Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt

Ca Sĩ Vũ Anh – Hòa âm Quốc Toản
<bgsound src="http://www.hungsuviet.us/files/DayNamquanmoi.mp3" loop=true>
Ải Nam Quan
(h. E. Burmand 1887)
                                                         Ải Nam Quan:

Ải Nam Quan: Là cửa ải biên giới Việt Hoa thuộc xã Đồng Đăng và Bảo Lâm (Lạng Sơn), có
tường thành bằng gạch  xây dọc theo sườn núi đường biên giới suốt 110 trượng, thuộc châu
Văn Uyên cách thị trấn Đồng Đăng 4 km, cách thị xã Lạng Sơn 18 km, phía bên kia ải là
Bằng Tường thuộc tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Cửa ải này do người Tàu xây dựng từ đời
Gia Tĩnh triều Minh (1522-1566), còn tên nữa là “Đại Nam Quan”.

Theo Đại Nam Nhất Thống Chí mô tả: “Phía đông cửa ải là một dải núi đất, phía tây là dải núi
đá, tường gạch xây dựa theo chân núi gồm 119 trượng, cửa quan ở quãng giữa, trên biển
đề 3 chữ “Trấn Nam Quan”, có một  cửa (có khóa) , khi sứ bộ đi qua mới mở. Bên trên cửa
có trùng đài, biển đề bốn chữ “Trung ngoại nhất gia”, dựng từ năm tân sửu đời Càn Long
nhà Thanh. Phía bắc cửa có Chiêu Đức đài, đằng sau đài có Đình tham đường (nhà dừng
ngựa), của nước Thanh; phía nam có Ngưỡng Đức Đài, của nước ta, bên tả, bên hữu đài có
hai dẫy hành lang, mỗi khi có sứ bộ đến cửa quan, thì dùng chỗ này làm nơi tạm nghỉ...” .
Nơi đây ngoài phần xây cất của nước Đại Việt còn có bia đá ghi địa giới hai nước vào
khoảng đời vua Lê Cảnh Hưng (1740-1786).

Nước Đại Việt thường gọi ải Nam Quan là ải Pha Lũy. Đại Nam Nhất Thống Chí gọi là cửa
quan Nam Giao, Tàu gọi là Trấn Nam Quan, Mao Trạch Đông đổi là Mục Nam Quan (mục là
hòa mục) và Hồ Chí Minh gọi là Cửa Hữu Nghị (không còn tên Nam Quan).

Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam, ký kết giữa 2 Đảng Cộng Sản Trung Quốc và
Việt Nam tại Hà Nội ngày 30 tháng 12 năm 1999, Việt Nam đã phải nhượng cho Trung Quốc
720 km2 đất biên giới thuộc hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn. Như vậy ải Nam Quan đã nằm
sâu trong lãnh thổ Trung Quốc. Từ biên giới phía Việt Nam không còn trông thấy cửa ải Nam
Quan nữa.

Được biết, quân Tàu muốn qua xâm lăng Đại Việt chỉ có 2 con đường thuận tiện: đó là
đường thủy từ Quảng Đông ra biển để vào sông Bạch Đằng và đường bộ từ Quảng Đông
lên Quảng Tây rồi vào nước Nam qua 2 con đường chính:

Đường thứ nhất từ Nam Ninh (xưa là Ung Châu), Bằng Tường theo thung lũng các sông nhỏ
như Bằng Giang, Kỳ Cùng vào Lạng Sơn, qua một ngọn đèo có ải Nam Quan, qua ải Chi
Lăng, xuống thung lũng sông Thương đến Bắc Ninh, tiến qua Thăng Long.

Đường thứ nhì từ Vân Nam qua Lào Cai theo thung lũng sông Hồng xuống Thăng Long
(đường này dài hơn, khó đi vì núi non hiểm trở).

Về lịch sử:

Năm 981 nhà Tống sai bọn Hầu Nhân  Bảo, Tôn Toàn Hưng, Trần Khâm Tộ, Lưu Trừng, Giả
Thực sang xâm lăng Đại Cồ Việt, bị vua Lê Hoàn đánh tan, Hầu Nhân Bảo bị chém, Quách
Quân Biện và Triệu Phụng Huân bị bắt. Thủy quân của  Lưu Trừng phải bỏ chạy về Tàu.

Năm 1075 Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem quân vượt ải Nam Quan đánh chiếm 3 châu
Khâm, châu Liêm (Quảng Đông) và châu Ung (Quảng Tây).

Đầu năm 1285 nửa triệu quân Nguyên do thái tử Thoát Hoan chỉ huy qua ải Nam Quan tấn
công Đại Việt, nhưng bị quân Trần Hưng Đạo đánh đuổi tơi bời, Thoát Hoan phải chui vào
ông đồng mà chạy thoát.

Năm 1287, quân Nguyên lại do Thoát Hoan chỉ huy qua ải Nam Quan sang đánh báo thù,
nhưng bị quân Nam đánh bại, Ô Mã Nhi bị bắt trên sông Bạch Đằng.

Năm 1407, ông Nguyễn Trãi tiễn cha là ông Bảng Nhỡn Nguyễn Phi Khanh tại cửa ải Nam
Quan và cha ông đã khuyên: “Con hãy trở về cứu lấy giang san để trả thù cho cha, rửa hờn
cho nước.” Sau ông Nguyễn Trãi đã giúp Bình Định Vương Lê Lợi đánh đuổi được quân
Minh ra ngoài bờ cõi.

Năm 1788 quân Mãn Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy sang chiếm Thăng Long do lời mời của
vua Lê Chiêu Thống. Đầu năm 1789, vua Quang Trung Nguyễn Huệ đã đánh tan 20 vạn
quân Thanh, đuổi Tôn Sĩ Nghị về Tàu qua ải Nam Quan.

Ải Nam Quan mới
Ải Nam Quan 1903