Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt
LĂNG MỘ TRIỆU VĂN ĐẾ
Ở QUẢNG CHÂU

(Nguyễn Duy Chính)

DẪN NHẬP

Giới nghiên cứu đã có nhiều tranh biện Triệu Đà và con cháu ông có nên liệt kê vào
một trong những triều đại trong quốc sử hay chỉ nên coi như thời điểm mở đầu cho một
giai đoạn ngoại thuộc kéo dài hơn 1000 năm? Chúng ta vẫn chưa có câu trả lời chính
xác và những bộ sử lớn của nước ta như Đại Việt Sử Ký triều Lê, Khâm Định Việt Sử
triều Nguyễn tuy có chép đến nhưng các sử thần không coi là chính thống.1 Thế nhưng
thái độ ngạo nghễ của bản thân Triệu Đà đối với nhà Hán cũng như ý chí bất khuất của
tể tướng Lữ Gia lãnh đạo một cuộc chiến đấu chống xâm lăng sau này, nên không ít
người trong chúng ta vẫn coi nhà Triệu phần nào đại diện cho tính khí quật cường của
dân tộc. Nguyễn Trãi khi viết Bình Ngô Đại Cáo cũng liệt kê họ Triệu như một triều
đại của Việt Nam:

...
tự Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc, dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế
nhấr phương
. ...(...自趙丁李陳之肇造我國,與漢唐宋元而各帝一方 )

nghĩa là

...
từ các triều đại Triệu, Đinh, Lý, Trần xây dựng nước ta, cùng với Hán, Đường, Tống,
Nguyên (của Trung Hoa) mỗi bên một phương làm chúa tể...

Tuy địa vực của thời kỳ này khác xa lãnh thổ của nước Việt hôm nay, triều đại nhà
Triệu cũng như nhà Thục (An Dương Vương) vẫn được chép vào quốc sử, nên việc tìm
hiểu thời kỳ đó ít nhiều cũng soi sáng những sinh hoạt xã hội trong thời kỳ mà tài liệu
còn ít ỏi, mù mờ.

Cho đến nay, các sử gia vẫn cho rằng việc du nhập một số định chế đời Hán chỉ được
tiến hành trong thời Bắc thuộc, khi nước ta trở thành một phần lãnh thổ của họ. Những
khám phá mới đây cho thấy lập luận này không đứng vững mà trong nhiều thiên niên
kỷ, một nền văn minh riêng biệt đã tồn tại ở vùng Đông Nam Á mà địa giới lan rộng tới
cả vùng Hoa Nam. Những khác biệt rất rõ rệt của văn minh phương Nam – ngồi xổm,
đội khăn, ăn trầu, nhuộm răng, đi chân đất ... – và những tập quán bản địa đến nay cho
thấy người Việt chúng ta vẫn còn rất nhiều gần gũi với phương Nam hơn là bị đồng hoá
bởi phương Bắc. Trong khi văn minh Hoa Hạ mang tính khép kín của một đại lục thì những
dân tộc tiếp giáp với biển cả có nhiều sinh hoạt phóng túng hơn và việc trao đổi
đa phương với các nền văn hoá khác vẫn còn tiếp tục.

MỘT KHÁM PHÁ BẤT NGỜ

Nếu ai đọc qua Tam Quốc Chí đều biết đến cái tên Tôn Quyền ( 孫權 ), con thứ của Tôn
Kiên, em của Tôn Sách, người được mệnh danh là mắt biếc, râu tía, trong thế tam phân
thiên hạ kế vị anh làm chúa tể đất Giang Đông. Khi làm chủ nước Ngô (bao gồm cả
miền nam Trung Hoa và miền bắc nước ta ngày nay), Tôn Quyền nghe nói trong các
ngôi mộ của họ Triệu – tức Triệu Đà và con cháu – có nhiều bảo vật nên sai tướng là
Lã Du (
呂瑜 ) đem quân xuống Quảng Đông tìm kiếm, tất cả những nơi nghi là lăng mộ
họ Triệu đều được đào sâu ít nhất 3 thước (Tàu). Công cuộc khai quật để lấy châu báu
đó chỉ thành công một phần và quân Ngô chỉ tìm ra mộ của Anh Tề (
嬰齊 ), cháu gọi
Triệu Đà bằng ông cố 2, lấy được rất nhiều vật quí. Thế nhưng trong suốt hai ngàn năm
qua, mộ của Triệu Đà và cháu là Triệu Muội ở đâu vẫn không ai tìm được.

Tháng 8 năm 1980, trong khi tiến hành việc xây dựng một công trình ở phía bắc gò
Tượng Cương (
象崗 ), tỉnh Quảng Châu người ta vô tình tìm thấy một ngôi mộ cổ mà
sau này mới biết rằng chính là mộ của Triệu Muội (
趙眛 )3. Tượng Cương là tên của
một ngọn núi nhỏ chỉ cao có 49.71 mét, chung quanh đã khai phá xây cao ốc từ thập
niêm 1970s. Điều đáng ngạc nhiên là khi đào sâu vào đá núi đến 20 thước tây, lúc đó
mới gặp ngôi mộ này, thành thử suốt hơn hai nghìn năm không ai biết đến.
Việc tìm ra ngôi mọâ được sách vở tường thuật như sau:

Hôm đó, một chiếc máy đào đất to lớn liên tục đào vào Tượng Cương Sơn, khoét
sâu vào núi một lỗ hủng lớn. Đột nhiên mỏ máy bổ xuống một tảng đá, dội lên
nên thợ phải ngừng lại xem xét, không biết là vật gì, tất cả đồng ý di chuyển máy
sang đào ở bên cạnh nhưng đâu đâu cũng toàn là đá phiến, rõ ràng là phần trên
của một ngôi mả đá. Đoàn công nhân phải ngừng lại và báo cáo lên huyện để
chờ cấp trên cử nhân viên khảo cổ đến xem xét.

Sau khi tiến hành điều tra, các nhà nghiên cứu đi đến kết luận rằng đây là một
ngôi mộ được tạc vào trong núi, phía nam có một mộ đạo (đường hầm) thông xéo
vào dài chừng hơn 20 mét, chèn đầy đất và đá tảng chạy dài tới cửa mộ.4

Theo Mạch Anh Hào (Mai Yinghao - 麥英豪 ), giám đốc danh dự của Viện Bảo Tàng
thành phố Quảng Châu5 trong bài tường trình tại Hội Nghị Khảo Cổ Đông Nam Á từ ngày 9
đến ngày 13 tháng 3 năm 19956 tổ chức tại Hội Nghị Sảnh, đại học Hương Cảng
thì vì có kinh nghiệm với nhiều lần khai quật khác không mấy thành công, thành phố
Quảng Châu đã quyết định thực hiện công trình này bằng cách cố giữ ngôi mộ cho
được nguyên trạng bằng cách đào ngang thay vì đào từ trên xuống theo lối thông
thường và dự định sẽ xây dựng một viện bảo tàng ngay tại đây để duy trì một di tích
quan trọng.7

Ngày 25 tháng 8 công tác khai quật ngôi mộ này thực sự bắt đầu. Việc mở cánh cửa đá
đầu tiên cũng gặp khó khăn. Khi xây ngôi mộ này, cổ nhân thực hiện hai khung cửa đá
cách nhau chừng 10 mét theo một đường hầm thoai thoải. Đằng sau khung cửa đá có
một bộ phận, khi cửa đóng lại sẽ tự động tuột ra khiến cho vòm cửa sụp xuống. Cửa
đằng trước cũng có một cơ quan bí mật khiến cho toán khảo cổ phải đục đá ra mới vào
đường hầm được.

Ngôi mộ chính có diện tích chừng 100 m2, bao gồm 7 gian phòng, trần cao 2 mét, chung
quanh tường đều lát bằng đá xanh, dưới sàn lát gỗ. Sau khi vào được mộ rồi, các nhân
viên khảo cổ bắt đầu công việc thu dọn cho sạch sẽ. Việc dọn dẹp đáng kể nhất là
những gian phòng phía tây, là nơi tàng trữ các loại khí dụng và châu báu, rất nhiều đồ
tuỳ táng (đồ chôn theo người chết). Nghiên cứu kỹ lưỡng, đội khảo cổ quyết định sẽ
nằm bò ngay trên ván gỗ để phân loại tại chỗ.

Sau khi xúc hết đất cát trong căn phòng chính, người ta thấy lộ ra dấu vết của một quan
tài gỗ và một hình người. Mộ chủ được đặt trong một bộ quần áo bằng ngọc theo lối
chôn các bậc vương hầu đời Tây Hán8, ngang lưng đeo mười thanh kiếm bằng sắt có
khảm vàng, thanh dài nhất là 1.46 mét. Trong những ngôi mộ đời Hán đã khai quật,
đây là thanh kiếm thép dài nhất từ trước tới nay. Trên đầu mộ chủ có móc vàng và
trang sức bằng ngọc, chế tạo khéo léo, lót dưới ót là túi dệt bằng tơ, đựng ngọc trai.
Chung quanh mộ chủ cũng vương vãi rất nhiều món đồ khác được điêu khắc tỉ mỉ là
những món ngọc quí giá đời Hán.

Trong khi mọi người còn đang suy đoán không biết người chết mặc áo ngọc này là ai
vào buổi chiều ngày 22 tháng 9 một việc khá bất ngờ xảy ra. Một đội viên trong nhóm
khảo cổ vô tình phát hiện một chiếc ấn vàng, núm hình rồng cuộn, sáng lấp lánh đặt ở
khoảng giữa ngực và bụng của mộ chủ. Sau khi dùng bàn chải quét sạch lớp bụi đất
đóng ở trên chiếc ấn, lật ngược lại thì thấy dưới đáy khắc bốn chữ
“Văn Đế Hành Tỉ”
( 文帝行璽 ) theo lối tiểu triện Việc tìm ra chiếc ấn vàng này đã cho phép các nhà nghiên
cứu xác định được người nằm trong ngôi mộ chính là vua thứ hai nhà Triệu nước Nam Việt,
tên chính là Triệu

Muội, là cháu gọi Triệu Đà bằng ông. Triệu Đà làm vua rất lâu, sống thọ9 nên khi qua
đời, con ông đã chết rồi nên truyền ngôi cho cháu. Bốn chữ khắc trên ấn cũng đặt ra
nhiều câu hỏi, không phải chỉ cho các sử gia Trung Hoa mà cho cả Việt Nam. Theo sử
cũ, Triệu Đà xưng đế nhưng về sau thần phục nhà Hán được phong là Nam Việt
Vương. Tuy nhiên nếu Triệu Muội vẫn dùng con dấu Văn Đế thì chúng ta có thể tin
rằng Triệu Đà cũng là người mở đầu cho một chính sách ngoại giao kéo dài tới tận
ngày nay. Đó là tuy thần phục và chấp nhận được triều đình Trung Hoa phong vương
(lúc này là Nam Việt Vương, sau này là An Nam quốc vương ...) nhưng chỉ trên hình
thức, trên thực tế các vua nước ta vẫn tự cho mình là hoàng đế, ngang hàng với Trung
Hoa. Chính vì thế nên Triệu Muội đã sử dụng con dấu
“Văn Đế hành tỉ”.

BỐ CỤC CỦA NGÔI MỘ

Theo các nhà chuyên môn, ngôi mộ được kiến trúc theo bố cục tiền triều hậu tẩm10
(phía trước là triều đình, phía sau là cung điện của vua ở), xây bằng tổng cộng hơn 750
phiến sa nham (
砂巖 ) bao gồm tất cả trước sau 7 gian phòng. Việc đục núi làm lăng
(phách sơn vi lăng -
劈山為陵 ) để khỏi phải đắp đất bắt đầu từ thời Tần – Hán nhưng
chỉ trở thành một định chế từ đời Đường mà thôi.

Từ bên ngoài vào theo một thông đạo thoai thoải đi xuống chừng 10 thước thì đến cửa
vào thứ nhất. Thông đạo này kiến trúc như một ống hình vuông dài kết thúc bằng hai
cánh cửa đá, trên cửa có gắn phô thủ (鋪首)) bằng đồng xanh có khắc hình đầu thú. Qua
khỏi cửa đến phòng ngoài (tiền thất) ở giữa, hai bên là hai phòng ngang (đông nhĩ thất
và tây nhĩ thất). Kế đó là phòng chính để mộ chủ, hai bên có hai phòng (đông trắc, tây
trắc) và sau cùng là một nhà kho. Bố cục của toàn thể ngôi mộ theo hình chữ giáp (甲)
được đặt theo hướng đầu về phương bắc, chân ở phương nam.

Phòng trước (tiền thất)

Trên tường của phòng trước vẽ nhiều hình dùng hai màu đen và đỏ các biểu tượng văn
hoá mà nhiều loại người Trung Hoa hiện nay vẫn còn sử dụng. Căn phòng đó có cửa
thông ra bốn bên, cửa phía nam tiếp với lối vào, cửa phía bắc vào phòng mộ chủ. Hai
cửa này có cánh cửa bằng đá còn hai cửa hai bên sang phòng phía đông, tây chỉ là hai
lỗ trống mà thôi.

Phòng hông (nhĩ thất)

Hai phòng phía đông và phía tây có chứa nhiều loại đồng khí, trong đó có các loại
chuông, khánh đá, nhạc khí, binh khí và ngọc khí. Ngoài ra còn một người bị chôn theo
(tuẫn táng).

Phòng chính

Phòng chính để mộ chủ còn gọi là địa cung vốn dĩ hình vuông tất cả lát đá nhưng lại
không có các hình vẽ như tiền thất mà đều để trần. Hai bên phải trái cũng có hai
phòng nhỏ, có cửa thông sang. Đằng sau phòng này có một phòng nhỏ làm kho chứa.
















                             Hình 1: Sơ đồ mộ Triệu Văn Đế

Phòng chứa

Ngay sau phòng để xác mộ chủ là một nhà kho (trữ tàng thất) để chứa thực phẩm. Đây
là phòng nhỏ nhất trong bảy gian phòng, hình dáng tương đối vuông vức. Tuy nhỏ
nhưng trong phòng chất hàng trăm vật dụng chồng lên thành nhiều tầng bao gồm đồ
đồng và đồ sành sứ trong đó có các loại đồ nấu ăn, đồ đựng thức ăn và bồn rửa. Những
nồi niêu dưới đáy còn vết tro than chứng tỏ những vật này thường được sử dụng để nấu
ăn cho mộ chủ, nay đem chôn theo người chết.

Để cho Triệu Văn Đếâ sinh hoạt, ngoài đồ dùng còn có rất nhiều loại thực phẩm, hầu
hết chứa trong các loại đồ đồng và đồ sành sứ. Trong hơn 30 đồ đựng thấy có các loại
thịt gia cầm, gia súc, hải sản được giám định như sau: thịt bò, thịt heo, thịt gà, sơn
dương, cá mè, tôm, ếch, chân rùa, sò hến và cá chép tổng số gần 20 loại khác nhau.
Trong ba chiếc hũ sành, người ta còn tìm thấy khoảng 200 con chim sẻ lúa11 đã chặt
đầu, chặt chân. Chim sẻ là một đặc sản đất Quảng Đông, như vậy món ăn này đã có từ
hơn 2000 năm trước.

CÁC BẢO VẬT TRONG MỘ

Theo tổng kết sơ khởi người ta liệt kê được hơn 200 món ngọc khí, điêu khắc tinh mỹ,
hơn 500 món thanh đồng và nhất là một bộ áo mặc cho người chết bao gồm nhiều
miếng ngọc khâu với nhau bằng tơ. Đây là
ti lũ ngọc y ( 絲縷玉衣 ) sớm nhất mà người
ta tìm thấy được ở Trung Hoa. Ngoài ra người ta còn kiếm được một bộ thanh đồng
đồng chung (
青銅筩鍾 )12 5 cái, một bộ nữu chung13 ( 鈕鐘 ) 14 cái, một bộ câu dược
(
勾鑃)14 8 cái trên có khắc “Văn Đế cửu niên” là những món đồ đồng mà người ta cũng
từng tìm thấy trong các ngôi mộ đời Hán khác. Trong mộ có tất cả 23 chiếc ấn là số
lượng nhiều nhất trong những ngôi mộ cổ trong đó chiếc ấn Văn Đế Hành Tỉ là ấn vàng
lớn nhất kiếm thấy đời Hán.

Trong số 36 cái đỉnh đồng có 8 cái khắc hai chữ Phiên Ngung (
蕃禺 ), lại có những vật
dụng nguồn gốc từ Tây Á và Phi Châu như đồ trang sức bằng vàng gắn hạt châu, hộp
bằng bạc, ngà voi, nhũ hương ... minh chứng nước Nam Việt cách đây 2000 năm đã có
buôn bán và giao dịch với nhiều nước trên thế giới bằng đường thuỷ.

Hành tỉ

Con dấu này vuông vức 3.1 cm, núm hình rồng cuộn, so với các ấn vàng khác cùng thời
có phần lớn hơn. Theo cổ tịch, ấn đời Hán được qui định là một tấc (khoảng 2.2 cm),
xem ra nước Nam Việt không tuân theo qui tắc của Hán triều mà có tiêu chuẩn riêng.
Con du long trên ấn cuộn theo hình chữ S, giương vuốt nhe nanh trông rất hùng tráng,
không có sừng nhưng hai tai to, thân có vảy, phần dùng để cầm trơn bóng nên các
chuyên viên khẳng định rằng đây là con dấu được dùng hàng ngày khi còn sinh tiền
chứ không phải được đúc để chôn theo khi đã chết.

Núm ấn hình con rồng cũng là một câu hỏi lớn về vị thế của vua Văn Đế. Cứ như qui
luật, một khi thần phục Trung Hoa, vua các phiên thuộc chỉ được phong vương, đúng lý
ra phải là Triệu Văn Vương. Ấn của phiên thuộc đời Hán làm bằng ngọc, núm hình con
li hổ (
螭虎 ), một động vật thần thoại, đầu rồng nhưng không có sừng, có bốn chân mà
ta thường gọi là con lân. Năm 1968, người ta đào được ở vùng phụ cận lăng của Hán
Cao Tổ tại Thiểm Tây một chiếc ấn làm bằng bạch ngọc có khắc
“Hoàng Hậu Chi Tỉ”
( 皇后之璽 ), núm hình con lân. Chiếc ấn này các chuyên gia khẳng định là của Lã hậu,
vợ Lưu Bang. Việc đúc ấn núm hình rồng bằng vàng lại lấy hiệu là Văn Đế chứng tỏ tổ
chức hành chánh và xã hội nước Nam Việt hoàn toàn độc lập với Trung Hoa. Ngoài ra,
với những qui mô người ta tìm thấy trong mộ mà ít nhiều như một triều đình thu nhỏ,
chúng ta có thể cho rằng nước Nam Việt thời đó tương tự như nhà Tần, pha trộn với một
số tập tục bản địa của vùng Lĩnh Nam chứ không phải bắt chước nhà Hán như trước đây
vẫn lầm tưởng.

Cũng theo sử sách ghi chép, các vua nhà Hán đều không xưng đế khi còn sống. Những
tên gọi như Cao Đế, Văn Đế, Vũ Đế ... đều là thuỵ hiệu (
謚號 ), do quần thần căn cứ
vào công nghiệp của tiên vương rồi truy phong nên ấn của vua Hán không hề có các
loại
“Cao Tổ chi tỉ”, “Vũ Đế chi tỉ” và cũng không chôn theo khi qua đời vì triều đình
nhà Hán có một bảo ấn gọi là truyền quốc tỉ (
傳國璽 ), được coi như tín vật chính thức
truyền ngôi, lưu giữ đời vua này sang đời vua khác. Nếu vị vua nào khi chết có ấn chôn
theo thì đó là ấn được đúc khi lâm chung theo ý của đương sự chứ không phải là ấn
dùng khi còn sống.

Một thắc mắc khác cũng đáng nêu lên là theo sử Trung Hoa, vua thứ hai của triều đại
nhà Triệu đất Nam Việt vẫn chép là Triệu Hồ (趙胡), sao con dấu này lại có tên là
Triệu Muội (趙眛), liệu có gì sai sót hay không? Đối với người Việt chúng ta có lẽ đây
là một nghi vấn lớn nhưng theo các chuyên viên ngôn ngữ tại Quảng Châu thì vào thời
Tây Hán, ngôn ngữ vùng Lĩnh Nam và trung nguyên hoàn toàn khác hẳn, tên của Triệu
Muội chép trong sử không phải là tên chính thức ghi trên giấy tờ qua lại mà chỉ là chữ
ký âm do lời khai của các sứ thần được cử đến, khi về triều tâu lại với Hán đế và
thường chỉ dùng một chữ Hán tương tự. Hiện nay tại vùng nam Trung Hoa, âm “
muội
vẫn còn phát âm giống như “hồ” nên việc dùng chữ nọ ghi âm chữ kia không phải là
chuyện đáng ngạc nhiên.15

Ngoài con ấn Văn Đế Hành Tỉ người ta còn tìm thấy một chiếc ấn vàng có khắc hai chữ
thái tử (泰子). Chiếc ấn này một chiều 2.6 cm, một chiều 2.4 cm không vuông hẳn.
Thời cổ người ta dùng lẫn lộn hai chữ thái (太 và 泰) cho nên chiếc ấn có lẽ là của
Triệu Muội khi ông chưa lên làm vua, chỉ mới là người được chỉ định kế nghiệp. Thế
nhưng đây cũng là một nghi vấn sử học vì theo sách vở con Triệu Đà là thái tử Trọng
Thuỷ chết trước khi ông qua đời, trên danh nghĩa Triệu Muội chỉ là cháu nội, không thể
được truyền vị thái tử, liệu có phải là của cha ông để lại hay chăng?

Ngoài chiếc ấn thái tử, người ta cũng tìm thấy 4 chiếc ấn khác chôn theo 4 người đàn
bà trong đó có một chiếc ấn có khắc 4 chữ Hữu Phu Nhân Tỉ (右夫人璽). Chiếc ấn này
vuông vức 2.2 cm được đúc bằng vàng ròng trong khi 3 chiếc còn lại là đồng mạ vàng
không gọi là tỉ mà chỉ là ấn. Theo qui định, chỉ ấn của hoàng hậu mới được gọi là tỉ,
như vậy một trong bốn người đàn bà địa vị rất cao và việc xưng hô của triều đình Nam
Việt không theo cách thức nhà Hán mà theo phong tục của dân địa phương. Từ điểm
này nhiều người đã xác nhận rằng nhà Triệu sau hai đời đã bị Việt hoá khá nhiều,
không phải chỉ là một bản sao của triều đình phương bắc nữa.

Cho đến nay, những sử gia Trung Hoa đều cố gắng dùng điển lệ của nhà Hán để giải
thích các di chỉ trong mộ Triệu Muội nên nhiều điểm chưa rõ ràng, biết đâu nếu các  nhà
khảo cổ Việt Nam bước vào nghiên cứu rất có thể đưa ra được một vài đáp số và bí
ẩn chưa tìm thấy.
















   
Hình 2: Ấn vàng Văn Đế Hành Tỉ và ngọc giác bôi

Đồ bạc

Hộp bạc hình tròn, chiều cao 12 cm, đường kính chỗ lớn nhất là 14.9 cm, nặng 572.6
gram tìm thấy trong phòng đặt quan tài mộ chủ, trong hộp có chứa 10 hộp nhỏ đựng
thuốc viên. Theo sự giám định của các chuyên gia về nghệ thuật tạo hình, chất liệu và
đường nét trên hộp thì hộp này không phải do người Trung Hoa chế tạo mà có nguồn
gốc từ đế quốc cổ Ba Tư (550 TTL – 330 TTL) còn dược hoàn có lẽ là thuốc do người Ả
Rập bào chế16. Tính niên kỷ và thời gian trị vì, Văn Đế Triệu Muội thân thể không
được tráng kiện, việc chôn theo thuốc men để dùng ở thế giới bên kia không phải là
chuyện lạ.
Ngoài chiếc hộp này, người ta cũng tìm thấy một số đồ bằng bạc khác như chậu rửa
(tẩy - 洗), chén uống rượu (chi -?), khoá đai (đái câu - 帶钩) ... là đồ dùng hàng ngày
của Việt vương. Trong số 7 chiếc khoá đai thì có năm hình dáng khác nhau, đầu nhạn,
đầu rùa, đầu rồng, đầu rắn ... điêu khắc tinh vi đẹp đẽ. Những đái câu này dài 18.4 cm,
hình cong, có gắn bảo thạch tìm thấy trong phòng để quan tài của mộ chủ. Theo những
nhà chuyên môn lượng giá, những món đồ này cho thấy trình độ kỹ thuật thời đó rất
cao. Khoá đai dùng để đeo kiếm, đao, túi tiền hay ấn tín ... không chỉ để thắt lưng như
ngày nay.

Đồ đồng

Tổng số các đồ đồng trong mộ Triệu Văn Đế Triệu Muội lên tới hơn 500 món, vừa đa
dạng, vừa tinh mỹ mang nhiều tính chất bản địa của vùng Lĩnh Nam. Trong số này
người ta nhận thấy bao gồm đồ dùng nhà bếp, đồ ăn uống, tửu khí, nhạc khí, các loại
dùng trong xe cộ, thắng ngựa ...

Người Trung Hoa phân biệt khá chi li về những đồ đựng bằng đồng và không phải đồ
vật nào có ba chân cũng đều gọi là đỉnh17. Đồng khí dùng để đựng chia làm ba loại
khác nhau, đựng đồ ăn (food vessels) bao gồm lịch (鬲), đỉnh (鼎), nghiễn (甗),

Về đỉnh đồng có tất cả 36 cái, bao gồm ba kiểu khác nhau của người Hán, người Sở và
người Việt trong đó 9 cái có khắc hai chữ Phiên Ngung (蕃禺) là những sản phẩm được
đúc tại kinh đô Nam Việt (nay thuộc Quảng Tây, Trung Hoa). Đặc biệt hơn cả có một
đỉnh lớn kiểu người Việt, cao 54.5 cm, trong đỉnh có khắc hai chữ “
thái quan” (泰官) là
chức quan chuyên về việc ăn uống thường ngày cho nhà vua.

Bình đồng có 9 cái, một cái nạm vàng (銅提簡) cao 37 cm, cổ dài, bụng phình ra, chỗ nào
cũng khảm vàng lấp lánh là một nghệ phẩm đặc biệt.

Ngoài ra còn có 9 cái thạp đồng (銅提簡) là một trong những món đặc trưng của dân
Việt. Trên một chiếc thạp đồng cao 40.7 cm có một vành đai khắc bốn hình thuyền
quấn liền theo thân thành một hình dài liên tục, mỗi thuyền có 5 người đội mũ lông
chim, đi chân đất, đầu thuyền có treo một đầu người, đầu thuyền có cắm hai lá cờ cũng
bằng lông chim. Năm người trên thuyền mỗi người một kiểu, kẻ thì cầm giầm chèo
thuyền, kẻ thì đánh trống, kẻ cầm binh khí, có kẻ lại đang giết địch thủ. Người ta giải
thích rằng vì đất Quảng Châu giáp với biển cả nên thường phải đối phó với những kẻ
thù theo đường biển tiến vào nên những hình vẽ miêu tả việc giao chiến và tiêu diệt kẻ
địch. Trong thuyền cũng thấy vẽ các loài hải sản như rùa, chim, cá ... hình thái sinh
động, nét vẽ sắc bén chứng tỏ đã đạt tới một trình độ mỹ thuật cao. Những hình đó
tương tự như những hình chúng ta khá quen thuộc trên các loại trống đồng tìm thấy ở
miền Bắc nước ta.

















Hình 2: Một vật bằng đồng trong mộ Triệu Muội

Ngoài những món kể trên người ta còn tìm thấy 39 tấm gương đồng, chế tạo tinh xảo,
đúc nổi hình rồng, mây, núi ..., cái lớn nhất đường kính 41 cm là kính lớn nhất tìm thấy
tại Trung Hoa đời Tây Hán, coi như quốc bảo. Trên kính này có vẽ người, vật bằng
màu, khi tìm thấy vẫn còn các màu xanh lục và trắng, chính giữa có hai người đang đấu
kiếm, bên ngoài có 4 người khác đứng xem, nét vẽ sinh động như thật. Chung quanh
gương và bên trong cũng có đường lượn nổi liên tục (liên hồ văn - 連弧紋) và hình mây
cuốn (quyển vân văn - 卷雲紋). Cũng có những tấm gương gọi là lục sơn kính - 六山鏡
là kiểu mẫu khá độc đáo thời Chiến Quốc ít thấy trong đời Hán18. Lục sơn kính trong
mộ Triệu Muội là cổ vật đầu tiên đào được mặc dù trong các viện bảo tàng vẫn có trưng bày
những kính tương tự nhưng là của gia bảo do tư nhân giữ được chứ không phải
chôn dưới đất.19

Cũng nên nói thêm, trong mộ Triệu Muội người ta tìm được một số tổ hợp kính
(組合鏡). Như chúng ta đã biết gương là dụng cụ để soi mặt, một món đồ không thể
thiếu của phụ nữ mọi thời đại. Khi chưa chế được gương bằng thuỷ tinh, người ta đúc
gương bằng đồng rồi mài cho nhẵn bóng để dùng, nếu không thì soi vào nước. Chiếc
gương đồng thời xưa bao gồm hai mặt, một mặt nhẵn, còn mặt kia thường được trang trí
bằng những hoa văn hay hình điểu thú, có khoen để buộc vào thắt lưng. Đồng thời cổ
thường pha thiếc, tuỳ theo nhiều ít mà cứng hay mềm, thô tạo hay nhẵn nhụi. Chính vì
cần đáp ứng nhu cầu mềm để dễ điêu khắc và cứng để dễ đánh bóng mà soi nên người
Trung Hoa nghĩ ra cách đúc gương thành hai mảnh với hai hợp chất khác nhau cho hai
nhiệm vụ gọi là tổ hợp kính. Nghề đúc đồng là một tuyệt nghệ của vùng Lĩnh Nam nên
việc trong mộ có nhiều tổ hợp kính tinh xảo không phải là chuyện lạ.

Ngoài những tấm gương đồng (銅鏡), trong mộ cũng có những bồn lớn vừa để chứa
nước rửa, vừa để soi mặt gọi là giám (鑒), khi tìm thấy bên trong còn nhiều loại thực
phẩm như thịt heo, thịt dê, thịt gà, cá, rùa ... là những món ăn thông dụng thời đó.
Trong mộ cũng có 11 cái lò hương, nắp có chỗ thoát hơi. Hương liệu vốn dĩ là sản phẩm
độc đáo của nước ta nhất là các tỉnh miền Trung nên lò hương bằng đồng cũng là một
sản phẩm có tính địa phương, nói lên kỹ thuật đúc đồng của phương nam có những nét
đặc sắc mà trung nguyên chưa theo kịp.

(Còn nữa)

Xin bấm vào chữ “Chuông đồng” để xem tiếp

Chuông đồng