Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt
(Bổ sung bài cao su V.N . viết  tháng 5 /2007 về):

                Phát triễn cao su tiểu điền

mạnh dạn hơn, tốt hơn nữa ở chương trình trồng 1 triệu cao su ở Việt Nam ,  chống
đói , giảm nghèo , hổ trợ chiến lược tăng gia bảo vệ  biên cương miền Tây nước nhà ,
trong lúc biên cương biển Đông bị đe dọa nặng nề

                                                                      G S Tôn Thất Trình

     Trồng lúa có thể chống đói , nhưng không giảm được nghèo, dù năng xuất
cũng như  xuất khẩu ngày nay  gấp đôi, gấp ba lúa gao thời Pháp thuộc.

     Trước đây vào các thập niên  1975- 90 , thiếu gao ăn  nên Việt Nam  đặt ưu  tiên tăng
gia sản xuất lúa gao với các giống Thần Nông (IR …,  nguồn gốc IRRI- Phi luật Tân )đặc biệt
ở vùng Hậu Giang  và giữa thập niên 1990, với các giống
lúa lai – hybrid rice ( đời F1 )  
nguồn gốc Hồ Nam – Trung Quốc ở đồng bằng Sông Hồng và các đồng bằng nhỏ miền Bắc
Trung Bộ .  Đã thành công , không những đủ gạo ăn, mà còn xuất khẩu  mấy năm sau này ,  
mỗi năm 3-5 triệu tấn gạo, thay vì chỉ xuất khẩu thời vàng son lúa gạo 1934-38 , trung bình
1 230 000 tấn một năm . Thế nhưng chống đói thì có ,  giảm nghèo thì chưa chắc , vì nhiều
người đã nêu lên là làm lúa  gạo hai ba mùa, dù năng xuất trung bình mỗi mùa đã cao hai
ba lần hơn truớc đây  ,  vẫn còn làm  nông dân chuyên sản xuất lúa gạo nghèo hợn xưa . Vì
chưng chánh sách trợ cấp  bảo vệ ngũ cốc ( lúa mì , lúa gạo , bắp v.v… ) , các nước tiên
tiến như Hoa Kỳ , Nhật , Hiệp Hội Âu Châu…. đã làm xáo trộn, lệch lạc thị trường “ tự do “
lúa gạo quốc tế mà
Tổ chức Thương mãi Quốc tế - WTO không giải quyết, dung hòa nổi,
tranh chấp  giữa các quốc gia tiên tiến tiếp tục trợ cấp và quốc gia chậm tiến , đòi bỏ trợ
cấp .  Ngay cả Trung Quốc , có lúc đã lợi dụng thời cơ ,  khuyến khích dân Tàu ăn mì thay  
cơm,   nhập khẩu lúa mì Mỹ trợ cấp rẽ rề , thay lúa gạo  , để có thể xuất khẩu lúa gạo sản
xuất ở miền Nam nước Tàu, bán cao giá ở thị trường quốc tế hơn lúa mì  nhiều . Mã Lai Á,
nhờ tăng gia nhiều cao su , cọ dừa- dừa dầu , dầu lữa , chế tạo chip – vi xử lý computers …
cũng  đã đưa chiến lược chỉ làm 70% tự túc lúa gao trong nước mà thôi, lợi hơn cho nông
dân và quốcgia,  dù rằng Mã Lai Á có thể áp dụng dễ dàng các kỷ thuật,  thể thức cải tiến
tăng năng xuất , tăng sản xuất lúa gạo.  
                   
     
Chương trình làm 1 triệu ha cao su thiên nhiên ở Việt Nam

     Năm 1962 ,  Cộng Hòa miền Nam  phát họa chương trình làm 200 000 ha cao su dinh
điền ở Tây Nguyên ( Cao Nguyên Trung Phần ) và miền Đông Nam Phần,  300 -500 000 ha
cao su tiểu điền- small holdings ở  miền Đông Nam Phần và 100 – 200 000 ha “đồn điền”
hay đúng hơn là
đại công ty- plantations estates tư bản Pháp,  gần phân nữa là trồng lại  
cao su  già cỗi trên 30-40 năm  và  hối thúc các đồn điền Pháp  đầu tư thêm, khai thác  đất
đai  chánh quyền thuộc địa cấp  miễn phí ( giá tương trưng 1 đồng bạc Đông Dương một ha
) đến hạn phải thu hồi , nếu như không chịu khai thác theo khế ước chuyễn nhượng.

     
 Chương trình 1 triệu ha này  hoàn toàn ngưng trệ hay gia giảm diện tích, mức sản xuất,  
vì chiến tranh khốc liệt xảy ra,  lan rộng khắp mọi miền, từ năm 1964- 65 trở đi
. Mãi  đến
năm 1984, theo ông Chủ tịch Tổng Giám đốc  
Tổng hợp Công ty Cao Su Quốc doanh Việt
Nam – General Rubbber Company ( GeRuCo),
dưới sự thúc dục của Nga Sô Viết , Bộ Nông
Nghiệp Việt Nam đề xướng một chương trình làm 1 triệu ha cao su quốc doanh, kể cả cao
su ở  các tỉnh miền Bắc khí hậu mát lạnh hơn ,  sau khi Trung Quốc đã tăng gia được dịện
tích và năng xuất cao su tập thể ở đảo Hải Nam , đạt năng xuất trung bình là 1.6 tấn mủ khô
/ha với các giống mới cao năng, chịu mát lạnh hơn . Vào khỏang 1958- 1963, miền Bắc đã
trồng được 6000 ha cao su tập thể  quốc doanh kiểu Trung Quốc này .
Thế nhưng cao su
trồng ở miền Bắc, phải 9-10 năm mới cạo mũ được và mỗi năm chỉ khai thác 8- 9 tháng ,
thay vì cạo mũ sau  6- 7 năm và  đến 11 tháng  một năm ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ
.
Năm 1985,  chương trình này chỉ đạt diện tích  180 000 ha tổng cọng.   Những năm đầu
thập niên 1990 , diện tích không gia tăng bao nhiêu cả , nhất là sau khi Nga Sô Viết sụp đổ.  
Năm 1993 , gần 10 năm sau, mới trồng được 242 500 ha cao su và  mức  sản xuất mũ khô
tòan quốc cũng chỉ bằng mức sản xuất  Miền Nam Việt Nam đã đạt được các năm 1962-63,
khỏang 96.900 tấn.
 Sau năm 1996 , khi nhận được 36 triệu đô la Mỹ tiền Ngân Hàng Thế
Giới  cho vay  phát triễn   diện tích và chế biến sơ khởi mũ, chương trình mới tiến triễn mau
lẹ hơn . Từ năm 1998 đến năm 2001, sác xuất  tăng gia diện tích cao su ở Việt Nam trung
bình là 12.3 % một năm, cao hơn sác xuất Inđônêsia  chỉ là  2.7% và Mã Lai Á chỉ có 10.9
%   vào thời gian này. Bộ Nông Nghiệp duyệt lại chương trình 1 triêu ha cao su , đặt chỉ tiêu  
phát triễn 500 000 ha  , sản xuất 700 000 tấn mủ cao sụ, vào năm 2005.  Ngân Hàng Thế
giới và Cơ quan Phát triễn Pháp, khởi sự  tài trợ làm 60 000 ha cao su ở   các  tỉnh Tây
Nguyên và  các tỉnh ven biển miền Trung.   Năm 2002 , diện tích cao su Việt Nam là 433 000
ha , 14 000 ha nhiều hơn năm 2001 , đưa Việt Nam trở lại hàng thứ tư  tính theo diện tích ,  
5.37 % tổng diện tích cao su thế giới . Tuy còn thua xa diện tích cao su Inđônêxia ( 33.4 % ),
Thái Lan ( 20.1 % )  và  Mã Lai Á ( 16 % ) .  Năng xuất trung bình chỉ là 0.76 tấn mũ khô /
ha  , vì các vườn cao su mới tháp với các
tinh dòng – clones ( trồng bằng hột mới nên gọi  là
các
giống – varieties ) cao năng , chưa đến tuổi cạo mũ được . Cho nên sản xuất mủ khô
còn thua  cả Ấn Độ , Trung Quốc nữa.  Năng xuất trung bình ở Ấn Độ. là 1.7- 1,8 tấn / ha và
ở Hải Nam là 1.6/ha  Năm 2005 , Việt Nam đã trồng được 465 000 ha cao su , xuất khẩu 509
800 tấn cao su đủ lọai . Theo bà Trần thị Thúy Hoa, tổng thư ký Hội Cao su Việt Nam,  năm
2006,  Việt Nam trồng được chừng 485 000 ha và  xuất khẩu 510 000 tấn , tăng 44 % so với
năm 2004 ; 60 % xuất khẩu là do tổ hợp quốc doanh GeRuCo . Trung Quốc chiếm 66 %
xuất khẩu cao su Việt Nam , các nước khác là Nam Hàn , Nhật , Đức và Hoa Kỳ .  Trị giá xuất
khẩu cao su năm 2006  tổng cọng lên đến 1.34 tỉ đô la Mỹ . GeRuCo ước luợng Việt Nam sẽ
trồng ,  năm 2010,  khỏang  550 000 ha cao  su , sản xuất 700 000 tấn, kể cả diện tích khai
thác đầu tư cao su ở Nam Lào và ở Cam Bốt. . Tuy mức sản xuất đã tăng gấp 4 lần so với  
thập niên 1980, nhưng  còn thua xa Inđônêxia , đã sản xuất 1.93 triệu tấn năm 2005 .
GeRuCo cho biết là tổ hợp không còn đất để trồng thêm cao su ở Việt Nam kể từ năm 2005  
và diện tích phát triễn cao su ở các tỉnh ven biển miền Trung  chỉ đến 30 000 ha là cùng.
Diện tích cao su ở Tây nguyên khó tranh dành cà phê Robusta  
Tăng thêm diện tích đến
năm 2010- 2015,   là nhờ tăng gia kể từ năm 2006, diện tích các công tư nhân không thuộc
GeRuCo và các tiểu điền cao su tại các tỉnh miền Đông Nam Phần ( Bình Dương , Bình
Phước , Tây Ninh ) , ước lượng  thêm 13 000 - 20 000 ha một năm
.  Các tỉnh miền Đông
Nam bộ còn lợi thế là có thể đạt năng xuất cao trung bình là 1.6-1.8 tấn / ha, tuy rằng cần
có hổ trợ để tháp ( ghép ) tinh dòng cao năng trên phân nữa số diện tích đã trồng hột sa cạ
hay chỉ tháp các tinh dòng xưa cũ , năng xuất thấp.

    
 Giảm nghèo bằng tiểu điền cao su ?    
  
      Sau thời kỳ ‘ đổi mới “ Việt Nam chấp thuận cho thuê đất trong 50 năm ( ? ),  nông dân
khỏi bắt buộc gia nhập tập thể , “ hợp tác xã ”,  có quyền khai thác, thu hoa lợi trên đất đai
mình khai thác … .
Năm 1999, theo thống kê, tiểu điền cao su   đã trồng được 107 468 ha,
chia ra 84 000 ha ở miền Đông Nam Bộ, 5158 ha  ở Tây Nguyên , 14 048 ha ở các tỉnh miền
Bắc , và 450 ha ở các tỉnh ven biển miền Trung , trên tống số diện tích cao su tòan quốc
năm đó là 394 000 ha . Các công ty quốc doanh chiếm 287 743 ha.  Năm 2003 , tổng diện
tích là 440 000 ha
.   Như đã nói trên, diện tích các công ty quốc doanh hầu như dậm chân
tại chỗ , chỉ là 285382  ha , trong khi tiểu điền cao su tăng mạnh đến 155  000  ha.
Mạnh
nhất vẫn là ở miền Đông Nam Bộ 104 491 ha, Tây Nguyên 20 422  ha  và các tỉnh miền Bắc
23 080 ha . Các tỉnh ven biển miền Trung chỉ trồng được 740 ha. Diện tích tiểu điền tiếp tục
tăng mạnh , năm 2004 đã lên đến 169 000 ha , trong khi diện tích cao su công ty quốc
doanh có phần gia giảm đôi chút,  284 995 ha.

      Theo GeRuCo , kích thước trung bình các tiểu điền miền Đông Nam Bộ là 2. 97 ha , Tây
Nguyên là 3.21 ha.,  miền Bắc là 1.47 ha và miền Trung là 1.43 ha  . Nếu đạt mức trung bình
là 1.2 – 1.3 t /ha , trung bình một tiểu điền 3ha sẽ sản xuất 3.6 – 4 tấn mủ khô . Nếu giá mủ
khô giữ được mức 1500 đô la Mỹ / tấn như các chuyên viên quốc tế tiên đóan vào các năm
tới ,lợi tức mỗi gia đình tiểu điền cao su  sẽ là 5400 – 6000  đô la Mỹ một năm , 3-5 lần lợi
tức trung bình một tiểu điền lúa gao trồng 2 mùa lúa cao năng năng xuất 5 t/ ha một mùa
vụ,  ở đồng bằng châu thổ sông Cửu Long . Đặc biệt hai năm 2006-2007 ,giá  cao su thiên
nhiên tăng mạnh ở thương trường quốc tế,  chẳng hạn trung bình trên 2600 đô la / tấn  cao
su sơ chế Việt Nam ( SVR 3L , SVR10 , SVR 20 , RSS3, latex cô đặc 60 % … )  , năm 2006
đã kể trên .

     Báo chí trong nước đã nêu cao trường hợp các “ tỉ phú “ con cháu  phu cạo mủ mộ từ
miền Bắc thời Pháp thuộc ,  làm việc 10 giờ một ngày, bị sốt rét rừng hành hạ ở các đồn
điền công ty Pháp  mới thành lập tại  Tây Ninh ,Đồng Nai , Bình Duơng ,  Bình Phuớc . Nay
con cháu   phu vô sản  , chỉ còn phải làm việc vài giờ một ngày và mỗi tuần vài ngày là đủ
cơ hội trở thành tỉ phú , xây nhà gạch giá 600 – 700 triệu khang trang đầy đủ tiện nghi mới
như ti vi LCD , tủ lạnh, cho con học đại học Sài Gòn  ! Đánh bật hẳn quan niệm là “
con phu
thì lại làm phu , con thợ cạo mủ thì như cha mình
“ . Trường hợp tỉ phú Ê Đê “Y Hom Nia” ,  
ký khế ước trả dần tiền vay làm 85 ha cao su ( cho cả đại gia đinh ông ta ) ở quận Krong
Buk ,  bằng 70 % mủ cạo ,sau khi cây lớn đủ ,  với Công ty Cao su Quốc doanh Đặc Lắc ,  
là một hình thức phát triễn tiểu điền cao su thích hợp cho Tây Nguyên, đáng phổ cập thêm .  
Nhân công chiếm 45 – 50 % tổng phí   khai thác một  vuờn cao su ở  công ty quốc doanh .  
Nhưng phân nữa tổng phí ngòai mục nhân công,  cũng có thể giảm bớt,. phụ thêm hoa lợi
cho các tiểu điền  cao su, nếu chánh phủ có một chương trình giúp đở  các tiểu điền như
Mã lai Á , Thái Lan ,  Ấn Độ , Inđônexia v.v… đã làm từ lâu . Tỉ như thiết lập các vườn gổ
tháp ( tốt nhất là tháp gỗ xanh , ở các thân gốc  hột gieo trong bao nhựa dẻo )  tinh dòng
cao năng mới phân phát không  cho các tiểu điền ; huấn luyện họ những kỷ thuật  mở
miệng cạo ,  chu trình, cường độ cạo mủ thích hợp theo tinh dòng ,  khí hậu địa phuơng ; tài
trợ họ mở rộng hạ tầng cơ sở chuyên chở mũ từ vườn đến nhà máy sơ chế;  tài trợ việc
trồng lại   vườn cao su đã  già trên 30 -35 năm ( cao su có đỉnh cho mủ từ 12 đến 15 năm
và  già cổi ít mủ , bắt đầu sau 30 năm  trồng ),  tháp tinh dòng  cao năng mới (tuy rằng các
tinh dòng  cũ như PR107, PB86 hay GT1…cũng còn khá cao năng ) hay  các tinh dòng cao
năng hai mục đích ,  sản xuất  cả mũ lẫn sản  gỗ tốt, đốn sau 30 năm, trị giá gỗ  có khi đến
`15 – 20 000 đô la một ha  ( 150 – 200 mét khối gỗ ) v. v…Phổ biến các tinh dòng hai mục
đích, còn có lợi là giúp chuyễn 5 triệu ha đất rừng hoang hóa chỉ trồng làm gỗ hay làm bột
giấy, vì cao su còn tuyễn chọn được nhiều tinh dòng làm bột giấy tốt, qua cao su, mau thu
lợi tức  cho tiểu điền hơn là chuyên biệt trồng lại rừng chỉ sản xuất gỗ. Trồng xen kẻ được
với nhiều lòai   hoa màu khác giữa các hàng cao su còn nhỏ tuổi , tỉ như bắp ( ngô) , đậu ,
nhất là sắn ( khoai mì ), hay các cây ăn trái thích hợp như đu đủ , chuối xiêm ( cau quảng ,
cau trắng… )  và cả nhiều lọai rau hoa nữa (  dưa hấu ở những nơi nào tưới nước được
như tại các vườn cà phê Robusta  … ) càng giúp cho tiểu điền có hoa lợi hàng năm chờ đợi  
cạo mũ .
   Ngòai chương trình tiểu điền, đa lọại các thể thức công ty cao su tư doanh, nên hướng
các công ty tư doanh đầu tư  thiết lập các thể thức cho vay khóan khế ước như kiểu công ty
Đắc Lắc kể trên ,  khuyến khích các công ty này  xây cất  nhà  máy  tân tiến ( và không làm
ô nhiễm môi sinh, như đã thực hiện ở  bang Kerala , Ấn Độ… ) chế  biến mủ cạo thành
những sản phẩm sơ khởi xuất khẩu tốt hơn , gía thành rẽ hơn , như đã phân công ở ngành
chế biến sơ khởi
hôt điều ( đào lôn hột ) – cashew .

     
Chung sức với Căm bốt và Lào phát triễn cao su ở hai  xứ  lân bang biên cương
nước nhà .

     Quốc doanh GeRuCo không còn đất cấp tập thể khai thác cao su nữa . Nhưng GeRuCo
, các công ty quốc doanh chị em liên hệ GeRuCo ( 22 công ty ?  ) có thể dùng lợi tức phát
sinh khi giá cao su lên cao , phát triễn cao su ở hai quốc gia bạn Căm bốt và Lào . Phát
triễn cao su ở Căm bốt thời Pháp thuộc theo hình thức các đồn điền tư bản Pháp ( công ty
Đất đỏ , công ty SIPH, Michelin  ở các tỉnh miền Đông ) , với các công ty Pháp xa lạ với dân
Căm Bốt-  Công ty Căm Bốt khởi sự trồng cao su năm 1921 , Công ty  Société de Mimot
năm 1926 ,  Camékong , SCKT , SPK năm 1927. Năm 1967 đạt đỉnh diện tích trên 64 000
ha , khai thác trên 39 000 ha và sản xuất 53 700 tấn mủ khô . Đa số diện tích này  là các đất
đỏ basalt rộng thênh thang,   dọc hai bờ sông Mê Kông,   thuộc hai tỉnh Kong Pong Cham
và Kratié. Miền Đông Bắc , trên đất cao nguyên đất đỏ basalt đồi núi  tỉnh Ratanari vào năm
đó,  công ty quốc doanh Préah Sihanouk  Labansiek chỉ mới khởi sự trồng 2400 ha cao su,
chưa cạo mủ được .Vài đồn diền khác, diện tích cao su eo hẹp , khỏang chừng 777 ha    
thiết lập ở miền Tây như  Préah- Vihear , hay ở các tỉnh Kampot , Kong Pong Thom . Năm
1966,  Pháp ước lượng  còn đến 337 680 ha có thể trồng cao su tốt ; riêng đất đỏ basalt
tỉnh Ratanakari  diện tích chưa khai thác là 140 000 ha . Tuy Pháp không ghi rỏ ,  các đồn
điền củ của tư bản Pháp như Chup , Mimot v.v…  đã dùng nhiều nhân viên , nhân công cao
mủ nguồn gốc  Việt Nam .  Công ty Cao su Michelin ước lượng là đã mộ 200 000 phu cao su
Việt, mở mang khai thác các đồn điền cao su công ty  từ 1921 đến 1945 .

.           Trong khuôn khổ thực thi  thỏa hiệp  Phát triễn Tam gíác Biên cuơng 3 nước Căm
Bốt , Lào và Việt Nam , gồm phát triễn các đập thủy điện trên sông Sesan thụộc Cam Bốt và
đập lớn Stung Treng, phát triễn  cao su , phát triễn đường xá , huấn luyện chuyên viên Lào
và Căm Bốt ở đại học Tây Nguyên… , được Nhật , Ngân Hàng Quốc tế và Ngân Hàng Á
Châu … hứa hẹn tài trợ,   5 công ty của Nhóm Cao Su Việt Nam ( Việt  Nam Rubber Group
)  ở miền Đông Nam Bộ đã  được chánh phủ  Căm Bốt cấp 22 000 ha phát triễn cao su và
đã trồng được 4000 ha cao su , cuối năm 2007 . Các công ty này dự trù tăng tốc thiết lập  
vườn cao su , dù cho Cam bốt rất thiếu nhân công  lành nghề cao su , thiếu thiết bị , thêm  
nhiều khó khăn về thể thức tài trợ , đầu tư ngọai quốc.  Riêng hai công ty Phú Riềng và Tân
Bình  đã trồng được năm 2007 , 270 ha cao su trên đất chánh phủ Căm Bốt cấp nhượng ,  
đem lại cho nông dân địa phương nhiều lợi tức chống đói , giảm nghèo .
Công ty Tây Ninh
Rubber Company – Tayninruco
cũng bắt đầu khai phá trồng 10 000 ha cao su .    Tổng
công ty GeRuCo, năm 2007 đã có lợi tức 562 triệu đô la và lời 250 triệu đô la , đủ sức tự
đầu tư, dự trù phát triễn 100 000 ha cao su ở Cam Bốt vùng dân Thượng Căm Bốt Khmer
Loeu , tỉnh Ratanari , biên giới Kontum và Gia Lai - Pleiku .   

       May mắn là chương trình trồng cây và cao su tập thể ở Dak Dam , tỉnh  Mondulkiri  do
công ty Trung Quốc Wuzhishan , được Cam Bốt cấp giấy phép cho khai thác 199 999 ha
vào tháng 8/ 2004,  trồng 20 000ha
bạch đàn – eucalyptus , giá tị,  trà, cao su … bị dân
chúng địa phương mất đất không bồi thường phản đối mạnh mẽ , tương đương với những
phản đối xảy ra khi Thái Lan phát triễn cao su , phía hửu ngạn hạ lưu Mê kông , thuộcThái
Lan. Vì Công ty Wuxhishan  không có những khế ước thể thức tiểu điền cho dân địa
phương .

     Về phía Lào Quốc, Thái Lan  đã tranh tiên phát triễn cao su miền Trung Lào , và Trung
Quốc ở các tỉnh Bắc Lào như các tỉnh Phong Sa Ly , Oudomsay , Luang Nam Tha .v.v…
Việt Nam đã khôn ngoan phát triễn cao su ở  các tỉnh miền Nam như Kham Moun ,
Savannakhet , Saravan( Salawan ) , Sekong, Champassak và Attapeu. Chẳng hạn, từ tháng
7 /2007 , nhóm Cao su Việt nam đã đầu tư 30 triệu đô la Mỹ , dự trù khai thác 10 000 ha
cao su ở tỉnh Champassak . Công ty Dac Lac Company cũng đầu tư  22 triệu đô la Mỹ,  
trồng 10 000 ha   cao su ở Attapeu , Champassak , Sekong   . Công ty Quasa Geruco   dự
trù trồng từ năm 2007 đến 2010 , 4900 ha cao su ở tỉnh Savanakhet , ở gần các thị trấn
Sephon , Mương Phin . Chánh phủ Lào đã cấp giấp phép cho  Quang Minh Công ty   đầu tư
14 triệu đô la , trồng  3000 ha ở tỉnh Attapeu .  Công ty Việt Nam Rubber  Joint Stock
Company  ( tuy 100 % là tư bản Việt ) cũng đã trồng được  8000 ha, năm 2007 , dự trù tăng
đến 10 000 ha năm 2008 .  

     Các công ty Việt Nam có lợi thế hơn là các công ty Trung Quốc vì áp dụng kỷ thuật khai
thác miền Đông Nam Bô và Tây Nguyên, khí hậu và nhân công thích nghi cho địa phương
hơn  , mau thu họach hơn, cao năng hơn  cao su Hải Nam , Quảng Tây , Vân Nam . Ngoài
ra các vùng này còn phát triễn được ca cao , hột điều, cà phê, cây ăn trái xứ nóng , chịu
đựng khí hậu mát mẽ vùng cao… khí hậu Trung Quốc không làm được  .  Căm Bốt  ( và Lào
) theo lá thư cuối cùng  G S Hòang Xuân Hãn gửi cho tướng Võ Nguyên Giáp là lổ hổng phát
triễn chiến lược ,Việt Nam không thể lơ là phòng vệ bằng mọi cách,  để  cho Trung Quốc  và
Thái Lan ( theo chánh sách cố hửu “Đại Thái “ ) mặc sức tung hòanh , bành trướng ,  mà
không nguy cơ mất đất , mất nước .
                      ( Ca Li , giữa tháng giêng năm 2008 )