Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt
                  
                   
    Sống Chết Theo Thành
                                                              (Kịch Thơ hai màn, hai cảnh)


Bối cảnh lịch sử:

Sau khi quân Pháp đánh chiếm các tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Định Tường và Vĩnh Long
(1862), Vua Tự  Đức vội sai Phan Thanh Giản (1796 - 1867)* cùng phái đoàn vào Gia Định
giảng hòa. Ngày 9 tháng 5 năm 1862, Phan Thanh Giản ký bản Hòa ước với đại diện nước
Pháp là thiếu tướng Bonard (Hòa ước năm Nhâm Tuất), gồm 12 khoản, trong đó có điều
khoản nói rằng "Nước Nam phải nhường dứt cho Pháp 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định
Tường". Pháp bằng lòng trả lại tỉnh Vĩnh Long cho nước Nam.

Vua Tự Đức muốn chuộc lại 3 tỉnh đã mất, bèn sai Phan Thanh Giản (với tước Hiệp biện đại
học sĩ) cùng phái đoàn đi sứ sang Pháp và I Pha Nho điều đình. Phái đoàn Phan Thanh Giản
qua tới Paris, phải chờ 1 tháng mới được Pháp Hoàng Nã Phá Luân đệ tam tiếp kiến (vì là
thời gian nghỉ mát).  Phan Thanh Giản tâu bày mọi lẽ để xin chuộc 3 tỉnh Nam Kỳ, nhưng vua
Pháp hẹn sẽ trả lời cho Triều đình Huế sau. Phái Đoàn Phan Thanh Giản cũng qua I Pha
Nho, nhưng kết quả không có gì khả quan.

Việc điều đình xin chuộc lại 3 tỉnh Nam Kỳ chưa ngã ngũ, quân Pháp đã đặt xong nền bảo hộ
ở nước Cao Mên (1864), và người Pháp có ý định đánh chiếm nốt 3 tỉnh phía Tây Nam Kỳ để
tiện đường giao thông liên lạc với Cao Mên. Năm 1866, Triều Đình Huế sai Phan Thanh Giản
làm Kinh Lược Sứ  vào Nam tìm kế chống  giữ  quân Pháp, bảo vệ ba tỉnh miền Tây gồm có
thành Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

Tháng 6 năm đinh mão (1867), hải quân Trung tướng Pháp De la Grandière hội hơn 1000
quân ở Mỹ Tho, định ngày đánh lấy 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Biết rõ ý định thâm
độc của người Pháp và hiểu rõ tình hình yếu kém của quân Nam với gươm dáo cung tên và
súng cổ không thể chống lại vũ khí tối tân cùng quân lính thiện chiến Pháp, Quan Kinh Lược
Sứ Phan Thanh Giản đã uống thuốc độc tự tử, giao lại thành Vĩnh Long cho Pháp để quân
dân đở bị thiệt hại, đồng thời khuyên con cháu không bao giờ hợp tác với người Pháp.  
(Việt Nam Sử Lược - quyển II,  Xuân Thu xb - Trần Trọng Kim, nguyên văn: "Ông Phan Thanh
Giản biết thế không chống nổi, bảo các quan đành chịu nộp thành trì cho khỏi sự tai hại, rồi
ông uống thuốc độc mà tự tận, dặn lại con cái phải cày ruộng mà ăn, chứ không được nhận
quan chức gì ở Nam Kỳ".

Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn  Sơn cho biết thêm chi tiết hơi khác (1): "Ngày 17 và 18-6
quân Pháp lên đường có 1000 người Âu châu và 400 lính tập. Ngày 20 De la Grandière có
mặt trong trận đánh Vĩnh Long. Hạm đội của Pháp gồm có pháo thuyền Mitraille, Bourdais,
Alom Frah, Espignole, Glaive, Fanconneau, Hallebarde, Arc và một đoàn tàu vận tải.
Nhờ có sương mù của buổi sớm mai, đoàn tàu chiến của Pháp tiến đến đậu trước thành Vĩnh
Long mà bên ta không hay chi hết. Rồi họ đổ bộ, binh sĩ chĩa súng vào thành. Quá bẩy giờ
sáng thành bị vây hoàn toàn ta mới biết.

Bộ tham mưu Pháp phái Lagrand de la Liraye đem một tối hậu thư vào thành buộc quan ta
phải nhượng Vĩnh Long, An giang (Châu Đốc) và Hà Tiên, quá hai giờ sau Pháp sẽ công phá
thành.

Cụ Phan cùng Án Sát Võ Doãn Thanh  hết sức lúng túng, xin hội kiến với De la Grandière và
xin khoan hạn để hỏi ý kiến triều đình, biết rằng không thể đối phó nổi bằng quân sự với
Pháp.

Nhưng cuộc hội kiến vô kết quả, hai người trở ra về thì thành đã bị mất. Hôm ấy là 20-6-
1867. Giữa lúc tuyệt vọng này, vị Kinh Lược ba tỉnh miền Tây lại được tin báo: An Giang và
Hà Tiên cũng vừa đổi chủ.

Cụ Phan bắt đầu tuyệt thực. Cụ khuyên các con đừng hợp tác với Pháp và mai táng mình ở
quê nhà là làng Bảo Thạnh (Bến Tre). Sau 7 ngày cụ vẫn chưa được chết, phải uống thuốc
độc mới mất, và trước khi đặt chén vào môi, cụ mặc triều phục day mặt về phương Bắc lạy
vọng 5 lạy. Ngày tuẫn tiết của cụ là ngày 7-8-1867. Cụ thọ đúng 71 tuổi."


Nhân vật:

Phan Thanh Giản
làm Quan Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây Nam phần, đóng tại  Tỉnh Vĩnh
Long. Y phục quan văn.
Quan Hiệp Trấn: Võ quan phụ tá cụ Phan Thanh Giản. Mặc võ phục, đeo gươm.
Phan tiểu thư:  Con gái cụ Phan Thanh Giản, mặc áo dài, tóc búi cao, đeo gươm.
Phan công tử: Con trai cụ Phan Thanh Giản mặc võ phục, đeo gươm.
Viên quan Thông dịch:  Mặc đồ trận, mang súng lục.
Cận vệ: Sĩ quan cận vệ của gia đình quan Kinh Lược.
Một số binh lính ta.

Cảnh 1:

Cảnh nơi làm việc của quan Kinh Lược, có sân rộng trong thành Vĩnh Long, buổi sáng sớm
đầy sương mù. Tiếng gà gáy vang vang (hồi một). Bàn làm việc của cụ Phan có bộ đồ pha
trà, ấm nước, chén tách.

Cảnh 2:

Cảnh trong phòng làm việc tạm của cụ Phan, trên vách có treo 1 thanh gươm. Bàn làm việc
có 1 chén thuốc độc, 1 khẩu súng lục kiểu cổ. Phía bên có dàn cờ ngũ sắc. Thời gian: Buổi
trưa.

Nhạc đệm: Cổ nhạc u uất nhưng đầy hùng khí.




Mở Màn:

                                        Màn:1










Cảnh 1- Hồi 1:
Phan công tử đang tập luyện kiếm ngoài sân, trong khi cụ Phan Thanh Giản ngồi làm việc
trước án thư.  Tiếng ngâm hậu trường:

"Ta diệt xâm lăng với tấm lòng
Bừng bừng chính khí giữ non sông
Giặc thù cường bạo, lòng không nản
Sinh tử coi thường, dạ sắt son

(Bỗng có tiếng chó sủa vang và tiếng bước chân người ồøn ào, tiếng kẻng và tiếng tù và báo
động inh ỏi… Cận vệ hớt hải chạy tới.)
Cận vệ:
- Giặc Tây công tử ơi!  Giặc Tây tới công tử ơi...!
(Phan công tử thủ kiếm, vừa lúc cụ Phan Thanh Giản cầm gươm chạy ra):
Phan Thanh Giản:
- Có báo động, chuyện gì thế?
Cận vệ:
- Kính chào quan Kinh Lược.  
Bẩm...Bẩm...Giặc Tây tấn công...
Giặc Tây đông lắm!
Chĩa súng vào thành,
Tình thế nguy nan!
Phan Công Tử:
- Thưa cha,
Để con lên thành
Đốc quân phòng vệ...
Phan Thanh Giản:
- Được!
Con đem quân chặn giặc,
Nhớ bảo vệ dân lành.
Hỏa lực địch rất mạnh...
Đừng khinh xuất, đua tranh.
Phan công tử:
- Dạ, thưa cha con hiểu...
Phan Thanh Giản:
- Quan Cận vệ. Ông hãy đi với công tử!
Cận vệ:
- Dạ.
(Phan công tử vội vòng tay bái biệt cha, rồi chạy đi cùng với cận vệ.  Quan Hiệp Trấn cũng
vừa tới, báo cáo.)
Quan Hiệp Trấn:
- Bẩm quan Kinh Lược...
Giặc Tây bao vây thành.
Tôi đã cho báo động,
Các toán quân ứng chiến
Sẵn sàng diệt xâm lăng!
Phan Thanh Giản:
- Giặc đã bao vây thành ư?
Sao có thể thế được?
Lính phòng ngự trước sau,
Bến sông là vọng gác.
Thám tử ngủ mê sao?  
Quan Hiệp Trấn:
- Dạ! cũng bởi sương mù,
Đầy trời mây khói tỏa.
Đứng sát mặt chẳng thấy,
Quân ta nào có ngờ...
Phan Thanh Giản:
- Lực lượng giặc ra sao?
Quan Hiệp Trấn:
- Thưa ...
Có rất nhiều tàu chiến giặc trên sông.
Sương mù tan,  bây giờ ta mới thấy...
Thì hỡi ôi! Giặc đã trấn quanh vùng.
Phan Thanh Giản:
- Hừ! Quá bất cẩn!
Nhưng dẫu sao ta cũng phải  chịu phần trách nhiệm.
Quan Hiệp Trấn:
- Tôi quả là có lỗi,
Trời đất thật vô tình!
Nhưng quân ta khí thế,
Kỷ luật giữ nghiêm minh.
Phan Thanh Giản:
- Thế thì tốt.
Hãy bố trí quân tử thủ,
Tăng cường địa đạo, hầm chông.
Chờ giặc vào thành, nhất loạt
Bất ngờ xung kích, tấn công!
Giặc lợi hại súng dài, đại bác,
Ta sở trường gươm giáo, cung tên...
Quan Hiệp Trấn:
- Tôi hiểu...
Phan Thanh Giản:
- Xin hãy nhớ
Tinh thần rất quan trọng!
Vũ khí là tấm lòng,
Chí dũng mãnh, giặc phải chùn bước tiến.
Lòng hoang mang, ắt rước lấy bại vong!
Quan Hiệp Trấn:
- Thưa vâng...
Phan Thanh Giản:
- Vậy ông hãy điều quân theo kế hoạch,
Tôi lên thành hỗ trợ hùng khí của ba quân..
Quan Hiệp Trấn:
- Tuân lệnh...
(Quan Hiệp Trấn đi ra, Phan tiểu thư hốt hoảng chạy tới):
Phan tiểu thư:
- Thưa cha... giặc đã đến nhà...
Con xin được theo cha ra trận!
Phan Thanh Giản:
- Kià Phan nhi! Được, con hãy theo cha...
Lên mặt thành, điều động ba quân...
(Cụ Phan Thanh Giản toan cùng con gái lên mặt thành thị sát mặt trận, bỗng Phan công tử
chạy tới. Tiếng súng đại bác nổ rung trời chuyền đất.)
Phan công tử (từ xa chạy tới tìm gặp cha, báo cáo):
- Thưa cha...
Giặc đoán ta mai phục,
Nên tỏ vẻ nghi ngờ.
Dùng thần công bắn phá,
Chẳng dám tiến quân vô...
Phan Thanh Giản (thất sắc, nhưng cố giữ bình tĩnh):
- Hừ!  Đúng là quân man mọi.
Chúng muốn phá tan tành thành quách,
Giết muôn dân, làm rúng động  tâm ta!
Pháp Lan Tây văn minh, nhưng tàn ác,
Coi mạng người như cỏ rác, không ngờ!
Phan tiểu thơ (sợ hãi):
- Thưa cha...
Con phải lo di chuyển dân tị nạn,
Kẻo súng đạn kia hung dữ, vô tình!
Phan Thanh Giản:
- Phải đấy, con hãy mau đi...
Dẫn dắt dân ra khỏi thành, thoát vòng lửa đạn...
Để cha lo chiến đấu chống quân thù.
Phan tiểu thư:
- Thưa cha con đi...Xin cha bảo trọng!
Phan công tử:
- Thưa cha, xin phép cha con trở lại vọng canh.
Phan Thanh Giản:
- Hãy cẩn thận.
Phan công tử:
- Dạ.
(Tiếng súng nổ mỗi lúc một gắt , tiếng quân reo hò ồn ào. Cụ Phan Thanh Giản đang vung
gươm đi tới, bỗng ôm ngực, lảo đảo té xuống. Quân sĩ vội đi báo quan Hiệp Trấn)
Quan Hiệp Trấn (vội chạy tới):
- Quan Kinh Lược? Ngài đã bị thương?
Quân đâu, chuẩn bị cứu thương!
(Quan Hiệp Trấn dìu cụ Phan Thanh Giản trở lại bàn làm việc... bỗng Cận vệ chạy tới báo
cáo).
Cận vệ (thấy chủ tướng bị thương thì hốt hoảng):
- Quan Kinh Lược... Trời! Ngài đã bị thương!
Quan Hiệp Trấn:
- Có chuyện gì? Ông hãy báo cáo mau mau.
Cận vệ:
- Dạ...Công tử sai hạ quan về bẩm với Quan Kinh Lược...giặc Tây muốn điều đình.
Phan Thanh Giản (đang gục đầu trên bàn, bỗng cựa mình nói ú ớ):
- Nước...nước...!
Quan Hiệp Trấn (vội đưa ly nước đã rót sẵn):
- Quan Kinh Lược, ngài đã tỉnh?
Phan Thanh Giản (uống nước):
- Tôi không bị trúng thương
Do đạn giặc bắn trúng.
Nhưng đã bị nội thương...
Tim buốt nhói vô cùng!
(bỗng ngước mắt nhìn Cậïn vệ).
Này quan Cận vệ...ông đến đây có chuyện gì?
Cận vệ:
- Dạ, có viên quan Thông dịch
Mang thư Pháp đến điều đình.
Công tử sai hạ quan
Trình Ngài mọi sự tình.
Phan Thanh Giản (cố gắng ngồi thẳng dậy, sửa lại áo mũ chỉnh tề):
- Điều đình à? Được, cho vào.
Cận vệ:
- Dạ.
Quan Hiệp Trấn:
- Quan Kinh Lược! Ngài còn yếu lắm.
Phan Thanh Giản:
- Tôi không sao. Nghỉ chút là khỏe.
Quan Hiệp Trấn (rót thêm nước mời cụ Phan):
- Quan  Kinh Lược, quân Pháp điều đình, ngài tính sao?
Phan Thanh Giản:
- Tôi phải xem văn thư
Chúng điều đình ra sao?
Lúc đó mới ứng đối,
Nhưng quyết chẳng hàng đâu!
Quan Hiệp trấn:
- Dạ đúng thế! Ta không thể đầu hàng.
Viên quan Thông dịch  (cùng Cận vệ đi vào):
- Ô! Kính chào quan Tổng Đốc! Đây là thư  của ngài Trung tướng De La Grandière.
Phan Thanh Giản (mở thư  ra xem, bỗng nổi giận):
- Hừ! Đây là thư dụ hàng chứ đâu phải thư  điều đình...
Các ông nói: chúng tôi phải bỏ thành
Để dân được an thân...!
Nhưng thành mất, chúng tôi thề cùng chết...
Sống chết theo thành, là lý tưởng đương nhiên.
Viên quan Thông dịch:
- Vậy quí ông muốn gì?
Để tôi về trình lại,
Xin nhớ, chiến thuyền Pháp có hàng trăm đại pháo,
Chờ lệnh cùng hàng loạt... nổ tung trời...
Núi cũng lở, nói chi thành với quách,
Đạn vô tình, biết đến...đã than ôi!
Điều tiên quyết : Nạp thành, dân vô tội.
Trong 2 giờ, thời hạn ngắn thế thôi!
Quan Hiệp Trấn:
- Hừ! Các ông chớ vội rung cây nhát khỉ!
Chúng tôi thề chiến đấu, chẳng dâng thành...
Muốn cướp đoạt, hãy bước qua xác chết
Kẻ hèn nầy, và tất cả quân Nam!
Phan Thanh Giản:
- Đó là lời nói thật,
Các ông sẽ không quên.
Chúng tôi thề quyết tử,
Thiệt hại nặng nề, là lẽ đương nhiên!
Thử hỏi, các ông muốn chiếm thành... hay nghĩa địa?
Cái giá này, không rẻ... cả đôi bên!
Viên quan Thông dịch:
- Ố là là! Các ông liều mạng như thế để làm gì?
Phan Thanh Giản:
- Ha ha ha! Đó là hùng khí của nhà Nam?  
Đó là tinh thần bất khuất...
Thà chết làm ma, giữ đất quê hương.
Đối với quân Nam, chỉ có một con đường:
Sống chết với thành, quyết không đầu hàng giặc!
Viên quan Thông dịch:
- Nhưng còn dân của các ông?
Dân trong thành này không ít,
Họ tội tình gì, tức tưởi phải hy sinh?
Phan Thanh Giản:
- Cũng vì dân, ta mới phải điều đình...
Điểm thứ nhất: Hai bên cùng ngưng chiến.
Điểm thứ hai: dân chúng được rời thành.
Điểm thứ ba: Hãy đợi vài ngày nữa,
Ta tâu trình để đức vua hay.
Có chỉ thị, sẽ cùng bàn chi tiết,
Ngưng chiến  tức thì, tiết kiệm máu xương ngay!
Viên quan Thông dịch:
- Vâng, tôi sẽ đệ trình đề nghị của Ngài lên quan Trung tướng hành quân!
Phan Thanh Giản
(Lấy giấy bút viết thư điều đình, đưa quan Hiệp Trấn):
- Được lắm!
Nhờ quan Hiệp Trấn cùng đi, mang thư  này đến trại Pháp để  thi hành!
Quan Hiệp Trấn:
- Xin tuân lệnh.
Viên quan Thông dịch:
- Xin Ngài bảo trọng!
Phan Thanh Giản:
- Cám ơn... xin chào!
(Quan Hiệp Trấn cùng viên quan Thông dịch đi ra).
Cận vệ (lo sợ rờ đầu rờ cổ):
- Dạ...Bẩm quan Kinh Lược..
Tình thế này làm hạ quan lo ngại quá!
Bước đường cùng! Ta phải đánh đi thôi!
Phan Thanh Giản:
- Ông không sợ chết  à?
Cận vệ:
- Dạ...làm người có ai không sợ chết?
Huống chi hạ quan còn vợ dại, con thơ...
Nhưng giặc vào thành, nếu ta không đánh,
Chúng cũng chẳng tha, chết nhục bơ vơ!
Phan Thanh Giản:
- Ông không có ý định chạy trốn hay đầu hàng à?
Cận vệ:
- Bẩm Ngài... Quân ta còn chiến đấu, hạ quan còn quyết chiến ...
Thân nhỏ nhoi,  nhưng tâm trí chẳng hèn đâu!
Phan Thanh Giản:
- Tôi thử lòng ông vậy thôi.
Hãy lên thành tiếp tay công tử!
Cận vệ:
- Dạ.(lui ra)
(tiếng súng giảm bớt, rồi ngưng hẳn. Thư điều đình ngưng chiến đã có hiệu lực, mặc dù bầu
không khí ngột ngạt của chiến tranh vẫn còn...)
Phan Thanh Giản (tuốt gươm chém vào không khí, lòng cảm khái):
-  Non nước xanh xanh vẫn một mầu,
Vận nước ai ngờ bên vực sâu!
Ôi nỗi nhục nhằn dân nhược tiểu,
Vũ khí thô sơ chẳng kịp người.
Ý chí tinh thần ta có đủ,
Kỹ thuật, nhân tài ...vẫn thế thôi!
Phan tiểu thư (hốt hoảng từ xa chạy về):
- Dạ thưa cha... cha đã bị thương?
Phan Thanh Giản:
- Cha không sao, chỉ bị nội thương.
Dân chúng sao rồi? Cha rất quan tâm...
Phan tiểu thư:
- Dạ thưa cha...
Con đã đưa họ xuống hầm ẩn náu,
Giặc bao vây không thể thoát xa hơn.
Chúng chỉ bằng lòng cho lính ta bỏ chạy,
Nhưng giữ dân, không cho phép rời thành!
Phan Thanh Giản (tức giận):
- Hừ, giặc Tây thật là gian ác,
Chúng ngang nhiên vi phạm điều hai.
Thư điều đình còn chưa khô dấu mực,
Chúng lại dùng dân áp lực ta đây!
Việc trước mắt, phải cứu ngàn sinh mạng,
Máu dân lành vô tội, đổ vì ai?!
(Có nhiều tiếng la hét, gây náo động cùng với tiếng chó sủa, tiếng chân người chạy sầm
sập...Phan công tử cùng Cận vệ trở về...)
Phan công tử (chất vấn cha, giọng như muốn khóc):
- Dạ thưa cha...sao cha lại hàng giặc?
Binh tướng ta đang phẫn nộ vô cùng!
Dẫu phải chết, giữ lấy thành cương quyết.
Làm kẻ đầu hàng, ôi nhục nhã, bi thương!
Phan Thanh Giản:
- Ai bảo ta hàng giặc?
Phan công tử:
- Thưa cha...
Quan Hiệp Trấn đã mang thư hàng giặc
Ra lệnh quân ta không được tấn công.
Giặc gầm gừ, nâng cao nòng đại bác,
Ta hoang mang, tủi nhục cúi đầu trông!
Phan Thanh Giản:
- Đó chỉ là thư điều đình ngưng chiến,
Chờ lệnh Triều đình, chi tiết rõ ràng hơn.
Phan công tử:
- Thưa cha,
Giặc Pháp âm mưu chiếm trọn miền Nam Việt,
Duyên cớ rõ ràng, tội ác từ lâu.
Ta phải đánh, kêu gọi toàn dân kháng chiến,
Điều đình với quân xâm lược, được gì đâu?
Phan Thanh Giản:
- Cha biết thế, nhưng mạng người là trọng,
Phải cứu lấy dân...quân lính...cơ đồ,
Không thể vô tình, danh vọng hão,
"Nhất tướng công thành, vạn cốt khô!"
Phan tiểu thư:
- Anh hai à...
Có đến cùng dân, mới thấu lòng trắc ẩn
Của cha già...trong nhiệm vụ cam go.
Tướng giữ thành bảo vệ gì trên hết?
Bảo vệ dân, hay bảo vệ cơ đồ?..
Phan Thanh Giản:
- Nói như thế, cha biết con đã lớn,
Đủ trưởng thành, phán xét việc hơn thua..
Phan công tử:
- Con xin lỗi...Nhưng trong lòng đau sót.
Sự việc nầy, ai đã gây nên?
Đình thần u mê,  tinh thần nô lệ,
Biết thế giới văn minh, vẫn nhắm mắt làm ngơ!
Cha đi sứ về, họ không nhìn sự thật,
Chỉ tin Bắc phương... nhất nhất Bắc phương cơ!
Ôi! Đau đớn nghe non sông rền rĩ,
Máu đồng bào hay chính máu ta rơi?
Giặc gian ác điên cuồng như hổ đói,
Đất miền Nam tơi tả tựa con mồi!
Phan tiểu thư (nói như muốn khóc):
- Thật tức chết! Dịp canh tân đã mất.
Bản "điều trần" Trường Tộ, Nguyễn Điều kia...
Mong đổi mới theo nước ngoài học hỏi,
Nhưng vua quan như điếc chẳng thèm nghe.
Phan công tử ( vọâi dơ tay chặn lại):
- Ấy chết! Em cẩn thận,
Nên giữ mồm, giữ  miệng
Sự thật lời ngang trái,
Dễ mang tội khi quân.
Phan tiểu thư (vẫn còn tức) :
- Tội khi quân... Tội khi quân. (2)
Nói gì cũng sợ tội...
Dân ngậm miệng mãi thành câm!
Quyền thần thì không ai muốn biết,
Nên giả câm, giả điếc để an thân!
Ôi một nước toàn người câm với điếc,
Có khác chi một nước chết, vô hồn!
Phan Thanh Giản (dơ tay cản):
- Anh con đúng, phải ôn tồn suy nghĩ,
Không nên nói năng trái đạo quân thần.
Cha đồng ý, dân ta cần học hỏi,
Thanh niên các con  gánh vác chuyện tu thân....
Ôi! Nước mất,  đâu phải ta hèn yếu!
Bởi u mê tin số phận do trời...
Không chủ kiến, để lo toan cải cách,
Nông nỗi này, trời cũng bó tay thôi!
Phan tiểu thư:
- Con biết lỗi...Vì triều đình chia rẽ
Thành hai phe: Phe chiến, phe hòa...
Nhưng muốn hòa mà ta không sức mạnh,
Có khác gì đầu hàng giặc, an thân.
Còn chiến đấu, súng gươm thời thái cổ,
Đem so tài, nào có khác thiêu thân?!
Phan Thanh Giản:
- Con biết lỗi là tốt!
Nên nhớ rằng:
Dân nhược tiểu nếu biết mình hèn yếu,
Phải kiên cường quyết học hỏi tiến thân.
Sống sa đọa, ru hồn trong ảo mộng,
Biết bao năm mới thoát khỏi cùm gông?!
Phan công tử:
- Dạ thưa cha, con xin ghi nhớ lời cha dạy.
Phan Thanh Giản:
- Thôi được...hãy lên thành canh gác!
Phan công tử:
- Thưa cha...
Nếu  giặc giở trò bội ước tấn công ta.
Con quyết hy sinh, giữ thành trì lăng miếu,
Đem thân nam nhi trả nợ nước non nhà!
Phan tiểu thư:   
- Xin anh hãy coi chừng!
Đại bác địch bắn tầm xa chính xác,
Còn súng trường nạp hậu,  mạnh kinh hồn!
Cung kiếm của ta làm sao chống lại...
Với đạn thù hỏa lực tứ phương!
Phan công tử:   
- Giữ bình tĩnh, chúng đến gần ta đánh,
Sáp lá cà, cận chiến chắc ai hơn?
Trong chiến đấu, tinh thần là tất cả,
Hãy vung gươm, theo bước của tiền nhân!
Ha! Ha! Ha! (ngâm)
"Chí làm trai dặm nghìn da ngựa"
"Coi Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao..." (Chinh Phụ ngâm)
Nào, anh em ta cùng tiến lên thành ...
Phan tiểu thư:
- Em cũng chả sợ gì!
Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh.
Há bo bo yếm thắm, quần hồng?!
Mài gươm gìn giữ non sông,
Xứng danh con cháu Lạc Hồng, Triệu Trưng...
Thưa cha, chúng con đi!
Phan công tử:
- Xin cha bảo trọng!
(Hai anh em họ Phan cùng múa kiếm tiến lên thành).  
Phan Thanh Giản (cười sung sướng):
- Ha ha ha...Chúng thực xứng đáng là con dân nước Việt!   




                                                      Màn hai

                                                        Cảnh hai:
<bgsound src="http://www.hungsuviet.us/files/songchettheothanh1.mp3" loop=true>