sơn phần 2