Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
CHỮ NÒNG NỌC (1)

                     KHÁI QUÁT VỀ CHỮ NÒNG NỌC        

                                           Nguyễn Xuân Quang

Trước hết xin nói ngay để tránh khỏi lầm lẫn hay ngộ nhận là chữ viết nòng nọc (cirle-rod
writing) là loại chữ viết do tôi khám phá ra không phải là thứ chữ nòng nọc (tadpole writing)
mà hiện nay chúng ta thường nghe nói tới. Chữ viết nòng nọc hiện nay mà Hán ngữ gọi là
chữ khoa đẩu tức là loại chữ trông như con nòng nọc hay con lăng quăng bơi trong nước ví
dụ như chữ Hán cổ, chữ Phạn, chữ Thái Lan, chữ Campuchia v. v. . . thật ra đây chỉ là
những chữ viết di duệ, những chữ viết con cháu của chữ viết nòng nọc (circle-rod writing)
thật sự do tôi khám phá ra.  Chữ viết nòng nọc là chữ viết nguyên thủy không phải là chữ
viết “con nòng nọc” (tadpole) mà là chữ viết nòng nọc phải hiểu theo tiếng Việt là nòng biến
âm với vòng (theo n=v như níu = víu), cổ Việt nói nòng vòng, ngày nay chúng ta nói lòng
vòng (n là dạng cổ của l hay l là dạng nam hóa của n, Tiếng Việt Huyền Diệu), theo qui luật
từ đôi ta có nòng = vòng và nọc có nghĩa là cái que. Chữ viết nòng nọc phải hiểu theo
nghĩa nguyên thủy là chữ viết vòng tròn-que. Con nòng nọc phải hiểu là con có thân hình
vòng tròn và đuôi hình que. Chữ viết nòng nọc vòng tròn que còn thấy ghi khắc trên trống
đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn mà các tác giả hiện nay gọi là các “hoa
văn” vòng tròn, hai vòng tròn đồng tâm, vòng tròn có chấm, vòng tròn que, vòng tròn tiếp
tuyến, răng lược, răng sói…

Chữ nòng vòng tròn và chữ nọc que là chữ cổ nhất của nhân loại có nguồn gốc nguyên
khởi có thể do hình vẽ, do biểu tượng theo hình dạng của bộ phận sinh dục cái đực. Nòng
là hình vòng tròn phát gốc từ hình dáng của lỗ sinh dục cái và nọc là hình que là hình dáng
của bộ phận sinh dục đực (Việt ngữ nõ nường có nõ là nọc, cọc, que như đóng nõ mít và
nường biến âm với nòng). Nguồn cội nguyên thủy của hai chữ nòng và nọc manh nha từ lúc
con người nguyên thủy mới nhận thức ra giống phái, mới có khái niệm về giống phái, mới
phân biệt được giống phái. Họ đã dùng những vạch, những dấu, hình diễn tả bộ phận sinh
dục cái đực, hai phần quan trọng nhất trong cơ thể con người đối với người nguyên thủy vì
chúng liên hệ với  bản năng truyền giống, bản năng sinh tồn vốn đã có từ khi còn là loài
vật. Sau đó những vạch những dấu, những hình nguyên sơ mang ý nghĩa của một biểu
tượng ví dụ  phái nam, đực như người hay thú vẽ hình người hay thú có hình nọc que giữa
hai chân, phái nữ, cái vẽ có hình nòng vòng tròn, những thứ gì thuộc về cha, con trai vẽ
thêm hình bộ phận sinh dục nam hình que bên cạnh và những gì thuộc về mẹ, con gái vẽ
hình bộ phận sinh dục nữ hình cái lỗ vòng tròn bên cạnh (khởi đầu mang ý nghĩa biểu
tượng). Theo dòng tiến hóa của con người những vạch, vẽ, dấu hình biểu tượng biến thành
hai chữ viết nòng nọc căn bản diễn tả nõ nường, cái đực. Hình vẽ trở thành chữ. Khi con
người có một đời sống tâm linh cao hơn hai chữ viết nòng nọc vòng tròn que trở thành hai
chữ diễn tả cái đực, nõ nường, nòng nọc, âm dương, trở thành một thứ chữ căn bản của
một tôn giáo cổ nhất của con người là Vũ Trụ giáo dựa trên cái đực, nòng nọc, âm dương,
lưỡng hợp.

Ví dụ nòng là hình vòng tròn và nọc là hình que là dạng nguyên thủy vì phát gốc từ hình
dáng của lỗ sinh dục đàn bà và hình bộ phận sinh dục đàn ông còn thấy rất nhiều qua hình
ảnh ở các hình vẽ trên đá (petroglyphs) thời tiền sử và trong tín ngưỡng dựa trên lưỡng
hợp nòng nọc, âm dương, thấy rõ nhất là qua hình tượng thờ tự linga-yoni của Ấn giáo có
linga hình nõ cắm trên cái bệ yoni hình nòng tròn và thần Shiva có một khuôn mặt lưỡng
tính, tay phải cầm linga hình nọc, tay trái cầm túi yoni tròn nòng, Shiva vừa là Thần bảo vệ
(Protector) liên hệ với biểu tượng yoni nòng vòng tròn vừa là thần hủy diệt (destroyer) liên
hệ với biểu tượng linga hình nõ nọc...

Lúc này nòng nọc có nghĩa tổng quát tương đương với hai từ Hán Việt âm dương (nòng
nọc là hai từ nôm, thuần Việt trong khi âm dương là từ Hán Việt). Nòng-vòng tròn biểu
tượng cho âm. Nọc-que biểu tượng cho dương. Chữ nòng nọc là chữ âm dương, chữ căn
bản của Vũ Trụ giáo, của Dịch nòng nọc.

Xin lưu tâm là tôi dùng nhiều từ nôm nòng nọc hơn là hai từ Hán Việt âm dương vì như đã
thấy nòng nọc diễn tả đích thực chữ viết nòng nọc có nguồn cội nguyên thủy dựa trên hình
dáng của bộ phận sinh dục cái đực trong khi Hán Việt âm dương là hai từ bác học. Dương
là mặt trời, âm là mặt trời bị che mất hay không có mặt trời, trở thành tối tăm như âm u, cõi
âm…, âm dương phát gốc dựa vào sự hiện diện của mặt trời là hai từ xuất hiện muộn.
Nhưng một điểm quan trọng nữa khiến tôi dùng từ nòng nọc thay cho từ âm dương là chữ
viết nòng nọc còn ghi khắc lại trên trống đồng nòng nọc, âm dương. Trên trống đồng âm
dương, tất cả các chữ, hình tượng đều ở dạng nòng nọc. Trống đồng là một bộ sách viết
bằng chữ nòng nọc, là một quyển tự điển của chữ và hình tượng nòng nọc chuyên chính
nhất, viết với một ngữ pháp chính thống, siêu đẳng. Trống đồng nòng nọc là một bộ Dịch
nòng nọc bằng hình ảnh duy nhất của nhân loại. Người Đông Sơn nếu không muốn nói là
cha đẻ ra chữ viết nòng nọc thì họ cũng là những bậc thầy, những sư phụ siêu việt về chữ
nòng nọc, về Dịch nòng nọc. Trên trống đồng nòng nọc chữ và hình tượng nòng nọc còn
giữ nguyên thể nòng nọc (vòng tròn que), trong khi Trung Hoa dùng que đứt đoạn và que
liền diễn tả hào âm và hào dương. Văn hóa dựa trên âm dương của Trung Hoa là văn hóa
muộn so với văn hóa nòng nọc như văn hóa Đông Sơn dựa trên nòng nọc nguyên thủy.

Chữ nòng nọc trở thành một thứ chữ của Vũ Trụ giáo dựa trên Vũ Trụ Tạo Sinh có nền
móng là lưỡng hợp, nòng nọc, âm dương. Vì thế các chữ viết di duệ của chữ nòng nọc
cũng tự nhận là chữ của thượng đế ví dụ hình ngữ Ai Cập gọi là chữ thiêng liêng, "linh tự"
(hieroglyph), chữ Phạn là chữ của trời, Hán ngữ là chữ của thánh hiền...

Chữ nòng nọc gồm hai chữ cái là chữ NÒNG là vòng tròn O và chữ NỌC hình que I. Hai chữ
này ghép lại hoặc biến dạng theo ngữ pháp nòng nọc ví dụ như để theo các chiều khác
nhau, hoặc có phụ đề, có "các dấu"  có thể viết được thành những chữ căn bản. Chữ nòng
nọc ngày nay đã bị chôn vùi không còn ai biết nữa. Tuy nhiên dấu vết của chữ nòng nọc
(vòng tròn-que) còn thấy trong nhiều chữ viết ngày nay. Tất cả các chữ viết hiện nay kể cả
chữ viết theo mẫu tự ABC đều là con cháu di duệ của chữ nòng nọc. Di tích chữ nòng nọc
còn thấy rõ nhất trong các loại chữ viết theo hình ngữ (pictograph), tượng hình như linh tự
Ai Cập, chữ Hán cổ, chữ Maya, các biểu tượng của người Dogon (Mali, châu Phi) v.v…

Theo Andrew Robinson chủ yếu, theo nguyên tắc cằn bản thì cách chúng ta viết vào đầu
thiên niên kỷ thứ 3 sau Tây Lịch không khác gì cách người Ai Cập cổ đã viết
(Fundamentally, the way we write at the start of the third millennium AD is not different from
the way that the ancient Egyptians wrote) (1).  Mà linh tự Ai Cập cổ là di duệ của chữ viết
nòng nọc thì cách chúng ta viết ngày nay cũng  phải mang các dấu tích của ngữ pháp chữ  
viết nòng nọc. Ngay cả chữ viết vi tính hiện nay dựa trên  0 và 1 cũng chính là một hình
thức tân tiến của chữ viết nòng O và nọc I.

Có nhiều người tò mò muốn biết tôi đọc chữ viết nòng nọc như thế nào? Để giúp độc giả
nắm vững vấn đề hơn, xin nói qua cách tôi đọc chữ viết nòng nọc ra sao? Sau đây là một
trong những cách tôi giải đọc chữ viết nòng nọc. Muốn đọc một chữ viết nòng nọc, ta phải
mò tìm xem những hình giống chữ đó (hoa văn đó) hay tương tự như chữ đó thấy từ cổ chí
kim, trong mọi nền văn hóa có mang một ý nghĩa nào? Sau đó ta rút ra lấy một ý nghĩa thích
ứng mang tính phổ quát tức ý nghĩa đó thấy giống nhau trong càng nhiều nền văn hóa
càng tốt. Chúng ta phải đi tìm những hình giống chữ đó từ thuở con người còn chui hang
chưa có chữ viết nhưng đã biết vạch trên mặt đá những hình vẽ (petroglyph), rồi tới thời
con người đã có chữ viết nhưng chữ viết cũng hãy còn ở dưới dạng những hình vẽ gọi là
hình ngữ (pictogram) như linh tự (hieroglyph) của Ai Cập cổ,  giáp cốt văn (viết trên mai rùa
và xương thú vật) thấy ở Trung Hoa cổ và cận đại hơn, là chữ viết của Aztec, Maya, tiếp
đến là tìm những biểu tượng trong các tôn giáo lớn ngày nay vì phần lớn các tôn giáo này
là di duệ, con cháu hay liên hệ với Vũ Trụ giáo dựa trên nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm
dương, Vũ Trụ giáo là  một tôn giáo cổ nhất của nhân loại và cuối cùng là những hình ảnh
thấy trong thời hiện đại, thời chúng ta đang sống.

Điểm cần lưu tâm là  mọi khía cạnh của cuộc sống vật thể đều có một ý nghĩa biểu tượng và
mọi biểu tượng đều có một nền móng vật thể. Biểu tượng là một thứ để diễn tả, làm tiêu
biểu cho một cái gì khác qua sự liên tưởng hay đồng dạng. Biểu tượng mang một ý nghĩa
riêng cho một nhóm người, một tộc ở vào một thời gian và không gian nào đó trong dòng
lịch sử loài người. Ngay cả đối với các chủng tộc cùng nói một ngôn ngữ, sống cùng một
thời, ý nghĩa của biểu tượng cũng thay đổi, cũng khác từ nơi này tới chỗ kia (2). Vì thế  
cùng một biểu tượng có thể có hai ý nghĩa biểu tượng khác nhau ỡ hai nền văn hóa khác
nhau và ở hai thời điểm khác nhau ví dụ như  biểu tượng cho sinh thực khí đối với người
tiền cổ và trong vài tín ngưỡng có thể mang nghĩa sinh tạo, tạo hóa, thiêng liêng, thần linh
nhưng đối với con người ngày nay có thể là tục tĩu, dâm dật, man rợ… Không bao giờ nhìn
và hiểu biểu tượng ở thời đại khác bằng đầu óc của con người hiện đại, không bao giờ suy
bụng ta ra bụng người. Phải hiểu biểu tượng bằng cách sống với đời sống của biểu tượng
vào lúc sinh thời của biểu tượng. Biểu tượng nòng nọc, âm dương còn phức tạp hơn vì phải
nhìn dưới lăng kính của Dịch lý, phải nhìn theo góc cạnh vô cực, nòng nọc, âm dương
(lưỡng nghi), tứ tượng:  dương của dương (thái dương), âm của dương (thiếu dương), âm
của âm (thái âm), dương của âm (thiếu âm)… nòng nọc, âm dương khi thì mang nghĩa
tương hợp, tương đồng khi thì mang nghĩa tương phản, đối nghịch. Điểm này giải thích tại
sao trong các truyền thuyết về Vũ Trụ Tạo Sinh, sáng thế dựa trên lưỡng hợp nòng nọc,
âm dương có những cặp anh em hay chị  em ruột thịt lấy nhau làm vợ chồng. Anh em cùng
máu mủ, mẹ cha mang khuôn mặt bản thể tương đồng còn vợ chồng mang khuôn mặt âm
dương đối nghịch…  

Nguyên tắc lưỡng hợp, nhị nguyên nền móng của Vũ Trụ Tạo Sinh, của Vũ Trụ giáo, của
Dịch thấy bàng bạc trong mọi nền văn minh cổ, trong mọi tôn giáo lớn của loài người. Khắp
năm châu bốn biển, chỗ nào cũng thấy dấu vết của quan niệm lưỡng hợp nòng nọc, âm
dương (âm dương, Dịch.không phải là độc quyền của Trung Hoa). Thổ dân Úc châu có con
rắn-đầu qui đầu mang tính lưỡng hợp âm dương. Thổ dân Mỹ châu cũng vậy, người Aztec
có biểu tượng lưỡng hợp chim rắn như Rắn-Lông Chim Quetzal Coatl, ngày nay trên lá cờ
Mexico còn thấy rõ con ó và con rắn, người Maya cũng có lưỡng hợp chim cúc cu-trăn
Kukulcan (Kukul-là chim Cúc Cu và -can là chăn, trăn), người Navajo có hai loại nhà hogan
đực và cái… Người Dogon, Mali, châu Phi có nhiều dấu và biểu tượng liên hệ với nòng nọc,
âm dương như sự sắp đặt của một ngôi làng của họ thường theo hình Trứng Vũ Trụ, trong
đó các ngôi nhà được sắp theo hình người, nhà của phái nam ở bên tay phải (dương) nhà
của phái nữ ở phía bên tay trái (âm)... Ai Cập cũng có con rắn có hai khuôn mặt đực cái âm
dương, cũng có vị thần Ra lưỡng tính phái, Horus, Thần Cả (Horus, the Elder, Harsiesis) có
mắt phải là mặt trời (dương), mắt trái là mặt trăng (âm)… Ở châu Á, Trung Hoa có Chu
Dịch, phong thủy dựa trên nòng nọc, âm dương. Ấn Độ có thần Brahma lưỡng tính phái,
thần Shiva cũng có một khuôn mặt lưỡng tính phái tay phải cầm linga, tay trái cầm yoni.
Phật giáo có Bồ tát Bodhisattva Avalokieshvara lưỡng tính phái, lúc đầu là một người nam
sau trở thành Phật Bà Quán Thế Âm Bồ Tát,  Phật giáo Tây Tạng có Bodhisattva  
Samanthabrada ôm một nhân vật nữ ở thế giao hợp ngồi, trên đầu có hình quả bầu mang
tính lưỡng hợp, nhất thể. Việt Nam có trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông
Sơn (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á), có các vua tổ Hùng Vương
sinh ra từ bọc Trứng mang hình ảnh Trứng Vũ Trụ, Thái Cực âm dương, chia ra làm hai
ngành Lửa-Nước, Đất-Nước, Chim-Rắn, Tiên-Rồng… Ở châu Âu, Thiên Chúa giáo có ông
Adam lưỡng tính phái nên thượng đế mới rút chiếc xương sườn cong mang âm tính của ông
để tạo ra bà Eva...  
......

Vì thế những hình tượng nòng nọc từ dưới dạng nguyên sơ cho tới dạng chữ viết nòng nọc
thật sự thấy rải rác trong các nền văn minh cổ và các tôn giáo lớn của nhân loại. Phần lớn
những chữ, hình tượng nòng nọc này ngày nay đã biến dạng không còn chính thống và
được giải đọc một cách sai lệch, thường giải nghĩa theo một chiều, theo quan niệm, đầu óc
của con người ngày nay theo duy dương, sống trong một xã hội phụ quyền cực đoan ngày
nay.  

Sự khai phá của tôi về chữ nòng nọc nói chung và chữ nòng nọc trên trống đồng âm dương
Đông Sơn nói riêng sẽ mở ra một cánh cửa giúp cho các nhà nghiên cứu các nền văn minh
cổ và các tôn giáo lớn của nhân loại. Các học giả thế giới hiện nay hiện đang nhìn các nền
văn hóa cổ và các tôn giáo lớn hiện nay của nhân loại qua con mắt của một người chột
mắt, chỉ nhìn theo một con mắt phải tức theo duy dương của con người sống trong xã hội
phụ quyền cực đoan ngày nay. Xin hãy nghiên cứu các nền văn hóa cổ và các tôn giáo lớn
hiện nay của nhân loại bằng cả hai con mắt trái và phải, nòng và nọc, âm và dương theo
Dịch nòng nọc thì mới thấu triệt toàn vẹn và tránh khỏi trở thành những ông thầy bói sờ voi.
Xin hãy dựa vào chữ nòng nọc, phần lớn còn thấy rõ trên trống đồng âm dương Đông Sơn
mà giải đọc những hình tượng cổ của các nền văn minh cổ và của các tôn giáo lớn của loài
người.
                                                   (còn tiếp).


Tài Liệu Tham Khảo

1.        Andrew Robinson, The Story of Writing, Thames & Hudson Ltd, 2nd edition, 2007.
2. Gadalla Moustafa, Historical Deception, The Untold       Story of Ancient Egypt, Bastet
Publishing, Erie, Pa, USA/Cairo, Egypt, 1996.
©2003 Hùng Sử Việt
CHỮ NÒNG NỌC kỳ 2
chữ viết nòng nọc 3
chữ viết nòng nọc 4
Chữ viết nòng nọc 5
(Tiếp theo)
Da Vinci Code-NN