Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt
VIETCH-PAF
HUYỀN ThOẠI VIỆT NAM
1- Con Rồng Cháu Tiên
Tranh Thanh Trí
Theo truyền thuyết, Thần Nông là Tổ Tiên những dân tộc trồng lúa nước. Cháu ba đời vua
Thần Nông là Đế Minh đến Ngũ Lĩnh, kết duyên với một nàng Tiên sinh ra Kinh Dương
Vương làm vua phương Nam.

Kinh Dương Vương lấy Long Nữ dòng giống Rồng, sinh ra Lạc Long Quân. Vì thời xưa theo
chế độ Mẫu Hệ, nên Kinh Dương Vương theo họ mẹ là Tiên và Lạc Long Quân theo họ mẹ
là Rồng.

Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ sinh ra một trăm con trai làm vua “Một Trăm Giống Việt” (Bách
Việt), trong đó con trưởng là Hùng Vương làm vua nước Văn Lang tức nước Việt Nam ngày
nay.

Vua Hùng là Quốc Tổ dân tộc Việt, là con Lạc Long Quân và Long nữ (con Rồng) và là
cháu Kinh Dương Vương và Tiên nữ  (cháu Tiên).  

Vì thế chúng ta đều là Con Rồng Cháu Tiên vậy.
2- Trăm Con Lạc Việt  
Tranh Vi Vi
Theo truyền thuyết, Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ sinh ra một bọc trứng nở ra một trăm con
trai. Do tích này, người Việt Nam thường gọi nhau là “đồng bào” và coi nhau như anh em
cùng một Mẹ Âu Cơ.

Về sau, 50 con theo cha Lạc Long xuống biển Nam Hải, đến các hải đảo quanh vùng (?) và
50 con theo Mẹ Âu Cơ lên núi, băng rừng đến định cư tại đồng bằng sông Hồng, lập ra
nước Văn Lang tức nước  Việt Nam ngày nay (biên giới phía Bắc từ dãy núi Ngũ Lĩnh, đến
biên giới phía Nam là nước Hồ Tôn (Chiêm Thành) ở khoảng đèo Hải Vân; phía Tây giáp Ba
Thục và phía đông giáp biển Đông.

Người Việt Nam ngày nay có nguồn gốc từ  dòng giống Lạc Việt (họ Hồng Bàng), một trong
những dân tộc Bách Việt còn tồn tại sau khi bị người Hán đánh chiếm đất đai và đô hộ hàng
ngàn năm…
7- Sơn Tinh và Thủy Tinh
Sơn Tinh và Thủy Tinh là hai vị thần núi, thần sông pháp thuật tài gỉỏi. Cả hai đều muốn
cưới con gái vua Hùng thứ 18 tên là Mỵ Nương, sắc đẹp tuyệt trần. Vua Hùng hẹn ai mang
lễ vật đến trước sẽ gả con gái cho.

Sáng hôm sau, Sơn Tinh mang lễ vật đến trước, cưới được vợ đưa về  núi Tản Viên. Thủy
Tinh đến sau thấy Sơn Tinh đã cưới nàng Mỵ Châu nên tức giận, làm mưa to gió lớn, nước
dâng lên cao. Nhưng Sơn Tinh đã dùng phép, nước dâng cao bao nhiêu, núi cao lên bấy
nhiêu, lại làm sấm sét đánh xuống. Thủy tinh thua phải rút nước bỏ chạy, nhưng vẫn thù
hận nên đánh nhau mãi.

Huyền thoại này ứng vào sự lụt lội hàng năm tại Bắc Việt, do nước lũ từ mạn ngược (cao
nguyên) chảy xuống, nước sông Hồng dâng cao từ tháng 6, tháng 7 làm ngập lụt ruộng
vườn, mất mùa, dân chúng đói khổ. Sau này người ta phải đắp đê hai bờ sông để ngăn lũ.
8- Lý Ông Trọng
Cuối đời vua Hùng, ở huyện Từ Liêm quận Giao Chỉ, có người tên là Lý Thân rất tài giỏi,
thân hình cao lớn và khỏe mạnh lạ thường. Đến thời vua An Dương Vương, Tần Thủy
Hoàng muốn xâm chiếm Âu Lạc nên An Dương Vương phải sai người đi sứ cầu hòa. Lý
Thân có sức khỏe hơn trâu và thắng tất cả vệ sĩ của Thủy Hoàng nên được phong tước
Vạn Tín Hầu trấn đất Lâm Thao phía bắc nước Tàu, khiến giặc Hung Nô đều khiếp sợ. Sau
Lý Thân nhớ nhà, xin về quê và ở lại không chịu đi đâu cả. Vắng bóng Lý Thân, giặc Hung
Nô lại sang quấy nhiễu. Tần Thủy Hoàng sai sứ sang mời Lý Thân, An Dương Vương phải
trả lời rằng Lý Thân đã chết rồi.

Vua Tần thương tiếc cho đúc tượng Lý Thân giống như người thật và ban danh hiệu là Lý
Ông Trọng. Khi đẩy tượng Lý Ông Trọng ra biên ải, quân Hung Nô trông thấy đều bỏ chạy
cả. Từ đó, Lý Ông Trọng nổi danh khắp nước Tần và đối với Hung Nô, chỉ cần nghe đến tên
thôi cũng đã đủ siêu hồn bạt vía.   
5- Bánh chưng, bánh dầy
Sau khi dẹp yên giặc Ân, trong nước thái bình, vào cuối năm vua Hùng thứ 6 họp các quan  
Lạc Hầu, Lạc Tướng và những Quan Lang (hoàng tử) lại bàn việc truyền ngôi. Ngài truyền
rằng: “Ai tìm được món ăn ngon và có ý nghĩa để dâng cúng Tiên Vương, ta sẽ truyền ngôi
cho”. Các vị con vua đều sai người nhà đi tìm của ngon vật lạ, chẳng thiếu thứ gì. Riêng
Lang Liệu (còn gọi là Tiết Liêu) là Quan Lang thứ 9, vì mẹ mất sớm, tả hữu chẳng có mấy
người, nên lo lắm.

Sắp đến ngày hẹn, Lang Liệu được thần nhân báo mộng, chỉ cách làm bánh chưng hình
vuông bằng gạo nếp nhân đậu xanh và thịt ở giữa gói bằng lá dong , buộc lạt thật chặt
chung quanh, tượng trưng cho mặt đất và bánh dầy hình tròn cũng bằng gạo nếp đồ thành
xôi rồi giã cho nhuyễn,  nắn thành hình tròn tượng trưng mặt trời. Gạo, lá đều rất sẵn.

Đến ngày thi, vua Hùng nếm các món ăn, nhưng chẳng thấy khác bữa tiệc của vua. Riêng
món bánh chưng, bánh dầy của Lang Liêu thì rất lạ miệng, ăn mãi không chán. Vua hỏi,
Lang Liêu tình thực nói về ý nghĩa của bánh chưng, bánh dầy. Vua ra lệnh Lạc Dân làm
bánh chưng, bánh dầy trong ngày Tết để dâng cúng Tổ Tiên và truyền ngôi cho Lang
Liêu.   
Mai An Tiêm là cậu bé 8 tuổi, thích sống tự lập, được vua Hùng đặt tên và nhận làm con
nuôi . Lớn lên, An Tiêm được vua Hùng cưới vợ cho và hai vợ chồng chăm chỉ làm rẫy,
chẳng bao lâu trở nên khá giả.  Một vài người ganh ghét đã tâu với vua Hùng rằng An tiêm
coi thường vua, coi việc giàu có là nhờ trời và nhờ tài sức của mình. Nhà vua nổi giận, đầy
gia đình An Tiêm ra ngoài hoang đảo ở biển Đông với lưong khô đủ ăn trong vài tháng.

Tại hoang đảo, An Tiêm cùng vợ con sống rất vất vả vì mọi đồ dùng, nhà ở đều phải tự làm
ra bằng hai bàn tay trắng. Chàng lấy đá đập vào nhau làm lửa, mài cây cứng làm thuổng
đào đất kiếm nước ngọt và mò cua bắt ốc mà ăn. Một hôm, có con chim lạ bay qua đảo, làm
rớt một ít hột mầu đen nhánh trên cát. An Tiêm vùi hột xuống cát, chẳng bao lâu cây mọc
thành dây, có nhiều trái tròn lớn hơn trái dừa, bên trong ruột mầu đỏ, ăn vùa mát vừa ngọt.
An Tiêm trồng thật nhiều và khắc chữ trên trái cây rồi thả dưới biển. Những khách thương
người Hoa bắt được, tìm đến đảo mua bán và khen “hẩu sực”. Từ đó người ta gọi đó là trái
“dưa hấu”, vì ruột mầu đỏ nên còn gọi là dưa đỏ. Vua Hùng nghe tin An Tiêm thành công
giàu có nên tha tội, cho An Tiêm về đất liền phát triển ngành trồng dưa, làm giàu cho nước
Văn Lang.
6- Quả dưa đỏ
Đời vua Hùng thứ 6 có giặc Ân từ phương Bắc rất hung dữ sang xâm lăng nước ta. Quan
quân đánh không nổi, vua Hùng phải sai sứ giả rao truyền khắp nơi, tìm người tài đánh giặc.

Tại làng Phù Đổng, bộ Võ Ninh (nay là huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh) có cậu bé tình
nguyện đi đánh giặc và xin vua đúc cho một con  ngựa sắt và roi sắt. Khi ngựa sắt và roi sắt
đúc xong, cậu bé vươn vai  trở thành một thanh niên cao lớn, cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt ra
trận: Ngựa sắt phun lửa ào ào khiến giặc Ân sợ hãi bỏ chạy. Roi sắt bị gẫy, cậu bé bèn nhổ
nguyên một bụi tre đánh tiếp.

Dẹp yên giặc Ân, cậu bé cưỡi ngựa đến núi Sóc Sơn thì biến mất. Hiện nay có đền thờ ở
làng Phù Đổng và về sau vua phong là Phù Đổng Thiên Vương.  
3- Phù Đổng Thiên Vương
4- Mị Châu  Trọng Thủy
Năm 257 TCN, vua Hùng thứ 18 bị Thục Phán bên Tàu đánh bại, chiếm mất ngôi. Thục
Phán lên làm vua xưng là An Dương Vương, đổi tên nước Văn Lang thành Âu Lạc và xây
thành Cổ Loa, được thần Kim Quy tặng “Nỏ Thần” bắn một phát giết hàng vạn người.

Năm 207 TCN, Triệu Đà lập ra nước Nam Việt độc lập với nhà Hán và xưng là Triệu Vũ Đế,  
gồm thâu vùng đất Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay. Triệu Đà hỏi cưới con gái An Dương
Vương là Mị Châu cho con trai Trọng Thủy với  ý định đánh tráo nỏ thần. Trọng Thủy về
thăm nhà và Triệu Đà tấn công thành Cổ Loa. Vì nỏ thần đã bị đánh tráo, nên An Dương
Vương thua chạy, mang theo con gái phía sau. Đến núi Mộ Dạ (Nghệ An), thấy quân nhà
Triệu đuổi gấp phía sau, nên khấn thần Kim Quy đến cứu. Rùa thần nói: “Giặc ở sau lưng
bệ hạ đó”. An Dương Vương quay lại thấy con gái, bèn rút gươm chém chết. Trọng Thủy
theo dấu lông ngỗng đến nơi, thấy vợ đã chết cũng nhẩy xuống giếng tự tận.

Vì bị chết oan, máu của Mị Châu loang xuống biển, được những con trai ăn phải, do đó
ngọc trai ở biển gần Mộ Dạ được rửa bằng nước giếng nơi Trọng Thủy tự tận, sẽ trong
sáng vô ngần.
Hinh trich tu vietlist.us
Hinh trich tu vietlist.us
Hinh trich tu vietlist.us
Hinh trich tu Truyen bang tranh Bui Van Bao
Hinh trich tu Truyen bang tranh Bui Van Bao
9- Chử Đồng Tử - Tiên Dung
Vua Hùng thứ ba có công chúa xinh đẹp tên là Tiên Dung. Nàng  thích du lịch đây đó bằng
thuyền. Một hôm Tiên Dung đến bờ biển một vùng phong cảnh tuyệt đẹp. Nhưng nơi đó có
hai cha con họ Chử rất nghèo khổ, phải dùng chung một cái khố che thân mỗi lần ra ngoài.
Khi người cha sắp chết, dặn con là Chử Đồng Tử hãy giữ chiếc khố mà dùng. Nhưng khi
chôn cha, Chử Đồng Tử không nỡ, đã mặc khố cho cha và đánh cá ban đêm, ban ngày bán
cá cho khách, chỉ lội dưới nước mà thôi.

Khi thấy du thuyền của công chúa Tiên Dung ghé bãi tắm, Đồng Tử vội đào một hố cát gần
bụi rậm rồi dấu mình dưới đó. Chẳng dè Tiên Dung chọn đúng chỗ Chử Đồng Tử núp mà
sai thị nữ quây vải lụa chung quanh cho nàng tắm. Khi công chúa xối nước, cát trôi đi để
thân hình Chử Đồng Tử lộ ra. Chàng sợ quá, toan bỏ chạy nhưng Tiên Dung gọi lại gạn hỏi
mới biết hoàn cảnh của chàng và cho là số trời nên lấy làm chồng. Vua Hùng biết tin, giận
lắm đuổi đi, không nhìn mặt nữa.
Tiên Dung và Chử Đồng Tử chu du khắp nơi và được sư Pháp Quang tặng cho cây gậy và
chiếc nón. Ban đêm cắm gậy xuống đất và úp nón lên sẽ tạo ra cung điện nguy nga. Đến
sáng nhổ gậy đi,  lâu đài và cung điện đều bay lên trời, đem theo cả Tiên Dung và Chử
Đồng Tử.     
Hinh trich tu Truyen bang tranh Bui Van Bao
Thời vua Hùng có hai anh em Cao Tân và Cao Lang, giống nhau như đúc. Vì cha mẹ mất
sớm nên hai anh em đến trọ học nhà thầy đồ họ Lưu. Thầy đồ yêu mến cả hai về tính nết
dễ thương.  Cô gái duy nhất của thầy đồ cũng mến hai anh em và muốn lấy người anh,
nhưng không biết là ai, mới bưng một bát cháo và một cái muỗng ra mời hai anh em ăn.
Người anh nhường cháo cho em, do đó mới biết Tân là anh. Cô gái xin cha cho lấy Cao Tân.

Có vợ rồi, người anh không còn săn sóc em như trước nữa. Lang buồn rầu bỏ nhà ra đi vào
rừng, đi mãi tới bờ suối lớn ngồi khóc và biến thành tảng đá vôi. Người anh về không thấy
em vội vào rừng và dựa lưng bên tảng đá vôi thương khóc biến thành cây cau. Vợ Tân chờ
mãi không thấy chồng về, cũng ra rừng tựa lưng vào thân cây cau ngồi khóc mãi, biến
thành cây trầu không quấn quanh cây cau. Vua Hùng nghe kể, rất cảm thương, ăn thử lá
trầu với cau và đá vôi nung, thấy mùi vị thơm ngon và nước trầu làm đỏ môi, mới truyền dân
gian dùng trầu cau trong lễ cưới hỏi.
10- Trầu Cau
Hinh trich tu Truyen bang tranh Bui Van Bao
(Tranh vinagames.com)