Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt
TRỐNG ĐỒNG ĐẠI TỘC ĐÔNG SƠN LÀ TRỐNG NÒNG NỌC
(ÂM DƯƠNG).
                                                 

(Bài nói chuyện trong buổi ra mắt sách Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương
Đông Nam Á ngày 13 tháng 7 năm 2008 tại Little Saigon, Orange County, California,
Hoa Kỳ).

                                          Nguyễn Xuân Quang


                                 Kỳ I


NGỮ VỰNG

Đại tộc Đông Sơn

Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn chỉ chung tất cả các trống đồng
nòng nọc ở Đông Nam Á, tôi thêm hai từ
đại tộc vào để phân biệt với cụm từ trống đồng
Đông Sơn
của các nhà khảo cổ học Việt Nam gọi riêng loại trống Heger I tức trống Nguyễn
Xuân Quang VI vì loại này tìm thấy nhiều nhất ở Việt Nam. Cũng có khi tôi dùng các từ trống
đồng nòng nọc
liên bang Đông Sơn, liên bang Văn Lang hay trống vũ trụ Đông Sơn thay cho
trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

                                
Kính thưa quí vị,

Hôm nay, quí vị tới đây chia xẻ với tôi một niềm vui mà tôi cho là một trong những hạnh phúc
lớn trong đời tôi, đây là một ước mơ tôi đã ấp ủ gần 30 năm giờ đã thành sự thật, đó là hai
tập sách ra mắt quí vị hôm nay viết về trống đồng nòng nọc Đông Nam Á.  

Ngày rời quê hương, lưu lạc xứ người, tôi bỗng thấy mình là một kẻ lạc loài, trơ vơ giữa một
xã hội xa lạ mà mỗi tộc đều có cái bản sắc riêng của họ và có cái căn cước riêng của họ,
riêng mình thú thật tôi thấy mình sống dật giờ, trôi dạt vì chẳng biết cái căn cước đích thực
của mình là gì? Việt là gì? nguồn cội Việt là gì? bản sắc Việt là gì? Những cái gọi là văn hóa
Việt hiện nay không đủ giúp tôi tìm ra cái căn cước Việt đích thực của mình.

Đây là động lực chính khiến tôi đi tìm nguồn gốc Việt, bản sắc Việt và căn cước Việt. Tôi đã
đi tìm các tài liệu trong sách vở và viết ra quyển Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, tôi
gọi là Sử Sách. Tôi đã đi tìm các tài liệu trong văn chương truyền khẩu viết ra quyển thứ hai
là Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, tôi gọi là Sử Miệng. Qua hai bộ sử này, chúng ta đã
thấy
cốt lõi của văn hóa Việt, bản sắc, căn cước đích thực thuần Việt là Vũ Trụ Tạo
Sinh, Vũ Trụ Giáo, Mặt Trời Giáo, là Dịch Nòng Nọc dựa trên nguyên lý lưỡng hợp
nòng nọc, âm dương.

Tác phẩm ra mắt hôm nay dựa trên khảo cổ vật trống đồng Đông Sơn là quyển Sử Đồng. Bộ
sử đồng Đông Sơn này sẽ bổ túc và khẳng định là cốt lõi của văn hóa Việt, bản sắc, căn
cước đích thực thuần Việt đúng như đã nói  ở  trên. Bộ sử đồng Đông Sơn này chính thống,
đáng tin và thuyết phục nhất vì cốt lõi văn hóa Việt từ hơn hai ngàn năm trước đã khắc ghi
lại trên đồng vẫn còn tinh ròng, nguyên si không bị những thiên tai và nhân tai làm biến đổi,
sai lạc đi.

Kính thưa quí vị, trong công cuộc nghiên cứu trống đồng nòng nọc, âm dương Đông Sơn,
một giây phút thiêng liêng nọ, trong một đêm thanh vắng kia, ngồi chong đèn trước những
tấm hình trống đồng, trong lúc mơ màng, nửa tỉnh nửa mơ, khí thiêng sông núi Việt, hồn Việt,
anh linh cổ Việt đã khiến tôi thấy những chiếc trống đồng rung chuyển, tôi bỗng nghe thấy
tiếng trống đồng âm vang từ ngàn xưa vọng về. Tiếng trống trầm bổng vang dội trong trời
đất. Những tiếng trong, tiếng đục nhịp nhàng mang âm hưởng của hai tiếng “nòng nọc”,
“nòng nọc”, “nòng nọc”.

Người cổ Việt Đông Sơn đã nói cho tôi
câu thần chú để mở ra kho tàng vô giá trống đồng
Đông Sơn. Đó là những tiếng
“Nòng Nọc”, “Nòng Nọc”, “Nòng Nọc” .

Quí vị có mặt trong buổi ra mắt sách hôm nay, quí vị quả là những người đầy tâm huyết với
nền văn hóa trống đồng siêu đẳng, huy hoàng của đại tộc Đông Sơn, với cội nguồn Việt, với
văn hóa Việt. Qua tác phẩm này, tôi xin trao lại câu thần chú, cái Chìa Khóa mở kho tàng vô
giá trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn cho quí vị và cho cả những quí vị
không có mặt hôm nay nhưng cũng có cùng một tấm lòng như thế. Xin hãy phát huy di sản
trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn vô giá này cho con cháu chúng ta và
khơi sống dậy tiếng trống đồng của đại tộc Đông Sơn cho vang dội khắp năm châu bốn biển
trở lại.

Cái mấu chốt là
“Trống Đồng đại tộc Đông Sơn là Trống Nòng Nọc”. Cái chìa khóa để
mở ra kho tàng trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là Chữ Viết Nòng Nọc.

Kính thưa quí vị,

Trước hết xin nói qua thuật ngữ “nòng nọc” do tôi đặt ra.
Nòng nọc có nghĩa tổng quát tương
đương với hai từ Hán Việt âm dương. Tôi dùng từ
nòng nọc vì nhìều lý do:
.Trống đồng hở đáy là trống nòng nọc.

.Trên trống đồng nòng nọc, âm dương, những đường nét, hình vẽ thường gọi là “hoa văn” là
một thứ chữ viết nòng nọc và các biểu tượng đều được diễn tả theo ngữ pháp (văn phạm)
của chữ viết nòng nọc và theo Việt Dịch nòng nọc.

.Nòng nọc là hai từ nôm, thuần Việt trong khi âm dương là từ Hán Việt.
.Nòng nọc là hình nòng vòng tròn và hình nọc que là dạng
nguyên thủy vì phát gốc từ hình
dáng của bộ phận sinh dục đàn bà và đàn ông như còn thấy qua hình ảnh ở các hình vẽ
trên đá thời tiền sử và qua hình tượng thờ tự linga-yoni của Ấn giáo.

Trong khi Hán Việt âm dương là hai từ bác học, dương là mặt trời, âm là mặt trời bị che mất
hay không có mặt trời, trở thành tối tăm như âm u, cõi âm… âm dương phát gốc từ mặt trời
là hai từ xuất hiện muộn. Văn hóa dựa trên âm dương của Trung Hoa là văn hóa muộn so
với văn hóa Đông Sơn dựa trên nòng nọc nguyên thủy.

.Con nòng nọc là con có thân hình vòng tròn và đuôi hình nọc. Chữ viết nòng nọc là một thứ
chữ viết cổ nhất của nhân loại chỉ gồm có hai chữ cái là chữ Nòng vòng tròn O chỉ âm (theo
biến âm n=v như níu = víu, ta có nòng = vòng) và chữ Nọc hình que chỉ dương.

Kính thưa quí vị,

Chữ viết nòng nọc là cái chìa khóa để mở kho tàng trống đồng nòng nọc, âm dương
của đại tộc Đông Sơn. Đọc được chữ viết nòng nọc là giải đọc được trống đồng
nòng nọc, âm dương.

Vậy thì hôm nay, trong một khoảng thời gian hạn hẹp này, xin mời quí vị cùng tôi thử đọc một
hai chữ viết nòng nọc đơn giản trên trống đồng đại tộc Đông Sơn của đại tộc Việt.

A. Chữ ba vòng tròn

Kính thưa quí vị,

Đây là mảnh của một mặt trống đồng được đào tìm thấy ở huyện Đông Anh, xã Cổ Loa,
thuộc vùng ngoại ô Hà Nội và được đặt tên là trống Cổ Loa II (vùng Cổ Loa đào được hai
trống I và II).

                                      
 





Trống Cổ Loa II.

Trên mặt mảnh trống này có hình ba vòng tròn đồng tâm mà các nhà khảo cổ học gọi là “hoa
văn ba vòng tròn đồng tâm”.
Đây chính là một chữ nòng ba vòng tròn trong hệ thống chữ viết
nòng nọc. Như thế hình ba vòng tròn trên trống đồng nòng nọc, âm dương Cổ Loa II có
nghĩa gốc là nòng âm. Đây là một từ thuần nòng, thuần âm (không có nọc) nên ta chỉ lấy
theo nghĩa của ngành nòng hoặc là nòng dương (thiếu âm, khí gió) hay nòng âm (thái âm,
nước).

Bây giờ xin mời quí vị cùng tôi giải đọc chữ ba vòng tròn đồng tâm này để xem
có nghĩa là gì. Có hai cách đọc:

-cách thứ nhất: coi vòng tròn nhỏ tí hon ở tâm là một vòng tròn tương đương với hai vòng
còn lại tức là “ba vòng tròn đồng tâm”.

-cách thứ hai: coi vòng tròn tí hon ở tâm là một cái
dấu (marker, accent) giống như dấu
nặng, huyền, hỏi, ngã trong chữ quốc ngữ hiện nay. Dấu này cho biết là nòng, âm hay nòng
âm mang tính chủ yếu. Từ nòng này (“hoa văn” này) đích thực chỉ có hai chữ nòng O tức là
hai vòng tròn đồng tâm và một cái dấu nòng.

1. Bây giờ xin giải đọc theo ba vòng tròn đồng tâm:

Kính thưa quí vị, có nhiều người tò mò muốn biết tôi đọc chữ viết nòng nọc như thế nào? Để
giúp quí vị nắm vững vấn đề hơn, xin nói qua cách đọc chữ viết nòng nọc như thế nào? Sau
đây là một trong những cách tôi giải đọc chữ viết nòng nọc trên trống đồng âm dương. Muốn
đọc một chữ viết nòng nọc trên trống đồng nòng nọc, ta phải mò tìm xem những hình giống
chữ đó (hoa văn đó) hay tương tự như chữ đó thấy từ cổ chí kim có mang một ý nghĩa nào?

Sau đó ta rút ra lấy một ý nghĩa thích ứng. Chúng ta phải đi tìm những hình giống chữ đó từ
thuở con người còn chui hang chưa có chữ viết nhưng đã biết vạch trên mặt đá những hình
vẽ (petroglyph), rồi tới thời con người đã có chữ viết nhưng chữ viết cũng hãy còn ở dưới
dạng những hình vẽ gọi là hình ngữ (pictogram) như linh tự (hieroglyph) của Ai Cập cổ,  giáp
cốt văn (viết trên mai rùa và xương thú vật) thấy ở Trung Hoa cổ và cận đại hơn, là chữ viết
của Aztec, Maya, tiếp đến là tìm những biểu tượng trong các tôn giáo lớn ngày nay vì phần
lớn các tôn giáo này là di duệ, con cháu hay liên hệ với Vũ Trụ giáo dựa trên nguyên lý
lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, một tôn giáo cổ nhất của nhân loại và cuối cùng là những
hình ảnh thấy trong thời hiện đại, thời chúng ta đang sống.

Nào! Chúng ta hãy khởi sự tìm cách đọc chữ ba vòng tròn đồng tâm.

Xin mời quí vị cùng tôi khởi đi từ thời tiền sử. Chúng ta hãy đi tìm trong các hang động, trên
mặt đá những hình ba vòng tròn xem chúng mang một ý nghĩa gì? Xin mời tới Mường Hoa, ở
thượng du Bắc Việt, ở đây có một hình người có ba vòng tròn ở giữa hai chân.

                          
   





Hình người có ba vòng tròn giữa hai chân ở Mường Hoa.

Các nhà khảo cổ học Việt Nam hiện nay gọi hình người này là thần. Thần thường chỉ các
bậc siêu phàm ở Cõi Trên, liên hệ với tạo hóa, vũ trụ, với không gian, mặt trời. Tại thung
lũng Val Camonica thuộc vùng núi Alps của Ý cũng tìm thấy một hình người giữa hai chân có
một vòng tròn trong có một chữ thập được cho là
người mặt trời hay Thần Mặt Trời.


             




                
Người mặt trời hay Thần mặt trời tại thung lũng Val Camonica, Italian Alps (Madanjeet Singh,
f.81).

W.T. Olcott trong Myths of the Sun trích dẫn lại rằng giáo sư Worsaal xác nhận vòng tròn có
chữ thập bên trong là biểu tượng mặt trời thuộc thời đồ đá muộn (later stone age) của vùng
Scandinavia và đây cũng là biểu tượng mặt trời Chaldean. Ta thấy rất rõ là vòng tròn biểu
tượng cho mặt trời. Chữ thập bên trong là do hai que nọc (II) để chồng lên nhau. Hai que
nọc là hai que dùng làm dùi để tạo ra lửa. Hai que nọc là hai dương, thái dương. Vòng tròn
lửa, thái dương là mặt trời. Ngày nay chúng ta dùng hình chữ thập làm
dấu cộng cũng có
một nghĩa là dương như phản ứng cộng là phản ứng dương (phản ứng trừ là phản ứng âm).

Đối chiếu người mặt trời lửa này với hình vị thần ở Mường Hoa, ta thấy các nhà khảo cổ học
Việt Nam rất chí lý khi cho đây là một vị thần. Ba vòng tròn ở giữa hai chân người  này mang
một ý nghĩa tạo hóa, vũ  trụ, mặt trời, không gian. Vị thần Mường Hoa có thể là người không
gian hay người mặt trời âm, mặt trời nước hay ít ra cũng liên hệ với vũ trụ. Xin lưu ý là bộ
phận sinh dục của vị thần Mường Hoa này không thấy rõ, như thế có thể ít nhất 50% vị thần
này là phái nữ thuộc dòng nòng âm. Hình ba vòng tròn ít nhất 50% mang âm tính, mặt trời
nòng, không gian. Trong khi đó, mặt trời chữ thập ta biết rõ trăm phần trăm là mặt trời lửa,
mặt trời nọc, mặt trời dương vì nó dính vào bộ phận sinh dục nam và tay người này cầm cây
lao, một thứ nọc (nhọn).

Ở đây xin bước ra ngoài lề một chút. Ta thấy từ Việt có nghĩa là vật nhọn tức là NỌC : Việt
biến âm với vớt là con dao dài, với vót là que (làm cho) nhọn, với viết là vật nhọn để vạch, vẽ
và theo Hán Việt, Việt là rìu cũng là một thứ vật nhọn. Trong chữ Việt có bộ
qua, một thứ khí
giới cán dài họ hàng với cây lao (que nhọn).
Qua biến âm với que. Cây lao, cây qua cầm ở
tay người mặt trời nọc Val Camonica này  mang hình bóng Việt. Nọc, vật nhọn là đực (heo
nọc là heo đực), là dương, là mặt trời. Vật nhọn là biểu tượng của mặt trời vì thế mà người
mặt trời này cầm cây lao. Như thế ta thấy rất rõ Việt là vật nhọn, Việt là mặt trời. Người Việt
là người mặt trời nọc, dương thái dương. Hùng Vương có Hùng có một nghĩa là Đực như
thư
hùng là sống mái
(một trận thư hùng là một trận sống mái). Hùng Vương là Vua Đực, Vua
Nọc [nên mới có tên là Lang (là chàng, chàng cũng có thêm nghĩa nữa là đục chisel, một vật
nhọn) và bọc trứng vũ trụ nở ra toàn con trai], là vua mặt trời Nọc, là vua mặt trời thái
dương.  Hình ảnh Thần mặt trời Val Camonica này có thể  tương đương với “tên” cổ sơ diễn
tả bằng hình vẽ trên đá của vua tổ Việt chúng ta thời tiền sử mà sau này các nhà nho
“chuyển ngữ” qua chữ thánh hiền thành tên Hùng Vương.

Xin bước trở vào lại con đường đang đi của chúng ta.

Tại một hang động ở đảo Kei, Nam Dương có một hình khắc trên đá diễn tả mặt trời ba vòng
tròn đồng tâm nằm trong bộ phận sinh dục nữ.


                                                                        



Hình vạch trên đá tại hang động Dudumahan ở đảo Kei, Nam Dương                                     
(Madanjeet, The Sun, Symbol of Power and Life, f. 313).              
                                    
Các nhà nghiên cứu biết rõ hình ba vòng tròn đồng tâm trong bộ phận sinh dục nữ này là
một hình mặt trời vì hình vẽ này vẽ trong các cảnh thờ phượng mặt trời cùng chung với
những loại mặt trời khác. Hiển nhiên đây là hình mặt trời nữ. Có người trong chúng ta ngày
nay cho đây là một cách diễn tả tục tĩu và không tin đây là mặt trời nữ. Nhưng nếu ta đối
chiếu với hình mặt trời chữ thập dính vào bộ phận sinh dục nam ở thung lũng Camonica ở
trên thì ta có thể tin đây là mặt trời nữ. Người tiền sử chưa có chữ viết, nên chưa có các qui
tắc ngữ pháp về giống đực giống cái, nòng nọc nên khi chỉ một thứ gì thuộc về phía nọc,
đực, đàn ông thì chỉ việc vẽ thêm vào đó hình bộ phận đàn ông và để chỉ một thứ gì thuộc về
phía nòng, cái, đàn bà thì vẽ thêm vào bộ phận sinh dục đàn bà. Ở đây để chỉ mặt trời đàn
bà họ chỉ cần vẽ mặt trời nằm trong bộ phân sinh dục đàn bà. Nhìn thấy bộ giống ai cũng
biết ngay là cái đực, nòng nọc, âm dương khỏi phải viết
“la, le” để phân biệt giống cái, giống
đực thật là rắc rối như các ông Tây Bà Đầm ngày nay. Xuôi dòng thời gian bộ phận sinh dục
đàn bà và đàn ông vẽ giản tiện lại thành hình cái lỗ vòng tròn Nòng và cây que Nọc. Thế là
hai chữ nòng nọc khai sinh ra đời. Ngày nay còn thấy vòng tròn nhỏ và cây que nọc dùng
làm dấu (marker, accent) để chỉ nòng nọc, cái đực, âm dương trên trống đồng nòng nọc, âm
dương (xin mời đọc chương Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á trong
tác phẩm này).

Tiếp đến, bây giờ chúng ta hãy bước vào thời con người có chữ viết nhưng chữ viết hãy còn
là những hình ảnh gọi là hình ngữ. Trong các hình ngữ Ai Cập cổ có linh tự (hieroglyph) Nut
có nghĩa là sky (bầu trời) được diễn tả bằng một hình khung trời hình vung úp xuống trên có
để ba cái bình tròn.

              





 
            
 Hình ngữ Nut (sky).

Ba chiếc bình là ba vật đựng biểu tượng cho nòng, âm, là ba nòng, ba âm. Ba bình tròn này
là hình ảnh của ba nòng vòng tròn và là ba bình đựng nước. Tại sao tôi biết rõ đây là ba
bình đựng nước? Trước hết xin thưa, ở trên trời chỉ có mây và nước mưa. Thứ đến là người
Ai Cập cổ thờ mặt trời nhưng là mặt trời đĩa tròn không có tia sáng hình nọc nhọn bắn ra,
nghĩa là mặt trời âm dòng nòng, dòng nước, không gian, Khôn (giống như mặt trời âm hình
đĩa tròn trên lá cờ Nhật, con cháu của Thái Dương Thần Nữ Amaterasu). Thật vậy, người Ai
Cập cổ quan niệm nguyên thủy vũ trụ là một cái biển gọi là Biển Vũ Trụ Nun, trên đó hàng
ngày mặt trời đi từ Đông sang Tây bằng thuyền gọi là thuyền mặt trời  (solar barque). Mặt
trời Ai Cập cổ thuộc dòng nòng, nước nên đi đò. Trong khi đó người Trung Hoa cổ là dân võ
biền, giỏi cưỡi ngựa nên thần mặt trời Trung Hoa là mặt trời nọc, dương, hàng ngày cưỡi xe
ngựa đi từ Đông sang Tây. Vì là biển vũ trụ nên bầu vũ trụ là bầu vũ trụ nước, bầu trời là
bầu trời nước. Nước mang âm tính. Như thế ba chiếc bình nước là ba âm thuộc dòng nước.
Ba vòng tròn trong Ai Cập cổ có một nghĩa là nòng âm nước, không gian, vũ trụ nước tức là
ba âm, một khuôn mặt của Khôn âm, nước.

Bây giờ ta bước vào nền văn hóa Trung Hoa có chữ viết cũng là một thứ chữ có nhiều chữ
cổ tượng hình, một thứ hình ngữ. Trong Hán tự có bộ thủy có nghĩa là bộ nước.
                                                              






       
            Bộ thủy

Chữ Hán nào viết với bộ thủy đều có gốc nghĩa là nước hay liên hệ với nước. Ta thấy rõ bộ
thủy là thể biến dạng của ba giọt nước hình tròn.

Tiếp đến là trong Dịch nòng nọc, hào âm còn viết dưới dạng là vòng tròn, quẻ Khôn là ba
nòng OOO. Khôn dương là khí gió, Khôn âm là nước vũ trụ. Khôn âm là nước vũ trụ thấy rất
rõ qua truyền thuyết và cổ sử Việt. Vua tổ của chúng ta ở cõi trời là Đế Minh tức Đế Ánh
Sáng mặt trời, là cháu ba đời của Thần mặt trời Viêm Đế. Ánh sáng là lửa vũ trụ là Càn được
biểu tượng bằng ba nọc que (III). Linh tự ánh sáng của Ai Cập cổ là hình ngữ vẽ hình mặt
trời tròn có ba tia sáng nọc que (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Thần Mặt Trời Viêm

Đế là mặt trời Nọc (I) và Đế Minh là cháu ba đời của Thần Mặt Trời Viêm Đế nên ba đời là ba
nọc III, tức quẻ Càn, lửa vũ trụ. Đế Minh có vợ là Vụ Tiên. Tiên là người đẹp ở cõi trời. Vụ là
con chim le le (tiên ở cõi trời nên được biểu tượng bằng chim) là một loài chim nước, vịt trời
(Thương chồng nấu cháo le le..., ca dao).
Le có nghĩa là nước, qua từ láy lỏng le, ta có le =
lỏng. Ta cũng nói
chua le, chua lè, chua lét có nghĩa là chua chẩy ra nước. Nước gì ?

Chua chẩy ra nước dãi và xin lỗi quí vị,
chua vãi đái ra quần (tại sao chua lại vãi đái ra quần?
xin thưa, ăn chua rùng mình khiến hơi trong bụng ép xuống bọng tiểu làm vãi nước ra quần).
Le le nói theo âm cổ là ne ne (ngày nay ở Miền Bắc Việt Nam, một vài vùng vẫn nói là con ne
ne
). Hawaii có chim biểu tượng của tiểu bang (state bird) mình là con ngỗng trời ne ne. Vịt
trời le le và ngỗng trời ne ne ruột thịt với nhau. Vịt trời Vụ Tiên Le Le bay ra tới tận vùng trời
Hawaii. Như thế Vụ Tiên là Khôn âm (ba nòng OOO) có một khuôn mặt là nước vũ trụ.
Chồng lửa vũ trụ Càn hôn phối với vợ nước vũ trụ Khôn. Cũng xin nói thêm một chút nữa ở
đây là chỉ có Dịch còn viết bằng chữ viết nòng nọc với hào âm là nòng O thì quẻ Khôn âm
mới có hình ba giọt nước OOO âm trong khi Dịch Trung Hoa Khôn được diễn tả bằng ba hào
âm bằng hình ba que đứt đoạn.  Que đứt đoạn không còn mang hình ảnh giọt nước âm hình
tròn nòng và đã mang hình ảnh que nọc đứt đoạn tức đã dương hóa. Dịch Trung Hoa là Dịch
dương hóa có vào thời phụ quyền cực đoan tức đã muộn. Xã hội con người khởi thủy từ mẫu
quyền Nòng rồi mới chuyển qua phụ quyền Nọc. Dịch với chữ viết nòng nọc trên trống đồng
của đại tộc Đông Sơn là Dịch nguyên thủy và cổ sơ hơn.

Cuối cùng là ngày nay có hình ba vòng tròn đồng tâm diễn tả ba vòng tròn lan tỏa (nước, làn
sóng âm thanh).

                                          




Đây là hình ảnh khi ta lấy một hòn đá ném xuống mặt nước, ta sẽ có những vòng tròn lan tỏa.

Tóm lại ta thấy rất rõ hình ba vòng tròn đồng tâm hay là chữ nòng ba vòng tròn đồng tâm
trên trống Cổ Loa II liên hệ với Thần mặt trời dòng nòng âm, không gian ba vòng tròn ở
Mường Hoa, với linh tự bầu trời nước Nut của Ai Cập cổ, với bộ thủy nước của Hán ngữ, với
quẻ Khôn âm nước vũ trụ của Dịch nòng nọc, với ba vòng tròn lan tỏa có nghĩa gốc là ba
vòng tròn lan tỏa trên mặt nước. Trống Cổ Loa II liên hệ với nước, nước vũ trụ, nước từ bầu
trời (tức mưa), nòng Khôn.

2. Giải đọc theo hai vòng tròn đồng tâm và dấu âm vòng tròn tí hon:

Bây giờ ta coi vòng tròn tí hon ở tâm chỉ là một cái dấu cho biết âm mang tính chủ, thuộc
ngành ngoại, mẹ của phía nòng âm. Ta chỉ đọc theo hai vòng tròn OO. Hai vòng tròn là hai
nòng, hai âm tức thái âm, cũng có một nghĩa là nước.
Vắn tắt xin đưa ra một ví dụ điển hình là vị Thần Mưa Chac của Maya. Vị này có một cái mũi
hết sức kỳ dị không giống ai, trên mũi có những chữ ba vòng tròn đồng tâm giống hệt như
trên trống Cổ Loa II.

                          






                    
Thần Mưa Chac của Maya.        

Hàng triệu người dân Maya, các nhà khảo cứu Maya đều công nhận Thần Chac là Thần
Mưa của Maya, vậy thì hình ba vòng tròn đồng tâm trên mũi vị Thần Mưa Chac này bắt buộc
phải có nghĩa liên hệ với mưa. Ý nghĩa này ăn khớp trăm phần trăm với ý nghĩa chúng ta vừa
đọc theo ba vòng tròn đồng tâm. Hình ba vòng tròn đồng tâm trên mũi vị thần này cũng là
một chữ nòng trong chữ viết nòng nọc.

Trở lại với hình mặt trời nòng trong bộ phận sinh dục nữ ở đảo Kei, ta cũng có thể đọc theo
hai vòng tròn đồng tâm và dấu nòng o. Hai vòng tròn là hai âm, thái âm có một nghĩa theo
duy âm là nữ, nước. Dấu tí hon o cho biết âm mang tính chủ thì hiển nhiên hai vòng tròn này
mang âm tính chủ có nghĩa là âm, nước và hiển nhiên đi với bộ phận sinh dục nữ thì trăm
phần trăm phải mang âm tính chủ.

Như thế đọc theo hai vòng tròn đồng tâm và dấu âm vòng tròn tí hon cũng cho thấy chữ
nòng trên trống Cổ Loa II có nghĩa là nước, là mưa. Trống Cổ Loa II liên hệ với nước, nước
vũ trụ, nước từ bầu trời (tức mưa), nòng Khôn.
Trống Cổ Loa II là trống mưa, thuộc dòng Nước.

Bây giờ tới giai đoạn kiểm chứng.
Tôi nghiên cứu chữ viết nòng nọc cũng giống như làm một khảo cứu y học, đều phải kiểm
chứng qua, kiểm chứng lại, kiểm chứng xuôi, kiểm chứng ngược, kiểm chứng ngửa, kiểm
chứng sấp…  

Kiểm chứng với truyền thuyết và cổ sử Việt.   

Trống này đào được ở vùng Cổ Loa. Theo truyền thuyết Việt, An Dương Vương xây thành
Cổ Loa, xây mãi mà không được. Về sau nhờ có Thần Rùa Vàng Kim Qui giúp mới xây được.
An Dương Vương có An là Êm Dịu, Dương là mặt trời và Vương là Vua. An Dương Vương là
Vua Mặt Trời Êm Dịu tức thuộc về dòng mặt trời mang âm tính, dòng nòng, âm, nước. Con
Rùa Vàng là hình bóng của Lạc Long Quân vì thế mà khi giúp An Dương Vương xây thành
xong, con Rùa Vàng trở về biển. Lạc Long Quân có một khuôn mặt là Thần Biển nên mới dắt
năm mươi con xuống biển và có thủy phủ ở vịnh Hạ Long. An Dương Vương là Vua Mặt Trời
Êm Dịu dòng Mặt Trời Nước Lạc Long Quân. Như thế truyền thuyết và cổ sử Việt cũng cho
thấy trống Cổ Loa II thuộc ngành nòng Mặt Trời Êm Dịu An Dương Vương, dòng nước, Mặt
Trời Nước Lạc Long Quân.

Bây giờ có một vị nào đó cho rằng đây chỉ là truyền thuyết nếu có tin thì cũng chỉ tin chút ít
thôi. Nếu vậy, tôi xin mời quí vị về thăm phế tích thành Cổ Loa ở ngoại ô Hà Nội. Phế tích Cổ
Loa là một di tích lịch sử có thể nhìn thấy và sờ thấy được.

                                  







                         
 Thành Cổ Loa (nguồn Wikipedia)


Thành Cổ Loa có hai vòng thành hình tròn bao bọc bên ngoài. Rõ như dưới ánh sáng mặt
trời hai vòng tròn là hai nòng, là thái âm, có một khuôn mặt âm là nước. Thành Cổ Loa là
của dòng nòng thái âm, nước Mặt Trời Êm Dịu An Dương Vương, là kinh đô của Âu-Lạc.
Vòng thành lớn ở ngoài cùng có đường kính là 8 km. Chúng ta không biết người thời An
Dương Vương dùng đơn vị chiều dài là gì nhưng số 8 là số Khôn tầng 2, Khôn thế gian (Dịch
có 64 quẻ chia ra làm tám chuỗi hay tám tầng, tức mỗi chuỗi, mỗi tầng có 8 quẻ. Các quẻ
cách nhau tám quẻ đề cùng tên và theo Dịch có cùng trị số, chỉ khác ở các tầng ứng với các
tầng của Vũ Trụ Tạo Sinh. Như thế ta có 0, 8, 16, 24, 32… đều là những què Khôn, đều có
trị số như nhau: 0 = 8 = 16 = 24 = 32… S ố 8 = 0, là số không, là hư vô, không gian. Ta cũng
thấy rất rõ là 0 = 32 đúng y như thấy trong nhiệt học 0 độ Celcius = 32 độ Farenheit). Vòng
thành lớn với đường kính là số 8 cho thấy thành Cổ Loa là thành Khôn tầng 2, thế gian tức
liên hệ với Vua nòng Khôn thế gian (tức lịch sử) An Dương Vương.

Ở đây cũng cho thấy trống đồng nòng nọc, âm dương đào được ở Cổ Loa cũng có thể cho
biết trống là tộc biểu của dân vùng đó và trống đồng nòng nọc là một chứng tích của truyền
thuyết và cổ sử Việt. Điểm này cũng thấy đúng với trống Cổ Loa I là trống cũng đào được ở
Cổ Loa, trống có mặt trời 14 nọc tia sáng tức trống Đoài tức Gió dương, Khôn dương. Trống
Cổ Loa I có một vành chim bay có 16 con cò bay. Ta thấy rõ số 16 là số Khôn tầng 3. Như
thế cả hai trống Cổ Loa I và II đều liên hệ với Nòng Khôn (xem Giải đọc trống Cổ Loa I). Điểm
này cũng cho thấy trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là trống của người
bản địa, không phải từ Trung Hoa hay từ một nơi nào khác đến.

Kiểm chứng với Maya:  

Ta hãy kiểm chứng thêm một lần nữa cho chắc ăn. Như đã thấy trên mũi vị Thần Mưa Chac
của Maya có chữ nòng ba vòng tròn đồng tâm giống in hệt như chữ ở trên trống đồng nòng
nọc, âm dương Cổ Loa II. Như thế giữa Maya và tộc An Dương Vương , Âu Lạc có  liên hệ
với nhau? Câu trả lời là có. Nếu tôi nhớ không lầm, giáo sư Kim Định cho rằng Maya là một
thứ Bộc Việt. Bộc biến âm với bọc là bao, túi, nang, nòng. Maya là một tộc thuộc dòng Nòng
Khôn giống như An Dương Vương. Nhà văn Bình Nguyên Lộc cho rằng tiếng Maya là tiếng
Hùng Vương đợt II. Đúng hơn, phải nói là tiếng Maya là tiếng An Dương Vương, Âu Lạc.

Hùng Vương đợt II là thời Hùng Vương suy tàn, có thể đã là thời khởi đầu của An Dương
Vương. Tôi, Nguyễn Xuân Quang, trong Tiếng Việt Huyền Diệu, đã chứng minh là Đức Chúa
Jesus Nói Tiếng Việt và một học giả nổi tiếng của Guatemala là ông Antonio Batres Jaurequi
cũng đã chứng minh là Đức Chúa Jesus nói tiếng Maya. Rõ như hai năm là mười, Maya và
Việt liên hệ với nhau. Tiếng Việt và Maya liên hệ với nhau và chẳng cần tìm kiếm ở đâu xa,
sự liên hệ này thấy rất rõ qua tên Maya. Theo các nhà Maya học, Maya có nghĩa là
“not
many”
(không có bao nhiêu). Ta thấy Maya = Việt ngữ Mấy  (không có bao nhiêu như  mấy  
hơi, mấy sức, sức mấy
) và Maya có Ma-, tiếng Maya Ma có nghĩa là Mẹ, chính  là Việt ngữ
Mạ, Má. Hiển nhiên Maya là  “Not Many”, là Không Có Bao Nhiêu, Không Có Gì, là Zero, là
0,  là  Không, là Khôn tức Nòng O. Maya thuộc dòng Nòng, Khôn. Nòng Khôn Maya liên hệ
với Nòng Khôn Âu Lạc An Dương Vương là chuyện cũng dễ hiểu vì các thổ dân Mỹ châu từ
đâu tới Tân Thế Giới? Họ đến từ vùng duyên hải Đông Nam Á, Á châu. Văn hóa Maya có nét
đặc thù là hai vòng tròn đồng tâm tức hai nòng, hai âm, thái âm, Khôn âm. Các kiến trúc của
Maya đều có hình hai vòng tròn đồng tâm.

                    










         Ảnh chụp tại Chichen Itzá gần Cancun, Mexico cho thấy kiến trúc Maya có hai vòng
tròn đồng tâm.

Vật tổ chính của Maya là con rắn Kucucan cuộn lại thành vòng tròn mang hình ảnh hai vòng
tròn đồng tâm.

                 








    

                        
  Vật tổ Kucucan của Maya.


                           





          

Trò chơi bóng của Maya dùng thân người hất quả bóng vào cái vòng có hình vật tổ Kucucan.


Từ Kucucan chính là một từ Việt ngữ. Kucu- là chim cúc cu, là chim tu hú, loài chim biết hú
biểu tượng cho gió như thấy qua bài đồng dao Bổ Nông là ông Bồ Cắt (Ca Dao Tục Ngữ
Tinh Hoa Dân Việt). Còn -can đọc thêm hơi vào là Chăn tức con Trăn (người dân một vài nơi
ở miền Bắc Việt Nam ngày nay vẫn nói là con Chăn). Kucucan là Trăn-Tu hú gồm hai tộc là
tộc Gió Tu H ú (thiếu âm tức Khôn dương) và tộc Nước Trăn (thái âm tức Khôn âm). Rõ như
ban ngày Maya thuộc dòng Khôn, Không, “ Not Many” , “Nothing”. Nếu nhìn dưới dạng nhất
thể thì Kucucan là con Trăn-Chim Tu H ú, Trăn Gió (trong khi đó Aztec có vật tổ là con Rắn-
Lông Chim Quetzal-Coatl).  Rắn Nước, Trăn Gió liên hệ với Rồng Nước Lạc Long Quân.

So sánh thành Cổ Loa có hai vòng thành tròn với các kiến trúc Maya có hai vòng tròn ta thấy
Maya và Âu Lạc An Dương Vương liên hệ mật thiết với nhau. Và qua sự giống hệt nhau của
chữ nòng ba vòng tròn đồng tâm trên trống Cổ Loa II và trên mũi Thần Mưa Chac cho thấy
người cổ Loa và người Maya gần cận với nhau. Hiển nhiên, chữ nòng ba vòng tròn đồng tâm
trên trống Cổ Loa II phải có một nghĩa là mưa cùng nghĩa với chữ nòng ba vòng tròn đồng
tâm ở trên mũi Thần Mưa Chac.

Tóm Lại

”Hoa văn“ ba vòng tròn đồng tâm trên  trống Cổ Loa II là một chữ Nòng trong chữ viết nòng
nọc, có nghĩa là:
-đọc theo ba vòng tròn OOO: ba âm (siêu âm), nước nguyên tạo, tạo hóa, vũ trụ, quẻ Khôn.
-đọc theo hai vòng tròn OO: hai âm (thái âm), nước, mưa dòng Nòng, âm.

Trống Cổ Loa II là trống Mưa, trống Sấm Mưa thuộc dòng Nòng Khôn âm, mặt trời Nước, đối
chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt thuộc ngành An Dương Vương dòng Lạc Long Quân.

Dường như tôi thấy qua ánh mắt, có vị hãy còn chưa tin hết mình. Tôi xin chứng minh thêm.
Quí vị thấy trên mặt trống Cổ Loa II này còn có thêm một tượng con cóc nữa. Con cóc biểu
tượng gì? Con cóc gọi mưa, con cóc nghiến răng chuyển động bốn phương trời, con cóc là
cậu ông trời, con cóc liên hệ với mưa, sấm mưa.  

Nếu quí vị còn chưa tin, xin hãy theo tôi hướng dẫn, chúng ta cùng đọc thêm một chữ nữa.
Chữ này có chữ cái nọc que (I), dương. Đó là chữ hình móc câu.
                                        
 (còn tiếp).
Nhà văn bác sĩ
Nguyễn Xuân Quang
VÀI DÒNG VỀ TÁC GIẢ

.Sinh năm 1941 tại Đà Nẵng,
chính quán Phượng Lâu, Kim
Động, Hưng Yên.
.Tốt nghiệp Bác Sĩ Y Khoa tại
Đại Học Y Khoa  Saigon năm
1969.
.Di cư qua Hoa Kỳ năm 1975.
.Tốt nghiệp chuyên khoa Thận
và Cao Máu năm 1986.
.Assistant Clinical Professor
tại Đại Học Y Khoa Irvine,
Orange County, California,
USA từ năm 1986.
.Hành nghề tư tại Little
Saigon, Orange County và là
bác sĩ công chức của tiểu
bang California từ năm 1978.

.
Những tác phẩm văn
chương:

-Trước năm 1975: Thần
Tượng, Thơ
 (Tao Đàn xuất
bản),
Chiếc Mặt Nạ Da Người,
tập truyện
(Trí Đăng xuất bản).

-Sau năm 1975 tại Hoa Kỳ:
Tình Thù, tập truyện (Mai An
xuất bản),
Nay Tôi Mai Ai?
(truyện dài đang từ  kỳ trên
tuần báo Saigon, Orange
County),
Người Căm Thù Ruồi
(Người Việt xuất bản), Những
Mảnh Đời Tị Nạn (Xuân Thu
xuất bản),
Đi, bút ký (Á Mỹ
xuất bản),
Khai Quật Kho
Tàng Cổ Sử Hừng Việt
(Y Học
Thường Thức xuất bản,
1999),
Ca Dao Tục Ngữ, Tinh
Hoa Dân Việt, (YHTT, 2002),
Tiếng Việt Huyền Diệu (Hừng
Việt xuất bản, 2004),  
Việt
Dịch Bầu Cua Cá Cọc
(sách
và trò chơi), Hừng Việt 2006.
Giải Đọc Trống Đồng Nòng
Nọc, Âm Dương Đông Nam
Á,
Hừng Việt 2008.

Nguyên chủ nhiệm kiêm chủ
bút
lưỡng nguyệt san Y Học
Thường Tức  tại Little Saigon,
Orange County