Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt
TRỐNG ĐỒNG ĐẠI TỘC ĐÔNG SƠN LÀ TRỐNG NÒNG NỌC
(2 - tiếp theo)
                                                 
                                                         
(Bài nói chuyện trong buổi ra mắt sách Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông
Nam Á ngày 13 tháng 7 năm 2008 tại Little Saigon, Orange County, California, Hoa Kỳ).

                                          Nguyễn Xuân Quang



B. Chữ móc câu  

Trên trống Nam Ngãi II có một vành hình người thể điệu hóa (stylized) thành người chim hình
móc câu và có những vật hình thoi trong có những hình móc câu. Các nhà khảo cổ học ở
Việt Nam hiện nay gọi những hình thoi này là những
“vật hình trâm” tức là những vật nhọn
như cây trâm cài tóc của phái nữ.


                                      




                 
Trống Nam Ngãi II có vành hình người thể điệu hóa thành người chim hình móc
câu và có những“vật hình trâm” hình thoi trong có những hình móc câu.

Hiện nay không ai hiểu người thể điệu hóa thành hình chim móc câu và “vật hình trâm” hình
thoi này có nghĩa là gì? Hình móc câu này chính là một chữ nòng nọc. Giải đọc được chữ
nòng nọc móc câu này là ta biết được người chim móc câu này, “vật hình trâm” hình thoi này
có nghĩa là gì và ta suy ra trống Nam Ngãi II là trống gì?  

Xin quí vị hãy theo tôi giải đọc chữ móc câu này. Khác với chữ nòng thuần âm ba vòng tròn
đồng tâm ở trên, chữ móc câu này có phần thân hình nọc, là chữ nọc nên có mang một yếu
tố dương. Phần cong mang âm tính. Vì chữ nòng nọc này có nòng, có nọc, có âm, có dương
ta phải đọc theo âm (duy âm), theo dương (duy dương) và theo âm dương nhất thể (âm
dương còn quyện vào nhau chưa tách ra làm hai cực âm và dương riêng rẽ) (Oneness,
Totality, Unity, Two in One).
Có hai cách đọc:
-Đọc theo hai chữ riêng rẽ nòng O và nọc I:
Trường hợp này chữ móc câu coi như có hai phần là hai chữ riêng rẽ: phần thân thẳng là
chữ nọc (I) và phần cong hình móc là chữ nòng O mở ra.
-Đọc theo một chữ duy nhất nòng-nọc nhất thể.
Bây giờ chúng ta hãy  

1. - Đọc theo hai chữ riêng rẽ nòng O và nọc I:

O mở ra là dạng nòng O mang dương tính. O mở ra hoặc do chuyển động mở ra, chuyển
động là dương (tĩnh là âm) hoặc do hiệp (accord) với nọc dương nó đi theo (chữ viết nòng
nọc cũng hiệp theo tính âm dương giống như Pháp ngữ hiệp theo giống đực giống cái).

a. Đọc theo duy âm (phần cong âm đọc trước: ta có
nòng O dương tức nước dương, Mặt
Trời Nước, nước chuyển động: mưa, sóng, biển…

Ta hãy lần lượt đi từ cổ chí kim xem hình móc câu có nghĩa là gì?.

.Hình móc câu khắc, vẽ trên đá (petroglyph)

Trước hết ta hãy trở về thời xa xưa xem những hình móc câu này khắc, vẽ trên đá có nghĩa
là gì?

Thổ dân Mỹ châu có biểu tượng sấm như sau:




         
Biểu tượng sấm của thổ dân Mỹ châu.

Biểu tượng sấm này có chữ viết nòng nọc móc câu ở bên trái có nghĩa là nước dương, nước
chuyển động tức mưa; hình bên phải có
nét ngang bằng ở trên cùng biểu tượng cho bầu
trời, Cõi Trên và
tia chớp hình chữ S gẫy phát xuất từ bầu trời nét ngang. Chữ S gẫy ba khúc
hình chữ “chi” “zigzag” do ba nọc (III) tạo thành tức quẻ Càn, lửa vũ trụ, lửa trời có một khuôn
mặt là chớp. Ngày nay hình chữ S gẫy này dùng làm dấu hiệu cho tia chớp, điện cao thế
(high voltage). Mưa-chớp là sấm. Ta cũng thấy rất rõ khi phân tích hình ngữ bên phải “chớp
từ trời” ta có hai nọc mũi mác (>) là hai dùi làm ra lửa liên hệ với chớp.

.Dấu tích chữ móc câu trong các hình ngữ.

Kế đến ta tìm dấu tích chữ móc câu này trong các nền văn hóa cổ có chữ viết hãy còn là
hình ngữ.

.Linh tự N của Ai Cập cổ

Ai Cập cổ có hai linh tự diễn ta mẫu tự N. Một chữ diễn tả bằng hình sóng nước.


                            





Mẫu tự N diễn tả bằng hình sóng nước.        

Ta thấy N liên hệ với nước. Điều này thấy rõ trong Việt ngữ, ta có gốc
na- là nước như
(ruộng nước),
(âm cổ của là nước ngọt, nước lã), nác (nước), mẹ như áng ná
cha mẹ, nạmẹ như có nạ là mạ thiên hạ (tục ngữ) (mẹ, thuộc dòng âm, nước)… Người cổ
Việt có thể đã phát âm N là /na/ là nước (Tiếng Việt Huyền Diệu).
Chữ N thứ hai diễn tả bằng vương miện đỏ (red crown) trên có chữ viết nòng nọc móc câu.

                 
                                    



      
Mẫu tự N diễn tả bằng vương miện đỏ.

So sánh hai chữ N này ta thấy hiển nhiên chữ viết nòng nọc móc câu có một nghĩa là nước.
Ở đây vương miện có chóp hình nọc mũi mác (răng sói, răng cưa) mang dương tính. Mầu đỏ
của vương miện cũng là mầu nọc, mầu dương. Như thế vương miện cho thấy chữ nòng nọc
móc câu rõ ràng là mang ý nghĩa nước dương, nước chuyển động. Chữ N này là chữ N
mang dương tính (thái dương của nước dương) trong khi chữ N hình sóng nước mang âm
tính (thái dương của nước âm vì sóng là nước chuyển động và nhọn đầu là dương, thái
dương). Qua hai linh tự N này ta thấy mẫu tự cũng có âm dương. Vậy thì tiếng nói, ngôn ngữ
cũng mang tính âm dương. Tiếng Việt cũng có âm dương (Tiếng Việt Huyền Diệu).  
Như đã biết ở trên Ai Cập cổ thuộc dòng mặt trời âm nòng Khôn. Khôn dương là thiếu âm khí
gió và Khôn âm là nước. Triều vua có vương miện trắng hình túi thuộc ngành Khôn dương,
khí gió, không gian. Vương miện này có chỏm hình nọc dương nhưng đầu tròn (không nhọn)
là nọc mang âm tính diễn tả thái dương của âm và màu trắng cũng là mầu âm, mầu khí gió
(trong suốt). Triều vua có vương miện trắng này thuộc ngành Khôn dương thái dương, Mặt
Trời Gió thái dương.

                          






Trong khi triều vua có vương miện đỏ hình thác nước thuộc ngành Khôn âm, nước. Vương
miện đỏ có góc cạnh mang dương tính. Vương miện này có chỏm hình nọc mũi mác nhọn
mang dương tính diễn tả thái dương của dương và màu đỏ là mầu dương, lửa, thái dương.
Triều vua có vương miện đỏ này thuộc ngành nước dương, nước lửa, nước thái dương, Mặt
Trời Nước thái dương, một khuôn mặt tương ứng với Lạc Long Quân. Hiển nhiên ta thấy chữ
viết nòng nọc móc câu trên vương miện đỏ là nước mang dương tính, nước thái dương.

.Chữ vân (mây) trên giáp cốt thời Trung Hoa cổ

Nguồn gốc của Hán tự yún (vân, mây) thấy qua triện văn, cổ văn, kim văn (chữ viết trên đồ
đồng còn gọi là chung đỉnh văn) và xa xưa nhất là trong giáp cốt văn đều có chữ viết nòng
nọc móc câu hay dạng biến thể của chữ này.










Nguồn gốc của Hán tự yún, vân, mây (Wang Hongyuan, The Origins of Chinese Characters,
Sinolingua Beijing, 2004).

Chữ viết nòng nọc móc câu đẻ ra chữ
yún, mây, tiền thân của mưa.

. Mũi hình móc câu của Thần Mưa Chac Maya

Hãy trở lại với cái mũi hình cong như móc câu rất kỳ dị của thần Mưa Chac của Maya. Bây
giờ thì ta đã hiểu rõ tại sao. Mũi thần Chac chính là chữ nòng nọc móc câu có một nghĩa là
mưa. Mũi chính là
tên của Thần Mưa Chac. Ở đây ta thấy rõ là cả thế giới hiện nay và ngay
cả người Maya không ai hiểu tại sao thần Chac có mũi kỳ dị như thế. Chữ viết nòng nọc đã
giúp giải nghĩa được những điều bí ẩn trong các nền văn hóa cổ của nhân loại. Chữ viết
nòng nọc do tôi khám phá ra sẽ mở ra một chân trời mới trong việc nghiên cứu các nền văn
hóa cổ của nhân loại. Mũi móc câu của Thần Mưa Chac cũng khẳng định là chữ nòng ba
vòng tròn trên mũi của Thần Chac cũng có cùng một nghĩa là mưa, nước. Ta có từ ghép
mưa móc (ơn mưa móc) với móc có nghĩa là sương, một hình thức liên hệ với mưa bụi. Theo
qui luật từ ghép ta có
mưa = móc. Điểm lý thú là chữ viết nòng nọc móc (câu) = mưa. Một
điểm cũng cần nói thêm cho đủ ở đây là Dịch thường được suy diễn ra đem dùng vào tướng
số. Ta thấy Thần Mưa Chac có mũi móc câu, nhe răng nanh trông thật dữ tợn, độc ác, tà ma
bởi vì mưa, sấm thuộc phía âm nên có một khuôn mặt âm nhiều khi thái quá, “âm u” quá trở
thành mưa gió, bão tố, thiên tai. Cái mũi móc câu của Thần Mưa Chac có một khuôn mặt tà
ma. Nên suy diễn ra, cho rằng xem tướng mũi biết được tính tình, lòng dạ con người. Các mụ
phù thủy gian ác của Tây phương thường có mũi khoằm như móc câu. Các bà các cô ngày
nay nhiều người đi sửa mũi lại cho ngay thẳng để khỏi bị chê là không… thẳng thắn (!).
          
.Hình bóng chữ viết nòng nọc móc câu trong các tôn giáo
                  
Tiếp đến ta tìm hình bóng chữ viết nòng nọc móc câu trong các tôn giáo:

-/Vũ Trụ giáo của người Dayak, Borneo, Nam Dương
Người Ngaju, có cây dù
payong biểu tượng cho Cây Đời, Cây Tam thế, Cây Vũ Trụ.










Dù payong biểu tượng Cây Tam Thế của người Dayak.

Dù (ô) có ba tầng lá biểu tượng cho Cây Tam Thế. Vòm nóc dù biểu tượng cho vòm không
gian, vũ trụ, vòm trời ứng với Cõi Trên, Không Gian, Thượng Thế. Chỏm dù đầu mũi lao
nhọn mang hình bóng Núi Trụ Thế Gian ứng với Cõi Đất, Trung Thế. Đuôi dù uốn cong hình
chữ móc câu có nghĩa là nước ứng với Cõi Nước, Hạ Thế hay Âm Thế. Thân dù biểu tượng
cho Trục Thế Giới thông thương Tam Thế, Ba Cõi. Nếu lật ngược cây dù lên, đuôi móc câu
cây dù trở thành hình chiếc mũi của vị Thần Mưa Chac của Maya mang nghĩa nước ở Cõi
Trên tức Mưa.

-/Ấn giáo

Trong Ấn giáo dấu tích của chữ viết nòng nọc móc câu có nghĩa là nước cũng còn thấy ở
hình tượng thần Ganesha. Thần Ganesha có bốn tay cầm bốn biểu tượng ứng với Tứ
Tượng là Lửa, Gió, Đất và Nước của Vũ Trụ tạo sinh.  



                                        



    

                       
Tượng Thần Ganesha của Ấn Giáo.

Tay phải phía trước cầm nọc nhọn như ngà voi biểu tượng cho Tượng Lửa dương, tay trái
phía trước cầm cái túi tròn biểu tượng cho Tượng Gió dương, tay trái phía sau cầm rìu lưỡi
ngang biểu tượng cho Tượng Đất dương và tay phải phái sau cầm chùy hình lá sen trên có
phụ đề những hình
móc câu biểu tượng cho Tượng Nước dương. Ảnh hưởng của Vũ Trụ
giáo trong Ấn giáo rất sâu đậm (ví dụ như thờ nọc nòng, nõ nường, linga-yoni). Ở đây Thần
Ganesha tay cầm bốn biểu tượng của Tứ Tượng mang nghĩa sinh tạo của Vũ Trụ giáo mà
ngày nay trong Ấn giáo hiểu sinh tạo theo nghĩa duy tục là may mắn, Thần Ganesha được
cho là vị thần may mắn (sinh tạo, sinh sản, sản xuất nhiều là may mắn, Việt ngữ
mắn là đẻ
nhiều như
mắn con, ngày xưa đẻ nhiều là may, là hên, qua từ ghép may mắn ta có may =
mắn).

.
Chữ viết nòng nọc móc câu trong xã hội ngày nay

Ngày nay hình móc câu cũng biểu tượng cho sóng (nước chuyển động, nước dương).






                  
        
 Sóng diễn tả bằng hình móc câu.

b. Đọc theo duy dương

Phần nọc thẳng đọc trước: ta có
nọc-nòng lửa-nước hay chớp-mưa tức sấm. Chữ viết nòng
nọc móc câu có một nghĩa liên hệ với sấm và thấy trong các biểu tượng của sấm. Thường
thường Thần Mưa và Thần Sấm là một. Điều này thấy rõ là Lạc Long Quân là Thần Biển
cũng có một khuôn mặt là Thần Mưa, Thần Sấm Mưa, ứng với quẻ Chấn. Chấn có một
khuôn mặt là sấm. Áp dụng qui luật từ ghép vào từ ghép
chấn động ta có chấn = động (động
là sấm). Lạc Long Quân sấm mưa có hậu thân là ông Sấm Dông Phù Đổng thiên vương. Lạc
Long Quân Thần Biển có khuôn mặt Mưa, Sấm Mưa, ban ngày nước biển bốc hơi, ban đêm
hơi nước gặp lạnh tụ lại thành mây. Mây bay về núi tạo thành mưa.
“Nước đi ra biển lại bay
về
nguồn” (Tản Đà). Lửa chớp trong mưa tạo thành sấm. Một số nhà làm văn hóa Việt “bi
quan” cho rằng thân phận người Việt Nam có định mạng là chia ly, phân tán, dân Việt chia rẽ
vì Cha Tổ Lạc Long Quân và Mẹ Tổ Âu Cơ đã chia tay nhau, đã ly thân, ly dị nhau, mỗi
người đi một ngả, Mẹ lên núi, Cha xuống biển. Những tác giả “yếm thế” này đều “tán phét”.
Làm gì có chuyện phân ly, chia rẽ (người Việt thuần túy, chính chuyên con Rồng Lạc Long
Quân cháu Tiên Âu Cơ không chia rẽ ngoại trừ Việt gian). Đêm đêm Cha Biển Lạc Long
Quân biến thành mây bay về nhà ở đầu non “mây mưa”, ân ái với Âu Cơ. Vì thế mà truyền
thuyết mới nói là Thần Sấm có nhà ở đầu non. Làm gì có chuyện Cha Mẹ Tổ của chúng ta ly
thân, ly dị.
Thần Mưa Chac của Maya cũng như Lạc Long Quân có một khuôn mặt sấm mưa. Theo duy
dương mũi móc câu của Thần Mưa Chac liên hệ với sấm mưa. Theo biến âm kiểu
chắc
chắn
, ta có Chac = Chấn (sấm). Vậy Thần Mưa Chac có một khuôn mặt liên hệ với sấm mưa
vì vậy mà mặt mày mới dữ chằng như ông thiên lôi.         
Vì thế mà chữ viết nòng nọc móc câu cũng thấy trong nhiều biểu tượng của sấm, ví dụ như
biểu tượng sấm của thổ dân Mỹ châu ở trên và Thổ dân Mỹ châu cũng có con chim biểu nổi
tiếng là chim sấm sét hay lôi điểu (thunderbird).


                          






Chim sấm sét lôi điểu của thổ dân Mỹ châu.

Sau cổ chim có hình móc câu có nghĩa là nước chuyển động, mưa. Mỗi cánh có ba nọc que
(III) là quẻ Càn, lửa vũ trụ hay chớp. Mưa-chớp là sấm. Thân chim cũng có hình móc câu
mưa, đuôi có ba nọc que (III) Càn, lửa vũ trụ hay chớp, gộp lại mưa-chớp cũng là sấm. Con
chim sấm sét này có những chữ viết nòng nọc diễn tả sấm mưa.

Tóm lại đọc theo hai chữ nòng và nọc riêng rẽ chữ viết nòng nọc móc câu có nghĩa là nước
dương, nước chuyển động như mưa, sóng, biển, liên hệ với sấm mưa…

2. Đọc theo một chữ duy nhất nòng-nọc

Đọc theo cách này, âm dương còn ở dạng nhất thể (âm dương còn quyện vào nhau chưa
tách ra làm hai cực âm và dương riêng rẽ), có một nghĩa là sinh tạo, tạo hóa.

.Mũi Phật nhất thể hình móc câu.

Mặt Phật trên tháp Bouddanath, Kathmandu, Nepal có mũi hình móc câu. Theo Phật giáo
Nepal mũi Phật hình móc câu có nghĩa là chúng sinh, vạn vật đều ở dưới dạng nhất thể.
              

          






Mặt Phật có mũi hình móc câu trên tháp Bouddanath, Kathmandu, Nepal (ảnh của tác giả).

Quan niệm nhất thể này Phật giáo lấy từ Vũ Trụ giáo, từ Dịch lý. Theo Dịch, mọi thứ ở cõi
đời này và ở vũ trụ này đều do âm dương sinh ra cả. Ta thấy rất rõ mũi Phật hình móc câu
mang nghĩa nhất thể qua sợi dây chuyền cổ (kỷ vật bà xã tác giả mua ở Nepal).


                  






Sợi dây chuyền cổ của Nepal.

Mũi Phật hình móc câu nhất thể tương đương với đĩa thái cực của Trung Hoa hay Trứng Vũ
Trụ, với con mắt thứ ba ở giữa trán của Phật có hình
vòng tròn có chấm. Đây cũng là linh tự
Ra của Ai Cập cổ.  Ra là Thần Mặt Trời Tạo Hóa (Sun as Creator) của Ai Cập cổ. Vị thần
này lưỡng tính phái, bán nam bán nữ (nhất thể). Ông khạc nhổ ra con gái và thủ dâm ra con
trai. Vòng tròn có chấm là một chữ viết nòng nọc có một nghĩa là nhất thể. Vòng tròn là nòng
âm và chấm là nọc dương (dưới dạng nguyên thể, sinh tạo). Chữ vòng tròn có chấm thấy rất
nhiều trên trống đồng nòng nọc, âm dương. Ngoài ra mũi Phật hình móc câu chính là con số
1 gọi là
ek của Nepal. Ek có gốc từ Phạn ngữ eka là 1. Ek ruột thịt với Việt ngữ ít hàm nghĩa
là một như thấy qua từ ghép
ít một hay một ít, nghĩa là theo quy tắc từ ghép ta có ít = một
(Tiếng Việt Huyền Diệu).
Ek, eka, ít ruột thịt với Anh ngữ each, mỗi một. Hiển nhiên một là
nhất thể. Ta cũng thấy Hán Việt
vũ trụ có nghĩa là nhất thể. biến âm với với vỏ là cái
bao, cái bọc, cái nang tương ứng với
nòng, với bầu không gian và trụ là nọc biểu tượng cho
mặt trời. Vũ trụ là nòng nọc, âm dương, không gian-mặt trời dưới dạng nhất thể. Điều này
cũng đúng với Anh ngữ universe.
Uni- là một và -verse là quay về. Lúc khai thiên lập địa mọi
thứ đều ở dưới dạng hỗn mang (chaos) sau đó mới quay về một mối, dưới dạng nhất thể gọi
là universe. Cuối cùng phần chính của sợi dây chuyền cổ có hình bầu nậm mang một nghĩa
là âm dương nhất thể.      
           
Như thế chữ viết nòng nọc móc câu đọc theo một chữ có âm có dương có nghĩa là nhất thể
tương đương với đĩa thái cực của Trung Hoa, với Trứng Vũ Trụ, với linh tự Ra của Ai Cập
cổ, với chữ viết nòng nọc vòng tròn có chấm, với số 1 của Nepal...
Ở đây ta cũng thấy rõ có tác giả cho là đĩa thái cực cũng biểu tượng cho sấm (C.A.S
Williams, Encyclopedia of Chinese Symbolism and Art Motives, The Julian Press, NY, 1960).
Vì sấm có biểu tượng là chữ viết nòng nọc móc câu nhất thể, sinh tạo và đĩa thái cực cũng là
nhất thể sinh tạo. Hình chữ S phân chia âm dương trong đĩa thái cực ruột thịt với hình móc
câu. Ta cũng thấy rất rõ tại sao sấm mang một nghĩa sinh tạo, tạo hóa (tiếng nổ
big bang
thuở khai thiên lập địa cũng là một thứ tiếng sấm). Lạc Long Quân với khuôn mặt Chấn Sấm
có một khuôn mặt Sinh Tạo, Tạo Hóa ở Cõi Tạo Hóa, tương đương với Đế Minh (Việt Dịch
Bầu Cua Cá Cọc). Trống là biểu tượng của sấm do đó trống nói chung và nhất là trống đồng
nòng nọc, âm dương mang ý nghĩa sinh tạo, tạo hóa, trống đồng nòng nọc, âm dương diễn
tả Vũ Trụ tạo sinh và là trống biểu tượng của Vũ Trụ giáo.

Tóm lại
Chữ móc câu là một chữ nòng nọc có nghĩa là:
-đọc theo hai chữ riêng rẽ nòng và nọc: nước dương, Mặt Trời Nước, nước chuyển động,
mưa, sóng, biển, sấm...
-đọc theo một chữ duy nhất nòng-nọc có nghĩa là nhất thể, thái cực, trứng vũ trụ, vũ trụ,
universe...

Hiểu rõ như thế rồi, ta nhận diện ra hình người thể điệu hóa thành chim hình móc câu và các
“vật hình trâm” hình thoi trên trống Nam Ngãi II dễ như trở bàn tay. Người chim hình móc câu
là người thuộc đại tộc Mặt Trời Nước. Bằng chứng cụ thể nhất là trên mặt trống có những
hình thuyền. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, tộc này thuộc Âu-Lạc Mặt Trời Êm Dịu
An Dương Vương dòng Mặt Trời Nước Lạc Long Quân. Còn dưới bốn đỉnh của vật hình thoi
có bốn chữ viết nòng nọc móc câu là bốn nước, bốn mưa và bốn đỉnh nhọn hình thoi là bốn
chữ nọc nhọn mũi mác hay răng sói, răng cưa ( >), có một nghĩa là lửa. Bốn đỉnh hình thoi là
bốn lửa-nước, bốn chớp-mưa có nghĩa là sấm bốn phương trời. Ở tâm hình thoi có chữ viết
nòng nọc
vòng tròn có chấm mang nghĩa là vũ trụ, nhất thể, sinh tạo, sấm. Vậy hình thoi biểu
tượng cho sấm rền vang bốn phương trời chính là
lưỡi tầm sét (sky iron), búa thiên lôi hay
dóng sấm (thunderbolt).  

                                  






  
Dóng sấm hình thoi là dạng thể điệu hóa của dóng sấm kép.
         
Trống Nam Ngãi II là trống muộn nên dóng sấm đã thể diệu hóa tối đa phát gốc từ hình dóng
sấm kép (double thunderbolt), ngày nay còn thấy nhiều trong Phật giáo Nepal, Tây Tạng.
Không còn gì để nói nữa, trống Nam Ngãi II có người dòng Mặt Trời Nước, có dóng sấm, búa
thiên lôi là trống Sấm Mưa dòng Người Mặt Trời Nước, đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử
Việt thuộc liên bang Âu-Lạc An Dương Vương dòng mặt trời Nước, Thần Sấm Mưa Lạc Long
Quân. Nếu quí vị nào con nghi ngờ chưa tin thì trống này còn nhiều chi tiết khác nữa để
khẳng định trống là trống sấm mưa, vững tin nhất là trống cũng có bốn tượng cóc...

Kính thưa quí vị,

Có một vị nào đó thắc mắc sẽ nêu lên câu hỏi là tại sao trống Cổ Loa II là sấm mưa mà trống
Nam Ngãi II này cũng là sấm mưa, vậy thì giữa hai trống có gì khác biệt? Xin thưa như đã
thấy là có sự khác biệt giữa hai chữ viết nòng nọc hai vòng tròn đồng tâm có dấu nòng vòng
tròn rỗng tí hon trên trống Cổ Loa II có nghĩa là nòng âm nước, phía ngoại mang tính chủ,
trong khi chữ viết nòng nọc móc câu trên trống Nam Ngãi II có yếu tố nọc dương có nghĩa là
nòng âm nước mang dương tính, phía nội mang tính chủ. Ngoài ra trên trống Nam Ngãi II còn
có bốn vành
hai vòng tròn đồng tâm có chấm tí hon ở giữa đối nghịch với chữ hai vòng tròn
đồng tâm có dấu nòng vòng tròn rỗng tí hon ở giữa
trên trống Cổ Loa II. Chấm vòng tròn tí
hon đặc là dấu nọc, dương (đặc là đực như tre đặc là tre đực) ngược với dấu nòng vòng
tròn rỗng tí hon là dấu nòng âm. Trống Cổ Loa II là trống sấm mưa phía ngoại và trống Nam
Ngãi II là trống sấm mưa phía nội của dòng mặt trời Nước. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ
sử Việt, Trống Cổ Loa II là trống sấm mưa phía ngoại của liên bang Âu-Lạc An Dương
Vương và trống Nam Ngãi II là trống sấm mưa phía nội của liên bang Âu Lạc An Dương
Vương dòng mặt trời Nước Lạc Long Quân. Ở đây ta thấy
dấu chỉ âm dương trong chữ viết
nòng nọc rất quan trọng. Ta cũng thấy người chim hình móc câu là người thuộc phía nội của
đại tộc Mặt Trời Nước vì hình móc câu quay về phía tay phải tức chiều dương, những người
này di động theo chiều ngược kim đồng hồ tức chiều dương trong khi mũi móc câu của Thần
mưa Chac quay về phía tay trái tức chiều âm ăn khớp với chữ viết nòng nọc hai vòng tròn
đồng tâm có dấu nòng o tí hon mang âm tính chủ.

Như thế qua hai chữ viết nòng nọc vừa giải đọc xong ta thấy
chữ viết nòng nọc là cái chìa
khóa để mở ra kho tàng trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn
. Đọc được
chữ viết nòng nọc là giải đọc được trống. Tất cả những cái gọi là “hoa văn” trên trống đồng
đều là những chữ viết nòng nọc, âm dương. Tôi chưa thấy ở một nơi nào, trong bất kỳ một
nền văn hóa nào mà có một sự qui tụ nhiều chữ viết nòng nọc như ở trên trống đồng nòng
nọc. Trống đồng là quyển
Từ Điển chữ viết Nòng Nọc. Chữ viết nòng nọc trên trống đồng
nòng nọc được viết với một ngữ pháp tuyệt hảo, rất “có học” trong khi ở những nơi khác viết
sai ngữ pháp, rất “i tờ rít”, rất “bình dân học vụ”. Người Đông Sơn là những bậc thầy, bậc sư
về chữ viết nòng nọc và Dịch nòng nọc. Trống đồng nòng nọc, âm dương là bộ sách về
Ngữ
Pháp Chữ Viết Nòng Nọc chuyên chính, chính thống, tuyệt hảo
, có thể làm mẫu mực
giúp giải đọc một cách chính xác tất cả các nền văn hóa cổ của nhân loại mà hiện nay đang
được giải thích sai lạc. Ta biết rõ nòng nọc là nền tảng của Dịch. Trống đồng là bộ  
Dịch
Nòng Nọc bằng đồng
,  tuy nhiên, đây là bộ Dịch diễn tả bằng hình ảnh duy nhất của
nhân loại.
Muốn học Dịch một cách dễ hiểu, dễ nhớ, một cách chính thống không bị “mắc
Dịch” hãy học Dịch bằng hình ảnh trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông
Sơn. Dịch Đông Sơn bằng hình ảnh đã ghi khắc rành rành trên trống đồng không có vấn đề
“san định” lại, thêm bớt, nói xàng qua xàng lại, lang ba vi bộ, đi chân chữ bát hay bẻ vụn ra
(triết lý ra).

Kính thưa quí vị,

Tôi đã phải mất
hơn 10 năm mới đọc được hết chữ viết nòng nọc trên trống đồng nòng nọc,
âm dương. Có những nhóm chữ viết nòng nọc như cái gọi là“họa tiết lông công” trên trống
đồng âm dương Ngọc Lũ I chẳng hạn, tôi đã phải mất hơn ba năm mới giải đọc được.

Kính thưa quí vị,

Câu hỏi được đặt ra là sự hiện diện của chữ viết nòng nọc trên trống đồng của đại tộc Đông
Sơn đã đủ để kết luận là trống đồng là trống đồng nòng nọc, âm dương chưa? Chắc chắn
có vị cho là chưa đủ. Tôi cũng đồng ý như thế. Ta còn cần phải biết thêm bản thể của trống
đồng từ hình thức tới nội dung có mang ý nghĩa nòng nọc hay không?
Vậy bây giờ chúng ta hãy xem bản thể của trống đồng ra sao?
                                                 (còn tiếp).
Nhà văn bác sĩ Nguyễn
Xuân Quang
VÀI DÒNG VỀ TÁC GIẢ

.Sinh năm 1941 tại Đà Nẵng,
chính quán Phượng Lâu,
Kim Động, Hưng Yên.
.Tốt nghiệp Bác Sĩ Y Khoa tại
Đại Học Y Khoa  Saigon năm
1969.
.Di cư qua Hoa Kỳ năm 1975.
.Tốt nghiệp chuyên khoa
Thận và Cao Máu năm 1986.
.Assistant Clinical
Professor tại Đại Học Y
Khoa Irvine, Orange County,
California, USA từ năm 1986.
.Hành nghề tư tại Little
Saigon, Orange County và là
bác sĩ công chức của tiểu
bang California từ năm 1978.

.
Những tác phẩm văn
chương:

-Trước năm 1975: Thần
Tượng, Thơ
 (Tao Đàn xuất
bản),
Chiếc Mặt Nạ Da
Người, tập truyện
(Trí Đăng
xuất bản).

-Sau năm 1975 tại Hoa Kỳ:
Tình Thù, tập truyện (Mai An
xuất bản),
Nay Tôi Mai Ai?
(truyện dài đang từ  kỳ trên
tuần báo Saigon, Orange
County),
Người Căm Thù
Ruồi
(Người Việt xuất bản),
Những
Mảnh Đời Tị Nạn
(Xuân Thu xuất bản),
Đi, bút
(Á Mỹ xuất bản), Khai
Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng
Việt
(Y Học Thường Thức
xuất bản, 1999),
Ca Dao Tục
Ngữ
, Tinh Hoa Dân Việt,
(YHTT, 2002),
Tiếng Việt
Huyền Diệu
(Hừng Việt xuất
bản, 2004),  
Việt Dịch Bầu
Cua Cá Cọc
(sách và trò
chơi), Hừng Việt 2006.
Giải
Đọc Trống Đồng Nòng Nọc,
Âm Dương Đông Nam Á,

Hừng Việt 2008.

Nguyên chủ nhiệm kiêm
chủ bút
lưỡng nguyệt san Y
Học Thường Tức  tại Little
Saigon, Orange County