Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt

Quang Trung Nguyễn Huệ


LTS- Chúng tôi nhận được bài viết về vua Quang Trung Nguyễn Huệ được luân lưu trên
Email, nhưng không thấy đề tên tác giả. Chúng tôi mạn phép nêu email  của quý vi đã
chuyển Email tới HSV và trân trọng phổ biến đến quý độc giả với sự dè dặt thông thường, vì
bài viết  cũng không đề cập tới nguồn tham khảo.
Như thường lệ, quan điểm của tác giả không hẳn là quan điểm của Ban Biên Tập trang
Web. Hùng Sử Việt.
Vuong Sinh

( Dizavo 2010 - Hoang Pham )
(On Fri, 1/1/10,
HUNG PHAN  wrote):


1. Quang Trung Nguyễn Huệ





"Mà nay áo vải cờ đào
Giúp dân dựng nước xiết bao công trình"



Ðó là hai câu thơ trong bài "Ai Tư Vãn" của Ngọc Hân Công Chúa tán thán công đức người
thanh niên áo vải đất Tây Sơn: Nguyễn Huệ.

Cách đây 219 năm, vào mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789), Nguyễn Huệ đã chỉ trong vòng 6
ngày đánh thắng đạo quân tinh nhuệ hơn 20 vạn do tổng đốc lưỡng quảng Tôn Sĩ Nghị
lãnh đạo. Và trước đó, vào tháng Giêng năm 1785, chỉ trong một ngày quét sạch 1vạn quân
giặc Xiêm La (Thái Lan) và đoàn lính đánh thuê phương Tây do Nguyễn Ánh rước vào.

Người thanh niên lừng danh đó được các giáo sĩ Tây phương nể sợ so sánh như một
Alexandre Ðại Ðế, như một Tân Attila Ðại Ðế trong các chiến trận lừng danh thế giới, và
quân Xiêm run sợ coi Nguyễn Huệ như một ông "tướng nhà trời".

Hôm nay chúng ta giở lại trang lịch sử vẻ vang cũ để tìm hiểu người anh hùng đó. Chúng ta
tự nghĩ do đâu mà nẩy sinh ra một anh hùng lừng danh trong lịch sử dân tộc? Có phải thời
thế tạo anh hùng hay anh hùng tại ra thời thế? Hay nhờ một nền văn hóa khai phóng của
dân tộc hun đúc nên một trang anh liệt với tất cả những đặc tính NHÂN BẢN, NHÂN CHỦ, nét
đặc trưng của đất Lĩnh Nam? Chúng tôi sẽ lần lượt trình bày thân thế sự nghiệp, bối cảnh
lịch sử trước thời cách mạng Tây Sơn, những chiến công oanh liệt, những nét son về chiến
thuật, chiến lược của Nguyễn Huệ và tinh thần khai phóng trong việc xây dựng một xã hội
hoàn toàn Việt Nam.

I
Thân thế sự nghiệp:

Theo Quách Tấn, người quê hương Bình Ðịnh cho biết: Ấp Tây Sơn là nơi phát tích của ba
anh em nhà anh hùng dân tộc Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, cho nên sử gọi ba
anh em là Nhà Tây Sơn.

Tổ tiên nhà Tây Sơn vốn ho. Hồ, giòng giõi Hồ Quý Ly, ở làng Hương Cái, huyện Hưng
Nguyên, tỉnh Nghệ An. Tổ quán ở dưới chân hòn Thái Sơn, một hòn núi nhỏ bên cạnh hòn
Ðại Hải, một danh sơn xư. Nghệ.

Họ Hồ theo chân Nguyễn Hoàng vào lập nghiệp miền Nam đến ông cố của Nguyễn Huệ là
đời thứ tư, tên là Hồ Phi Long vào giúp việc nông trại cho nhà ho. Ðinh ở thôn Bằng Chân,
huyện Tuy Viễn (tức An Nhơn). Ông cưới vợ ho. Ðinh và sinh được một trai tên là Hồ Phi
Tiễn. Lớn lên Hồ Phi Tiễn thông minh lanh lợi, song sức yếu không cán đáng được việc
đồng áng, nên bỏ đi buôn trầu ở ấp Tây Sơn và gặp người vừa ý mới kết nghĩa vợ chồng và
cất nhà định cư nơi quê vợ. Bà vợ tên là Nguyễn thị Ðồng, con gái duy nhất của một phú
thương đất Phú Lạc. Sau đó họ đổi con cái từ ho. Hồ sang ho. Nguyễn của mẹ. Vì vậy đứa
con từ lúc sơ sinh được cải qua họ mẹ là Nguyễn Phi Phúc. Lớn lên ông Nguyễn Phi Phúc
cũng chuyên nghề buôn trầu và trở nên mỗi ngày mỗi giàu có. ChợKiên Mỹ trở thành thị
trấn Kiên Mỹ và ông Phúc trở thành một phú thương có uy tín nhất trong vùng. Ông Phúc có
ba người con trai: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ (theo các giáo sĩ Tây phương thì
Nguyễn Phi Phúc có 7 người con, Nguyễn Nhạc là anh hai, Nguyễn Huệ thứ bẩy, thua
Nguyễn Nhạc đến 10-15 tuổi. Nguyễn Lữ sau cùng thứ tám, nhỏ hơn Nguyễn Huệ 1 tuổi, ở
giữa là các chị gái của Nguyễn Huệ. Sau này khi vua Quang Trung Nguyễn Huệ băng hà,
chỉ một người chị gái của nhà vua được vào Phú Xuân lo việc tẩm liệm còn phái đoàn do
Nguyễn Nhạc cầm đầu đều bị chặn không cho vào.) Lớn lên ba anh em được đưa đến thụ
giáo với thầy giáo Trương văn Hiến, một môn hạ của Trương văn Hạnh (Trương văn Hạnh
là một quan đại thần đời Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát. Về sau Quốc phó Trương Phúc
Loan chuyên quyền, Hạnh phản đối và bi. Loan giết chết. Trương văn Hiến sợ vạ lây bèn
trốn vào An Thái mở trường dạy học). Giáo Hiến truyền dạy cho ba anh em Tây Sơn cả văn
lẫn võ. Nguyễn Huệ chuyên học đao, Nguyễn Lữ chuyên học quyền và Nguyễn Nhạc
chuyên học kiếm. Khi cha chết, Nguyễn Nhạc nối nghiệp nhà, Nguyễn Lữ xuất gia theo Minh
giáo tục gọi là đạo Ma Ní dùng phù phép để chữa bệnh. Chỉ có Nguyễn Huệ tiếp tục theo
học với thầy giáo Hiến.

Nguyễn Nhạc kết duyên cùng Trần thị Huệ nên để tránh trùng tên với chị dâu, gia đình mới
gọi Nguyễn Huệ là Bình, nhân dân địa phương gọi thân mật là chú Ba Bình. Còn tên Thơm
là do hoa Huệ có hương thơm nên gọi thay cho tên kiêng cữ.

Một hôm Nguyễn Nhạc mua được thanh cổ kiếm dài và rất bén, nhớ ơn thầy cũ bèn xuống
An Thái dâng cho thầy. Trương văn Hiến cho biết đây là một thanh bảo kiếm, có đại phước
mới vào tay, hẹn giữ hộ và ngày sau sẽ giao lại. Rồi Trương Văn Hiến bảo Nhạc: "Lúc nầy
là lúc kẻ anh hùng có thể dựng nên nghiệp cả, anh không nên để lỡ thời cơ." Ý quật cường
vốn đã nhen nhúm trong người nhưng Nguyễn Nhạc từ tốn thưa: "Con tự xét không đủ tài
sức"

Trương văn Hiến ôn tồn nói: "Hán Cao Tổ, Lê Thái Tổ đâu có phải từ trên trời sa xuống.
Người có chí hễ năm được thiên thời địa lợi, nhân hòa thì đại sự thành công không mấy khó
khăn. Hiện giờ Trương Phúc Loan chuyên quyền làm những việc gian ác, triều đình đảo
điên, nhân tâm ly tán. Nếu có người phất cờ khởi nghĩa thì bốn phương thiên hạ đều hưởng
ứng ngay. Ðất Tây Sơn núi non hiểm trở có cái thế bách nhị, tới lui sức ngoài nào có thể
ngăn cản. Anh chỉ có phải lo việc tài chánh quân sự nữa là có thể hưng binh." Rồi ông gọi
Nguyễn Huệ ra bảo: "Con nay đã khôn lớn, tài nghệ đã vững, con hãy về nhà giúp anh."
Trương Văn Hiến lại tặng cho hai anh em hai bộ binh pháp, một của Tôn Ngô, một của Trần
Hưng Ðạo. Nhận thấy Nguyễn Huệ có tư chất thông minh, tiếng nói vang như chuông ngân,
đôi mắt sắc bén và sáng tựa điện quang Trương Văn Hiến xét đoán con người này mai sau
chí lớn vang trùm cả thiên hạ.

Hai anh em bái biệt thầy về lo việc xây dựng sự nghiệp. Nguyễn Huệ cùng anh lo gầy dựng
kinh tế, huấn luyện quân sự và cùng với sự ngầm trợ giúp về mặt tâm lý của thầy giáo Hiến.
Chẳng mấy chốc lực lượng của nhà Tây Sơn mỗi ngày mỗi lớn, mỗi vững vàng. Những
người hợp tác đầu tiên với nhà Tây Sơn có: Nguyễn Thung, phú nông Thuận Nghĩa. Bên võ
có Bùi Thị Xuân, người thôn Xuân Hòa, Võ Văn Dũng, Võ Ðình Tú thôn Phú Phong, Trần
Quang Diệu, chồng Bùi Thị Xuân người thôn An Tín. Bên văn có Trương Mỹ Ngọc ở An
Nhơn, Võ Xuân Hoài ở Phú Phong. Về sau, kẻ sĩ gần xa đến hưởng ứng thêm đông. Lực
lượng Tây Sơn đánh đâu thắng đó, vang danh một cuộc cách mạng bình đẳng, bình quyền,
không tham ô của dân, lấy của người giàu chia cho người nghèo. Ðó là thời gian khởi đầu
cuộc cách mạng dân tộc của ba anh em nhà Tây Sơn.

II.
Bối cảnh lịch sử trước thời Tây Sơn dấy nghĩa:

a) Bối cảnh đằng ngoài (đằng ngoài là từ giới tuyến sông Gianh trở ra Bắc, thuộc quyền
vua Lê, chúa Trịnh). Từ khi giúp vua Lê đánh bại ho. Mạc, Trịnh Kiểm chưa có thái độ lên
mặt với vua Lê, nhưng đến đời Trịnh Tùng, đã dẹp yên ho. Mạc, liền lên mặt lấn áp vua Lê.
Năm 1599 Trịnh Tùng tự xưng là Ðô Nguyên Súy Tổng Quốc Chính Thượng phu. Bình An
Vương và lập lên phủ chúa. Vua Lê là Lê Kinh Tông, con của vua Thế Tông lên ngôi 1600
không chịu nổi sự lấn áp của chúa Trịnh, âm mưu chống lại. Công việc bại lộ, Trịnh Tùng
bức vua thắt cổ chết năm 32 tuổi. Hoàng tư? Duy Kỳ lên thay tức Lê Thần Tông. Tất cả mọi
quyền hành đều trong tay phủ chúa Trịnh. Kể từ đó con cháu Lê Thái Tổ không còn một uy
quyền nào nữa. Họ Trịnh công khai giết vua lập vua khác, làm chủ sân khấu chính trị miền
Bắc như không còn biết ai dưới mắt nữa..

Vì ho. Trịnh lấn át quyền vua Lê nên lòng người không phục, giặc giã nổi lên liên miên. Lại
còn lo chiến chinh với chúa Nguyễn ở đằng trong nên cuộc sống người dân mỗi ngày càng
thêm cơ cực. Theo giáo sĩ Le Breton, trong vụ đói tháng 8, 9, 10 năm 1778 có làng chết quá
nửa. Tới cuối tháng 8 năm 1779 đê vỡ gây lụt lội nhiều vùng ở 3 tỉnh trung châu Bắc Việt.
Trong nhật ký từ tháng 5, 1785 đến tháng 6, 1786 giáo sĩ cho biết vào cuối năm 1785 có lụt
lạ thường, lại hạn hán kéo dài, sâu bọ đã tàn phá muà màng nhiều nơi, ngay cả gốc cây lúa
mới cấy. Các nhu yếu phẩm mỗi ngày mỗi tăng giá. Cướp của đốt nhà hoành hành trên bộ
cũng như ngoài biển, chính quyền không dám động tới. Tất cả những lý do trên đã gây ra
nạn đói dữ tợn kéo dài gần ba tháng. Dân chúng một khi đói khổ triền miên như vậy, tránh
sao khỏi nổi loạn.

Riêng về quan lại thì chia nhau bè phái khi thì vua Lê khi thì chúa Trịnh, tha hồ vơ vét của
dân. Chẳng ai còn quan tâm đến dân đến nước. Kẻ sĩ thì cố gắng vươn lên kiếm lấy mảnh
bằng để vượt khỏi cảnh nghèo đói khống cùng, siêu cao thuế nặng. Họ không ngại gì
chuyện khom lưng quỳ gối, lưỡi uốn đãi đưa hèn mạt, mua quan bán chức, thi cử gian lận.

Chính trong tình thế nầy những người còn chút liêm sỉ như La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đã
bỏ không đi thi và dầu chúa Trịnh mời ra làm quan cũng từ chối. Chúng ta thử nghe lời bình
phẩm quan lại nhà Lê dưới ngòi bút của Lê Quý Ðôn:

"Trong khoảng đời Hồng Ðức (1470-1497) mở rộng đường khoa mục thành long trọng để
kén nhân tài. Học trò bèn đua nhau thiên về mặt văn hay, chỉ cốt thêu chạm lời phú, còn
phần khi tiết khẳng khái thì đã cảm thấy tan tác hủ suy. Nhưng vì đường sủng vinh rộng mở
thì cách khoa lệ cũng nghiêm, ai điềm tĩnh thì tự nhiên được cất nhắc, kẻ chạy chọt cầu
cạnh thì bị cách phạt. Bởi vậy người làm quan bấy giờ ít thói bon chen mà thiên hạ còn biết
quý danh nghĩa. Ðấy lại là một thời nữa.

Từ đời Ðoan Khánh (1505) trở về sau, lối thanh nghị suy kém quá, thói luồn cúi ngày càng
thịnh dần. Kẻ quyền vị ít có người giữ được liêm khiết nhún nhường, nơi triều đình ít thấy lời
dám can ngăn kích thiết. Gặp chuyện khó chịu bèn để khỏi bận nịu, thấy nguy thì bán nước
cầu an. Cả đến bậc gọi danh nho cũng yên lòng nhận lấy cái vinh sủng bất nghĩa, mà vẫn
còn thi ca đi lại, khoe cái hay cái đẹp với nhau. Phong thái sĩ phu thật hỏng nát không bao
giờ bằng thời nầy. Sự tệ hại của cuộc biến chuyển này không thể nói xiết được. Tính trong
khoảng trên dưới một trăm năm quốc sử nầy lấy những bậc đáng gọi là cao sĩ thì chỉ có
được vài người như các ông Lý Tử Cấu, thật đáng ngán cho những bậc phong tiết này ít
thấy quá vậy." (Kiến Văn Tiểu Lục)

Với những lời xét đoán trên đây của Lê Quý Ðôn cho chúng ta thấy cái học của Tống Nho
mỗi ngày mỗi thêm bế quan, cực đoan và đi đến độc tôn của nhà nước. Vì vậy cái học căn
bản đạo đức, chính trị của Tống Nho bắt đầu từ Lê Thái Tổ đã manh nha làm cho sĩ khí kẻ
sĩ mỗi ngày mỗi tệ hại, đất nước mỗi ngày mỗi điêu linh suy nhược. Ðến Lê Chiêu Thống thì
vua tôi nhà Lê cam tâm đem đất nước dâng cho ngoại bang không biết điều sỉ nhục.

Ðến người như Ðặng Trần Thường, muốn cầu cạnh Ngô Thời Nhiệm tiến dẫn cho chúa
Trịnh mà khom lưng quỳ gối đến nỗi Ngô Thời Nhiệm phải mắng cho "người hèn hạ như anh
thì làm được nông nỗi gì?. Sau đó Ðặng Trần Thường vào hàng với Nguyễn Ánh và được
tin dùng.

Ngày xưa Nguyễn Trãi sau khi dẹp xong giặc Minh, chán ngấy với cái nho phong cực đoan
cũng phải xót xa than
"Ta dư cửu bị nho quan ngộ?
(thương ta bị cái mũ nhà nho làm ta lầm lẫn từ lâu).
Ðến thời Nguyễn Ánh lên ngôi vua cũng muốn củng cố giòng họ mình nên đã đang tâm xử
dụng cái học Tống Nho làm cho đất nước rơi vào tay thực dân Pháp, gây nên cảnh thống
khổ lầm than suốt cả trăm năm dưới gót giày của bọn Pháp.

Do đấy chúng ta thấy cái học dưới đời Lý Trần không chấp vào giáo điều. Các tôn giáo đều
được ưu đãi ngang nhau. Các cuộc thi tam giáo đã nói lên tính chất khai phóng của đất Lĩnh
Nam. Nước nhà thịnh trị, con người ấm no, hạnh phúc.

b) Bối cảnh đàng trong: Từ khi Trịnh Kiểm sợ thế lực của ho. Nguyễn cạnh tranh lấy quyền
lợi của mình bèn giết Nguyễn Uông anh ruột của Nguyễn Hoàng. Nguyễn Hoàng sợ quá bèn
nhờ chị ruột đang là vợ của Trịnh Kiểm xin cho vào trấn Thuận Hóa để tránh sự soi mói của
anh rể. Trịnh Kiểm mới giết Nguyễn Uông nay lại giết Nguyễn Hoàng sợ lòng người không
phục nên cũng muốn đuổi phắt Nguyễn Hoàng đi xa cho rảnh mắt. Năm 1558 Trịnh Kiểm xin
vua Lê cho Nguyễn Hoàng vào trấn Thuận Hóa. Nguyễn Hoàng mừng thầm đem gia nhân
và những người tình nguyện vào Thuận Hóa. Trước khi đi, Nguyễn Hoàng có cho người đến
thăm dò ý kiến của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và được cho biết.
"Hoành sơn nhất đái
Vạn đại chung thân"
Lúc Nguyễn Hoàng đến Thuận Hóa, miền Nam chỉ có hai tỉnh đó là Thuận Hóa và Quảng
Nam. Năm 1613 Nguyễn Hoàng lúc mất dặn người kế vị là Nguyễn Phúc Nguyên tục gọi là
chúa Sãi. "Ðất Quảng nầy bên Bắc có núi Hoành Sơn, có sông Linh Giang. Phía Nam có núi
Hải Vân và Bí Sơn là đất dụng võ trời dành cho kẻ anh hùng. Phải biết thương dân và rèn
luyện quân sĩ để gây dựng sự nghiệp muôn đời."

Chúa Nguyễn lập riêng một cõi ở phía Nam, cho nên mọi việc chính trị, quân sự, kinh tế, việc
gì cũng tự sửa sang và xếp đặt lấy như một nước tự chủ. Lúc đầu, chúa Nguyễn chưa có ra
mặt chống lại chúa Trịnh thì quan lại ngoài Bắc được bổ vào. Nhưng về sau, chúa muốn có
đủ người sung vào chính quyền mới đặt ra các khoa thi. Các khoa thi rất đơn sơ không chú
trọng nhiều về từ chương, thi phú mà chú trọng thực tiễn vào đời sống của dân. Cho nên
các khoa thi đều có thêm phần vấn đáp được hỏi về trách nhiệm của quan, của lính, của
dân, và về thuế má và lương bổng.

Từ khi Nguyễn Hoàng mất, chúa Nguyễn không chịu thần phục chúa Trịnh nữa. Quân Trịnh
vài ba năm lại đánh vào quân Nguyễn một lần. Lần đầu quân Trịnh đem quân vào Nam
đánh quân Nguyễn vào năm 1627 cho đến lần cuối vào năm Nhâm Tý 1672. Từ đó lấy sông
Gianh làm giới hạn giữa đàng trong và đàng ngoài.

Mặt phía bắc phải lo đối phó với quân Trịnh, mặt phía nam phải lo giặc Chiêm Thành luôn
quấy phá biên giới, cho nên chúa Nguyễn phải chú trọng về võ bị hơn. Năm Tân Mùi 1631,
chúa Sãi lập ra sở đúc súng đại bác, mở trường bắn, trường tập voi, tập ngựa.

Về phía nam, Chiêm Thành mặc dầu thế đã yếu hơn từ khi Lê Thánh Tông đưa quân vào
Nam đánh, nhưng tính vẫn hay cướp bóc ở biên giới nên chúa Nguyễn phải ra sức phòng
bị. Từ năm 1617 cho đến 1697, mỗi lần đánh nhau thua trận chúa Chiêm lại cắt đất cho
chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn được đất đặt ra phủ trấn đưa di dân vào làm ăn. Cho đến năm
Ðinh Sửu 1697, đất Chiêm mất hẳn trên bản đồ. Các đại thần, thân nhân của chúa Chiêm
trở thành những công chức của nước Việt, hoàng gia Chiêm không còn uy tín nữa. Người
Chiêm được chính quyền khuyến khích đổi y phục theo người Việt.

Còn một phần đất phía nam của Thủy Chân Lạp, do sự yếu hèn và sự chia rẽ của chính
quyền Chân Lạp, họ phải nhờ vào chúa Nguyễn giúp sức để chống lại loạn quân hay sự
quấy phá giành đất của quân Xiêm La. Mỗi lần thắng trận họ nhớ ơn và cắt đất cho chúa
Nguyễn. Theo chính sách tằm ăn dâu, chúng ta đã không cực nhọc, tốn công nhiều mà
được tất cả đất đai của Thủy Chân Lạp.

Chỉ trong vòng gần 30 năm từ 1674 đến 1705, chúa Nguyễn đã nắm trọn phần đất Thủy
Chân Lạp, từ sông Gianh cho đến Hà Tiên. Ðược đất đến đâu, nông dân chúng ta lại khai
phá đến đấy. Mặc dầu khai phá cực nhọc ban đầu nhưng nhờ tính cần cù, nhẫn nại, lại biết
dung hòa với cuộc sống mới với bà con xóm giềng, họ ít bị gặp sự chống đối hay ganh tức
của người bản xứ. Ðó là đặc tính dung hóa sâu sắc và khai phóng tiềm tàng trong người
dân từ một nền văn hóa Lĩnh Nam. Ðất đai phì nhiêu màu mỡ, dân chúng sống sung túc, ấm
no. Chính nhờ vật chất không thiếu thốn mà tinh thần được thoải mái.

Có nhiều người đã so sánh tính khai phóng của dân tộc ta vào những năm phát triển phía
nam giống như tính khai phóng của xứ Hoa Kỳ vào những năm đầu lập quốc. Nhưng chúng
tôi nhận xét thấy mặt khai phóng có thể giống, nhưng chúng ta còn có tính nhân bản tiềm
tàng trong mỗi người dân vì vậy chúng ta không xua đuổi hay giết chóc dân bản xứ. Có
những cái hay của dân bản xứ mình học được và những cái hay của mình dân bản xứ cũng
học được chính nhờ đặc tính nhân bản và bình đẳng mà mình không dựa uy quyền mà hiếp
đáp họ, sống hòa đồng với họ, cưới vợ gả chồng cho nhau, dần dần đồng hóa họ vào đại
gia đình dân tộc. Còn về phía Hoa Kỳ, chúng ta không thấy hiện rõ tính nhân bản. Tính hiếu
sát, săn bắn vẫn còn tiềm tàng trong họ. Người da đỏ bị dồn vào những nơi riêng biệt cho
đến ngày gần diệt chủng. Người da đen nô lệ trong thời gian khai phá và bị liệt vào hàng
súc vật. Cho đến thời tổng thống Abraham Lincoln người da đen mới bắt đầu được giải
phóng.

Về phần chính quyền chúa Nguyễn, từ khi nới đất phía nam rộng rãi phì nhiêu, sinh ra tính
kiêu căng tự mãn, ăn chơi hoang phí, từ vua chí quan học đòi tính ỡm ờ văn hoa, chữ nghĩa
của Tống Nho. Kẻ sĩ mỗi ngày mỗi nhiều, tiêm nhiễm tính cực đoan của Tống Nho, sinh
nhiều điều giáo điều sằng bậy. Nhân dân đói rách lầm than, giặc giã nổi lên. Theo giáo sĩ
Labarette đã viết trước ngày Nguyễn Huệ chiếm Phú Xuân rằng tại các vùng Ðịnh Cát,
Quảng Trị "Nạn đói càng ngày càng gia tăng ở đây, những nhu yếu phẩm cho đời sống đều
quá giá ... Ngoài đường, trong nhà đâu cũng đầy rẫy những xác chết và không còn ai nghĩ
đến việc chôn cất." Trong một hoàn cảnh như vậy, nhà Tây Sơn nổi lên như một luồng sóng
cách mạng được nhân dân khắp nơi ủng hộ.

III.
Những chiến công hiển hách của Nguyễn Huệ:

Chúng tôi chỉ nêu lên những trận đánh tiêu biểu mang tính chất một cuộc hành quân thần
kỳ bí ẩn hiếm có trong lịch sử kim cổ.

a)
Chiến thắng 5 vạn quân Xiêm ở Rạch Gầm, Xoài Mút:

Sau khi thua ở Gia Ðịnh, Nguyễn Ánh trốn ra Phú Quốc, một mặt giao con trai cho Bá Ða
Lộc làm con tin sang cầu viện quân Pháp, một mặt qua Xiêm xin cầu viện. Lúc bấy giờ nước
Xiêm dưới triều vua Chakkri đương lúc thịnh vượng và nuôi tham vọng chiếm đất Chân Lạp
và Gia Ðịnh để mở rộng bờ cõi. Ðể chuẩn bị xâm lăng, vua Xiêm cho phép Nguyễn Ánh gom
góp đám lưu vong và tàn quân khoảng 1 ngàn người do Châu Văn Tiếp làm Ðại Ðô Ðốc, sai
cháu là Chiêu Tăng làm chủ tướng và Chiêu Sương làm tiên phong, mùa hạ năm Giáp Thìn
1784 đem 2 vạn thủy quân và 300 chiến thuyền hợp với sự dẫn đường của Nguyễn Ánh ồ
ạt vượt biển sang Gia Ðịnh. Ðồng thời vua Xiêm liên lạc với vua Chân Lạp mượn đường đưa
3 vạn quân bằng đường bộ sang Gia Ðịnh.

Sau khi đánh nhau vài trận, với số quân ít ỏi không quá 10 ngàn, tướng Tây Sơn Trương
Văn Ða phải tận sức giữ phần đất còn lại phía đông Tiền Giang trở ra, còn phần đất phía
tây từ Tiền Giang, Hậu Giang trở vô đều thuộc quyền kiểm soát của quân Xiêm. Chiếm
được nửa phần đất Gia Ðịnh quân Xiêm sinh ra kiêu căng, chúng xem thường quân Tây
Sơn và khinh mạn Nguyễn Ánh, chúng không lo luyện tập mà chỉ lo tìm cách cướp bóc của
cải, hãm hiếp phụ nữ. Chúng dùng thuyền chở về Xiêm bao nhiêu con gái, bao nhiêu vàng
bạc, của cải chiếm được. Hành động bạo ngược của quân Xiêm đào sâu lòng căm thù của
toàn dân miền tây và cả miền đông Gia Ðịnh đối với quân Xiêm và hành động rước voi giày
mồ của Nguyễn Ánh. Nhờ sự ủng hộ của toàn dân mà Trương Văn Ða với số quân ít ỏi đã
ngăn chặn được bước tiến của quân Xiêm. Cuối năm 1784, Trương Văn Ða sai đô úy Ðặng
Văn Trấn về Quy Nhơn báo cáo tình hình của Gia Ðịnh. Vua Thái Ðức Nguyễn Nhạc liền sai
Nguyễn Huệ, Võ Văn Dũng, Trần Quang Diệu, còn thêm sự tự nguyện tòng chinh của Bùi
Thị Xuân đem đại binh vào tảo trừ.

Thủy bịnh của Tây Sơn vào cửa Cần Giờ và đi thẳng vào Nam theo cửa sông Tiền Giang
kéo đến Mỹ Tho nơi chủ lực quân của Trương Văn Ða đóng. Nguyễn Huệ thân hành đi xem
xét địa hình địa thế và cho người do thám tình hình địch. Nhận thấy đất Mỹ Tho rất phì nhiêu
nhưng địa thế khá hiểm trở, Nguyễn Huệ sai Trương Văn Ða ra giữ thành Gia Ðịnh, còn
mình quyết một trận tiêu diệt toàn bộ quân địch. Ông chọn khúc sông Rạch Gầm Xoài Mút
và Rừng Dừa làm địa thế tiêu diệt quân thù. Lực lượng quân Xiêm và quân nhà Nguyễn quá
lớn mà quân số của Tây Sơn không đầy một nửa. Nguyễn Huệ cho thủy binh mai phục ở
các nhánh sông nhỏ quanh co, còn bộ binh thì một đội mai phục ở hai bên bờ sông và trên
cù lao Ông Thới, bãi Tôn còn một đội thì mai phục nơi rừng dừa. Thủy binh do Nguyễn Huệ
và Võ Văn Dũng chỉ huy còn bộ binh thì do vợ chồng Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân điều
khiển. Sắp xếp xong mọi việc, Nguyễn Huệ cho Võ Văn Dũng kéo binh đến khiêu chiến. Ðó
là chiều ngày mồng 9 tháng Chạp năm Giáp Thìn tức 19-11-1785. Thấy có thủy quân Tây
Sơn tới khiêu chiến, Chiêu Tăng liền sai Sạ Uyển cùng 1 vạn quân ở lại bản doanh và bố trí
các nơi hiểm yếu còn mình thì thống lãnh đại thủy lục quân đánh Tây Sơn. Lục quân do Lục
Côn chỉ huy theo tả ngạn sông Tiền Giang xuống. Thủy quân do Chiêu Sương tiên phong
kéo thẳng xuống sông Mỹ Tho. Hai đạo thủy bộ dĩ nhiên có các tướng sĩ của Nguyễn Ánh
dẫn đường. Quân giặc tiến binh rầm rộ nhưng không tiến nhanh được vì dưới sông thì nước
triều đang dâng, trên bờ thì lau lách dầy đặc. Võ Văn Dũng được lệnh vừa đánh vừa lui.

Ðến đầu sông Mỹ Tho thì trời bắt đầu tối. Ðèn trên thuyền của đôi bên đều được thắp sáng.
Thuyền Tây Sơn nụp trong Rạch Gầm kéo ra trợ lực cùng thuyền Võ Văn Dũng chặn không
cho thuyền giặc tiến. Ðến khi trăng sắp lặn, thủy triều sắp rút thì Võ Văn Dũng trá bại.
Thuyền giặc đuổi theo đến Rách Gầm thì một phần lớn thuyền Tây Sơn tắt hết đèn đuốc rẽ
vào rạch còn phần nhỏ thì cứ xuôi dòng sông. Thuyền giặc đuổi theo ánh đèn cho đến khi
toàn bộ lọt vào trận địa thì một tiếng pháo lệnh nổ vang. Các chiến thuyền của Nguyễn Huệ
từ các rạch Xoài Mút và các nhánh sông nhỏ kéo ra chận đánh, đồng thời súng đại bác trên
cù lao Thới Sơn và ở hai bên bờ não liên tục vào thuyền địch. Bị đánh thình lình, Chiêu
Sương hoảng hốt cho dừng thuyền lại. Thuyền trước dừng một cách đột ngột, thuyền sau
đang tiến nhanh theo nước triều rút nên va chạm vào nhau lớp này đến lớp khác. Ðoàn
thuyền sau muốn quay trở lại thì bị thuyền Tây Sơn ở Rạch Gầm kéo ra đánh bật lui vào
trận địa. Phía trước bị chận đánh, phía sau bị khóa chặt, hai bên hông và trên đầu bị đại
bác nã, phần thuyền va vào nhau làm cho hàng ngũ quân địch bị rối loạn, thuyền địch lớp bị
tan vỡ, lớp bị bắn chìm. Ba trăm chiếc thuyền và hai vạn quân địch cùng với quân dẫn
đường của Nguyễn Ánh bị tiêu diệt toàn bộ. Còn đạo bộ binh của giặc do Lục Côn chỉ huy
đang tiến quân bỗng nghe tiếng đại bác liền dừng lại thì thình lình trong đám lau lách phục
binh của Tây Sơn vừa hò hét vừa xông ra. Lục Côn chưa trở tay kịp thì đã bi. Bùi Thị Xuân
chém bay đầu. Quân Xiêm hoảng hồn bỏ chạy tán loạn nhưng phía sau lưng và tả hữu đều
bị quân Tây Sơn áp đánh, chúng bèn chạy vào rừng dừa nơi đó quân Nguyễn Huệ đã chờ
sẵn để cho chúng vào đường chết.

Thế là khi trời vừa rạng đông, chiến trận cũng vừa chấm dứt. Toàn bộ 4 vạn quân Xiêm và
quân Nguyễn Ánh trong đêm mồng 9 tháng Chạp đến rạng ngày 10 tháng Chạp hoàn toàn
bị tiêu diệt. Chỉ còn non mười ngàn quân lẩn trốn được. Trong đám tàn quân lẩn trốn có
Chiêu Tăng, Chiêu Sương và Nguyễn Ánh.

b)
Cuộc chiến với 20 vạn quân Thanh:

Từ khi Vũ Văn Nhậm theo lệnh Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc diệt trừ tội làm phản của
Nguyễn Hữu Chỉnh. Vũ Văn Nhậm trở nên tham quyền cố vị. Vua Lê Chiêu Thống cùng thái
hậu lẩn trốn khỏi triều đình. Nghe tin Vũ Văn Nhậm tạo phản, Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc
tiêu diệt Vũ Văn Nhậm rồi lập lại triều chính, cho mời Lê Chiêu Thống về giữ quốc sự xong
rút quân về. Nhưng vua Lê quá sợ đã sang Tàu nhờ Tôn Sĩ Nghị tâu với vua Càn Long xin
giúp. Vua Càn Long y tấu cho Tôn Sĩ Nghị tuyển quân 4 tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây, Quý
Châu và Vân Nam. Quân Thanh được chia làm 3 đạo: 1 đạo do tổng binh Vân Nam và Quý
Châu chỉ huy sang mạn Tuyên Quang, đạo thứ hai do tri phu? Sầm Nghi Ðống sang mạn
Cao Bằng, đạo thứ ba do Tôn Sĩ Nghị và đề đốc Hứa Thế Hanh sang mạn Lạng Sơn.
Tướng Tây Sơn là Ngô Văn Sở theo lời bàn của Ngô Thời Nhiệm kéo quân về núi Tam Ðiệp
trấn giữ, sau những trận đánh lẻ của Phan Văn Lân làm cho quân Thanh càng thêm kiêu
căng, tự mãn. Từ đó trở vào Nam quân Tây Sơn trấn giữ cắt hẳn Thanh Nghệ với các trấn
đàng ngoài.

Chiều ngày 21 tháng 11 Mậu Thân 1788 Tôn Sĩ Nghi . đem quân vào thành Thăng Long,
đặt tướng doanh tại Tây Long Cung và bảo Lê Chiêu Thống chọn ngày tốt làm lễ sách
phong, phong vua Lê làm "An Nam Quốc Vương". Dẫu được nhà Thanh ban cho quốc
vương, Lê Chiêu Thống vẫn còn e dè không dám lấy niêm hiệu Chiêu Thống mà vẫn phải
để niên hiệu Càn Long thứ 53. Hằng ngày Lê Chiêu Thống cỡi ngựa cùng vài chục lính hầu
sang Tây Long Cung chầu chực việc quân quốc với Tôn Sĩ Nghị. Có bữa Nghị dâm dật chè
chén say sưa ban đêm, buổi sáng cho người đứng dưới gác chuông, truyền bảo vua Lê
hôm nay không có việc quốc quân, hãy cứ về cung mà nghỉ.

Luôn mấy năm mất mùa đói kém, dân gian đang bị điêu linh thống khổ nay lại phải phục
dịch hàng vạn quan quân nhà Thanh, ai oán nổi lên khắp nơi. Lại thêm thảm kịch cướp của,
đánh người, hãm hiếp do bọn quân Thanh gây ra, nỗi oán hận ngút trời.

Trở lại quân Tây Sơn, từ khi rút quân về Tam Ðiệp, Ngô Văn Sở sai Nguyễn Văn Tuyết ngày
đêm về Phú Xuân khẩn báo lên Nguyễn Huệ. Ðược tin quân Thanh sang chiếm đóng Thăng
Long, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lập tức hội các tướng đến bàn việc dẹp giặc.. Các
tướng xin vương trước nên chính vị hiệu để kết nối dân Bắc nam rồi hẵng khởi binh. Theo
lời, vương cho đắp đàn Bàn Sơn (gần núi Ngự Bình) rồi vào ngày 25 tháng 11 năm Mậu
Thân 1788 làm lễ tế cáo trời đất lên ngôi hoàng đế đặt niên hiệu Quang Trung.

Ngay sau khi tế cáo trời đất xong, vua Quang Trung liền thống lĩnh thủy bộ đại binh, đốc
xuất tướng sĩ ngay tại tế đàn kéo hết ra Bắc. Chỉ trong vòng 4 ngày, tức ngày 19 tháng 11
năm Mậu Thân, đại binh ra đến Nghệ An (từ Phú Xuân ra Nghệ An khoảng đường dài
300Km nhiều đèo núi hiểm trở mà đại binh với hàng trăm thớt voi chỉ di chuyển trong vòng 4
ngày thật là điều hiếm có!)

Nhà vua cho đóng quân ở Nghệ An để tuyển mộ thêm quân và trữ thêm lương thực. Sau
mươi hôm số lính mới và cũ tính hơn 10 vạn, trên 200 thớt voi và 5 ngàn ngựa. Tân binh
được luyện tập hằng ngày. Nhà vua cỡi voi đi xem tập luyện và ban lời phủ dụ mọi người.
Theo giáo sĩ Le Roy đã tả thì đạo quân Quang Trung gồm cả những người già trông giống
như một toán bệnh nhân ốm yếu hơn là một đoàn chiến binh. Ấy thế mà đạo quân ấy lại
đánh thắng được đạo quân Trung Hoa.

Chuẩn bị đâu đấy xong, nhà vua hạ lệnh trẩy quân. Ngày 20 tháng Chạp Mậu Thân (15-1-
1789) khi đại binh tới Tam Ðiệp (tục gọi là núi Ba Dội giữa Thanh Hóa và Ninh Bình) Ngô
Văn Sở, Ngô Thời Nhiệm, Phan Văn Lân ra chịu tội nhưng nhà vua cười "Ta biết đây là kế
của Ngô Thị Lang, lui quân để tránh thế giặc, trong khuyến khích sĩ khí, ngoài tăng thêm
lòng kiêu ngạo của địch. Kế dụ địch vào chỗ hiểm yếu của ta, như thế là phải." Nhà vua lại
nói thêm "chúng nó sang chuyến nầy là mua lấy cái chết đó thôi, ta đã định mẹo cả rồi. Dẹp
yên giặc chỉ trong mươi ngày là xong."

Hai lần ra Bắc trước nhà vua đã quan sát rõ địa hình địa thế Bắc Hà và khi dừng binh ở
Nghệ An, nhà vua đã mật sai quân đi do thám để nắm rõ tình hình của địch.

Nhà vua chia quân là làm bốn dinh: Tiền, Hậu, Tả và Hữu. Tân binh Nghệ An được chia làm
Trung quan do nhà vua trực tiếp điều khiển. Tiền quân do Ðại tư mã Ngô Văn Sở và Nội
hầu Phan Văn Lân cai quản. Hậu quân do Hô Hổ Hầu đốc chiến. Tả quân do Ðại đô đốc
Nguyễn Văn Lộc và Ðại đô đốc Nguyễn Văn Tuyết chỉ huy. Nguyễn Văn Tuyết giữ nhiệm vụ
kinh lược Hải Dương tiếp ứng mặt Ðông Lộc đến Lạng Sơn, Phượng Nhã giữ vùng Yên Thế
chận đường rút lui của địch. Hữu quân gồm có mã quân và tượng quân do Ðại đô đốc
Nguyễn Văn Bảo và Ðại đô đốc Ðặng Văn Long thống lãnh. Long đem mã quân qua huyện
Chương Ðức (Hà Ðông). Bảo đem tượng quân qua vùng Sơn Minh (Ứng Hòa, Hà Ðông) để
làm quân tiếp ứng.


Ðể làm cho địch thêm lòng kiêu căng, nhà vua sai Trần Dinh Bình cầm đầu sứ bộ 8 người
mang lễ vật và văn thư để "tha thiết" xin đại nguyên soái thiên triều tra xét rõ vì sao Tây Sơn
phải thay quyền nhà Lê và trả cho Tôn Sĩ Nghị 40 người Trung Hoa do tướng cướp Ðắc
Thiệu Tống cầm đầu mà quân Tây Sơn đã bắt được. Tôn Sĩ Nghị dương dương tự đắc
chém sứ cùng tên tướng cướp và giam giữ đoàn sứ giả.

Sắp đặt mọi chuyện xong xuôi, nhà vua cho mở tiệc khao quân vào ngày 29 tháng Chạp và
tuyên bố "Bữa nay chúng ta sẽ ăn Tết Nguyên đán trước. Sang xuân ngày mồng Bẩy Tết
vào thăng Long chúng ta sẽ ăn Tết khai hạ." Vua lại nói thêm "Sang năm một là ăn Tết, hai
là cùng chết. Tướng sĩ hãy hết lòng cùng ta." Sáng hôm sau, 30 tháng Chạp, nhà vua
truyền lệnh xuất quân. Tiếng hoan hô vang trời, khí thế mạnh như chuyển núi.

Trước đây nhân dân bị thống khổ, hết loạn kiêu binh chúa Trịnh đến Lê Chiêu Thống đem
ngoại bang giày xéo đất nước.. Nay nghe đoàn quân giải phóng Tây Sơn đến đâu là họ hết
lòng ủng hộ và nhiều nơi đem bánh chưng, giết heo, bò thết đãi. Nhà vua cấm binh lính
không được cướp phá tài sản của dân.

Chưa hết ngày 30, quân Tây Sơn đã chuyển quân nhanh qua sông Giản Thủy (thuộc Ninh
Bình) Hoàng Phùng Nghĩa, cựu thần nhà Lê do Tôn Sĩ Nghị sai đóng giữ ở Sơn Nam (nay là
Nam Ðịnh) chưa kịp giao đấu đã hoảng hốt tan vỡ chạy thục mạng qua sông Nguyệt Quyết
(Thanh Liêm, Hà Nam) khiến cho bọn quân do thám của Thanh cũng chạy tán loạn. Ðể cắt
đứt mọi thông tin về Thăng Long, vua Quang Trung thúc quân đuổi đến Phú Xuyên (Hà
Ðông) bắt sống hết sạch bọn quân do thám. Nhờ vậy các đồn khác phía ngoài không hay
biết gì đến nghĩa quân đang kéo ra.

Nửa đêm mồng 3 Tết, nghĩa quân vây đồn Hà Hồi, quân Thanh đang ngủ, nghe tiếng reo
hò, tiếng trống trận vang rền, quá kinh hãi, rối loạn không còn khả năng chống cự bèn kéo
cờ hàng. Nghĩa binh chiếm trọn quân trang và lương thực địch.

1)
Trận Ngọc Hồi:

Ðến đêm mồng 5, vua sai đem quân lương vào môt. nơi rồi đốt sạch và bảo tướng sĩ "Hễ
thắng giặc thì được no, thua giặc thì chết đói." Ðoạn nhà vua lấy khăn vàng quấn vào cổ và
thề rằng "Nếu không thắng được giặc thì chết với khăn nầy chứ nhất định không lui." Với khi
thế hùng dũng, tay xách ô long đao, nhà vua lên mình voi thúc quân tiến đánh đồn Ngọc
Hồi. Voi trận đi trước, quân theo sau lướt như gió cuốn.

Tướng Mãn Thanh hay tin, kéo kỵ binh ra chận đánh nhưng vừa trông thấy voi ngựa sợ
cuống, hí lên kinh hoàng rồi chạy tán loạn. Quân Thanh bị rối hàng ngũ, không dám giao
chiến, phải rút vào giữ đồn. Ðồn rất kiên cố, mặt ngoài lũy đều có cắm chông và đặt phục
lôi, trong đồn lại bắn súng ra như mưa. Vua Quang Trung bèn truyền lấy 60 tấm ván dầy,
cứ 3 tấm ghép thành một lá chắn ngoài phủ rơm trộn đất ướt. Rồi cứ 10 người lưng đeo
đoản đao khiêng một lá chắn đi trước, tiếp theo 20 người cầm vũ khí, tiến theo thế trận chữ
nhất.

Quân Thanh thấy đang gió bấc bèn đốt thuốc súng chứa trong ống để khói tỏa mờ làm loạn
mắt quân Nam. Nhưng một chập sau gió trở gió nồm, khói lại bay vào đồn. Lợi dụng cơ hội
ấy, Quang Trung hô xung phong. Toán có khiên chắn lăn xả vào trước, đội quân tinh nhuệ
theo sau cố sức xông vào. Chính nhà vua thúc voi đốc quân đánh lớp này đến lớp khác.
Trong giây lát quân ta tràn vào tận trong đồn. Từng toán quân ta quăng ván gỗ, tay cầm
đoản đao đánh xáp lá cà với quân địch. Quân Thanh không địch nổi, trận vỡ, chạy xéo lẫn
nhau tán loạn ra bốn ngã đạp lên phục lôi do bọn chúng chôn từ trước. Quân Thanh chết
và bị thương rất nhiều. Các tướng Thanh: Ðề đốc Hứa Thế Hanh, Tiên phong Trương Triều
Long, Tả dực Thượng Duy Thăng ... đều chết tại trận.

Ðồn Ngọc Hồi giữ vị trí rất quan trọng trong hệ thống phòng ngự của địch. Lực lượng có
trên 3 vạn quân tinh nhuệ đều bị tiêu diệt.

Ðại đô đốc Nguyễn Văn Bảo từ Sơn Minh đem tượng binh đến Ðại Áng chặn đón đánh quân
từ Ngọc Hồi tháo chạy và tiêu diệt toàn bộ.

2)
Trận Ðống Ða - Ðồn Khương Thượng:

Ðồn Khương Thượng nằm về phía tây nam thành Thăng Long là một cửa ngõ vào Thăng
Long. Ðại đô đốc Ðặng Văn Long cùng với phó tướng Ðặng Tiến Ðông từ huyện Chương
Ðức đến Thanh Trì trước hết tiến chiếm hai đồn Yên Quyết và Nhân Mục nằm tây bắc đồn
Khương Thượng. Hai đồn bị hạ một cách nhanh chóng và im lặng. Quân Ðại đô đốc Long
kéo vây đồn Khương Thượng lúc chưa tinh sương. Nhờ nhân dân ủng hộ dùng rơm khô
bện làm con cúi tẩm dầu đốt làm chung quanh đồn Khương Thượng rừng rực lửa cháy.
Ðồng thời hàng ngàn tiếng reo hò vang trời. Quân Thanh bị khủng hoảng tinh thần không
còn sức chống cự. Ðô đốc Long phá cửa đồn tràn vào như nước vỡ đê. Sầm Nghi Ðống
luống cuống không kịp đối phó trốn ra Hoa Sơn (tức gò Ðống Ða) thắt cổ tự tử. Quân địch
chết rất nhiều. Số còn sống sót, một phần chạy ra Bắc, một phần theo sông Tô Lịch vào
Nam bi. Ðô đốc Lộc chặn đánh bị tiêu diệt hết.

Tại bản doanh Tôn Sĩ Nghị đang theo dõi mặt trận phía nam bỗng được tin đồn Ngọc Hồi và
Khương Thượng đều bị tiêu diệt và quân Tây Sơn đang kéo đến kinh thành. Y còn lúng
túng chưa biết tính sao thì quân của Ðại đô đốc Long từ Khương Thượng đã kéo vào Thăng
Long với khí thế hừng hực. Tôn Sĩ Nghị sợ quá không kịp mặc giáp, không kịp thắng yên
cương cùng toán kỵ binh hầu cận bo? Tây Long Cung vượt cầu phao qua sông Nhị. Thấy
chủ tướng chạy trốn, tướng sĩ cũng ùn ùn chạy theo, lấn nhau qua cầu phao. Cầu gãy làm
hàng vạn quân Thanh chôn vùi dưới dòng sông Nhị Hà.

Tôn Sĩ Nghị cùng đám tàn quân nhắm Ải Nam Quan chạy thục mạng. Nhưng chạy đến đâu
cũng bị quân Ðại đô đốc Lộc đánh chặn bắt và giết rất nhiều. Tôn Sĩ Nghị phải vất cả sắc
thư và ấn tín để lo chạy thoát thân. Nghị chạy xấc bấc xang bang đến bảy ngày đêm không
cơm nước mới đến trấn Nam quan. Chiêu Thống cũng chạy theo Tôn Sĩ Nghị.

Riêng đạo quân đóng dự phòng ở Sơn Tây, tuy không bị tấn công, cũng hoảng sợ rút chạy
về nước. Ðến nỗi dân chúng Tàu gần biên giới không biết thấy quân chạy cũng bỏ nhà cửa
chạy theo vào sâu nội địa hàng dặm.

Chiều mồng 5 Tết Kỷ Dậu (30-1-1789) vua Quang Trung kéo quân vào thành Thăng Long
trong không khí tưng bừng. Áo bào nhà vua đỏ thắm đã bị khói thuốc súng nhuộm thành
màu đen. Nhà vua đã vào thành Thăng Long trước kỳ hẹn hai ngày. Trăm họ ra nghênh
tiếp chật đường và tiếng reo hò của dân chúng và binh sĩ vang cả góc trời.

Theo đúng hẹn, vua Quang Trung cho tướng sĩ ăn Tết môt. lần nữa. Tết chiến thắng, Tết
thanh bình!

c)
Phân tích các yếu tố đưa đến chiến thắng của vua Quang Trung:

Mọi cuộc chiến xuất phát từ bộ não của quân Tây Sơn đều được tính toán kỹ lưỡng, xem xét
từng chi tiết, ước lượng tình hình, cân đo quân số ... cho nên khi đã đánh phải tất thắng.

- Chuẩn bị chu đáo: Trước khi hành quân nhà vua cho hội họp tướng sĩ sơ lược mục tiêu,
nơi chốn địch đang hiện diện, địa hình, địa vật sẽ giao tranh với địch. Những phương tiện
hành quân như thuyền bè, voi, ngựa, đại bác ... đều phải được sắp xếp cẩn thận cho nên
thời gian chuẩn bị thường lâu dài và kín đáo.

- Chuẩn bị tâm lý: Khi cần hành quân ở đâu, vị tướng hành quân chuẩn bị tâm lý quần
chúng. Ly gián quần chúng với địch. Dùng quần chúng để dẫn đường và thám báo, đồng
thời tung gián điệp để thám thính, cấy người làm nội gián trong hàng ngũ địch, triệt để trừ
khử nội gián của địch trong hàng ngũ, hay gián điệp của địch như trường hợp phái bô. Bắc
Hà do Trần Công Sán vào Thuận An, khi trở về đều bị tiêu diệt cả, như tất cả quân thám
thính của quân Thanh đều bị trừ khử hết. Ta biết địch mà địch không biết ta là yêu tố quan
trọng để chiến thắng.

- Chọn địa điểm giao tranh để thuận lợi cho ta về quân số, về tiện nghi để lùa địch vào chỗ
chết: Trận đánh Rạch Gầm- Xoài Mút, Nguyễn Huệ chọn khúc sông Mỹ Tho giữa Rạch Gầm
và Xoài Mút nơi có nhiều cù lao và trên bộ thì có nhiều lau lách. Vũ Văn Dũng trá bại để cho
địch đuổi đến nơi thích hợp và giờ giấc ấn định cho con thủy triều bắt đầu rút. Quân Nguyễn
Huệ chưa bằng môt. nửa số quân địch mà đã diệt toàn bộ quân Xiêm.

- Hành quân triệt để nhanh và bí mật: Các cuộc hành quân ra Bắc đều được trẩy như gió
cuốn và bất ngờ. Người am hiểu tình hình quân sư. Tây Sơn như Nguyễn Hữu Chỉnh và Vũ
Văn Nhậm đều không ngờ tới và lường được. Một cung nữ của bà Lê Thái Hậu đã nhận xét
"Cứ xem những lời trong bài hịch thì thấy ngài (Tôn Sĩ Nghị) buộc cho ta nhiều lắm mà ngài
cứ lượn lờ trên sông, chỉ thanh thế dọa nạt, không biết Nguyễn Huệ là bậc anh hùng hảo
thủ hung tợn, giỏi cầm quân. Coi y ra Bắc vào Nam thật là xuất quỷ nhập thần không ai có
thể dò biết. Y bắt Nguyễn Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Vũ Văn Nhậm như giết con lợn,
không một người nào dám trông thẳng vào mặt ...."

- Về yếu tố di chuyển: quân Tây Sơn rất nhanh chóng. Với cuộc hành quân di chuyển cả
hàng vạn người cùng đồ dùng cá nhân, đại bác, voi, ngựa, lương thực ... từ Thuận Hóa ra
đến miền Bắc cả hàng trăm cây số mà đường xá lại khó khăn, gập ghềnh đèo cao, sông cả.
Vậy mà quân Tây Sơn chỉ đi trong vòng vài ngày, đó là một điều kỷ lục bí ẩn. Tất cả những
tài liệu sách vở, chứng tích của thời Tây Sơn đều bi. Nguyễn Ánh và vua quan nhà Nguyễn
tiêu hủy hết. Cho nên người ta chỉ phỏng đoán là vua Quang Trung dùng tổ 3 người, hai
người khiêng võng, 1 người ngủ, cứ vậy mà đi. Nhưng nhiều người phản bác, cho rằng thế
vẫn chậm. Có người cho rằng họ di chuyển bằng đường thủy nhanh hơn đường bộ vì quân
Tây sơn có trên 600 chiến hạm đủ cỡ. Trong đó có những chiến hạm có thể trang bị tới 50 -
60 đại bác. Chaigneau, một sĩ quan giúp Nguyễn Ánh đã nhận xét "Trước khi thắng được
thủy quân địch, tôi đã coi thường lực lượng này nhưng nay tôi đoan chắc với các ông rằng
đó là lầm lạc. Quân Tây Sơn đã có những chiến hạm trang bị 50 và 60 đại bác."
Nhờ sự di chuyển nhanh chóng mang lại yếu tố bất ngờ trong các cuộc hành quân mà quân
Tây Sơn hạ bao nhiêu đồn địch trong chớp nhoáng. Ðịch không thể ngờ được quân Tây
Sơn lại đến nhanh được như thế, bất ngờ như thế.
Ngoài ra còn những yêu tố khác như voi trận để làm ngựa sợ chạy tán loạn, súng đại bác,
súng hỏa hổ, khiên chắn đạn địch, tiếng loa hô xung phong, tiếng hò hét, tiếng trống trận...
đều làm cho địch khiếp đảm mà không còn tinh thần chiến đấu. Vấn đề hậu cần cho cả
đoàn quân cũng rất nhiêu khê đã được quân Tây Sơn giải quyết nhẹ nhàng, đầy đủ. Hiện
nay người ta cũng chưa biết nhà vua làm thế nào có lương thực cho quân ăn dọc đường khi
hành quân thần tốc như vậy. Ðây làm một bí ẩn khác mà người ta giả đoán là quân ăn bánh
tráng và bánh tét, loại lương thực có thể vừa đi vừa ăn mà không mất thời gian.

Tóm lại, tất cả yếu tố trên cho chúng ta thấy Nguyễn Huệ là một nhà quân sự đại tài, loại
người mà binh thư Tôn Ngô và Trần Hưng Ðạo cho là không phải người thánh trí thì không
thể làm được như vậy "Nắm cả quân như sai một người, ai cũng phải làm, không ai là không
làm."

IV.
Quang Trung, một con người toàn Việt:

Ba anh em Tây Sơn xuất thân từ nông dân, dấy binh khởi nghĩa trong lòng dân để sửa đổi
một tình trạng xã hội bất công, thối nát, nghèo đói và loạn lạc. Như một giáo sĩ Tây phương
đã nhận xét "Họ tự xưng là những người theo mệnh trời để thi hành công lý và giải phóng
nhân dân ra khỏi ách quan liêu phong kiến đúng như các nhà cách mạng xã hội chủ
trương.." Nguyễn Huệ khi cùng anh khởi binh cách mạng chỉ vừa tròn 20 tuổi, tuổi căng đầy
lý tưởng, xây dựng cho mình một cách nhìn, thế đứng khi đã chiêm nghiệm những sở trường
và sở đoản của các thế lực đương thời và ngay cả thế lực của phong trào Tây Sơn dưới sự
lãnh đạo của Nguyễn Nhạc. Chính người thanh niên này đã thao thức và quán triệt một
đường lối xuyên suốt và một tâm thức không vị kỷ. Cho nên sở nguyện của Bắc Bình Vương
đã cống hiến một cách trọn vẹn năng lực và tâm hồn trong sáng của mình cho một lý tưởng
chung. Bao nhiêu năm về trước, chính điểm then chốt này mà Hai Bà Trưng đã xả thân cứu
nước, cứu dân mà không nghĩ đến sự đền bù nào từ dân tộc. Cũng chính điểm then chốt
này mà Nguyễn Trãi chịu mười năm bao nhục hình, cay đắng để kết tinh cuốn Bình Ngô
Sách đem dâng cho Lê Lợi. Những người thanh niên nam nữ ấy đã ươm giống trong lòng
dân tộc, tưới tẩm và nuôi dưỡng bằng giòng văn hóa tinh hoa: NHÂN BẢN, NHÂN CHỦ,
nghĩa là đem một tình thương yêu bao la trải trên toàn dân với một trí tuệ trong sáng và
không còn vị kỷ nữa.

Chính nhờ xây dựng cho mình một tâm thức như vậy mà cá nhân Nguyễn Huệ khước từ
quan điểm cá nhân chủ nghĩa của Vũ Văn Nhậm hay quan điểm cơ hội chủ nghĩa của
Nguyễn Hữu Chỉnh. Hai lần đem quân ra Bắc, hai lần Nguyễn Huệ đều từ chối mọi chức vụ
và quyền hành của vua Lê giao phó. Như vậy đủ to? Nguyễn Huệ đã nghiêm khắc phê phán
tính cách cát cứ địa phương hay não trạng lãnh chúa như anh mình là Nguyễn Nhạc,
Nguyễn Ánh hay chúa Trịnh. Nhờ tâm thức vô vị kỷ cho nên người thanh niên Nguyễn Huệ
đã coi nhẹ mọi thành công của cá nhân, hay những thành tựu của mình trong việc cứu
nước, cứu dân. Thành tựu to lớn đó là của cả dân tộc. Sự lên ngôi vua tại Phú Xuân là một
điều không có không được. Không thể không có một vị quốc trưởng để nối kết toàn dân
trong một sự nghiệp vô cùng to lớn và trọng đại này mà Lê Chiêu Thống đại diện xưa nay
đã cam tâm mang voi ngoại xâm giày mồ tổ.

Nhờ xây dựng cho mình một tinh thần vô vị kỷ này Quang Trung ba lần cầu hiền La Sơn
Phu Tử bị từ chối mà không một tự ái cá nhân hay dùng quyền uy để buộc. Những lần khác,
khi biết rõ vua Lê không ra gì nữa Nguyễn Thiếp mới chịu hợp tác với tính cách chân trong
chân ngoài. Quang Trung tinh ý nhận biết nhưng không một mảy may giận hờn, trách móc
mà thái độ vẫn nhún nhường và coi La Sơn Phu Tử như một bậc thượng khách hay một vị
thầy. Ðối với Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích, Nguyễn Huệ đã đánh giá đúng mức khả năng
của mọi người mà giao phó trách nhiệm như một sự gánh vác chung cho cả dân tộc chứ
không riêng cho một cá nhân hay một giòng họ nào. Vì vậy sự đóng góp hết mình của Ngô
Thời Nhiệm với tất cả khả năng sáng tạo là một công cuộc chung cho toàn bộ cơ cấu và
cũng đáp lại tấm thịnh tình của Nguyễn Huệ. Chúng ta cũng thấy sự đóng góp của thanh
niên Ðặng Văn Long trong trận chiến đánh đuổi quân xâm lăng cũng là một gương sáng.
Trong khi huấn luyện binh mã tại Nghệ An, Nguyễn Huệ đã ngạc nhiên, chú ý đến người
thanh niên xuất sắc Ðặng Văn Long, và đưa vào địa vị tương xứng với chức vu. Ðại Ðô Ðốc.
Cho hay tri âm gặp tri kỷ, con mắt của Nguyễn Huệ thật tinh tường.

V.
Việc xây dựng đất nước sau chiến tranh:

Khi hòa bình trở lại, vua Quang Trung khởi sự xây dựng đất nước từ những hoang tàn, đổ
nát, tang thương. Với tâm thức vô vị kỷ, ngài không theo quan điểm Tống Nho như Lê Lợi
hay Nguyễn Ánh sau này. Vì Tống Nho giáo điều, bạc nhược của triều chính nên sức đề
kháng và lòng tự tin của dân bị suy thoái trong thời kỳ bại vong Lê Chiêu Thống hay trong
thời nhà Nguyễn. Ngài chọn con đường xuyên suôt' của dòng vận động lịch sử từ thời lập
quốc đến hai triều đại thịnh tri. Lý, Trần.

- Về quốc học: Quang Trung muốn có một nhà vững mạnh và có hiệu lực nên ngài đã chú
trọng đến chất lượng của việc đào tạo, và cải tổ lại hệ thống hành chính các cấp cho phù
hợp với yêu cầu mới của đất nước. Việc học được tổ chức khắp mọi nơi, từ xã đến phủ,
huyện. Những người trong bang giảng huấn phải là người học và hạnh kiêm toàn. Các tổ
chức tư nhân có thể mời thầy về dạy cho con em mình. Ðồng thời ngài sai Nguyễn Thiếp lập
Sùng Chính Viện hợp tác với nhiều nhà khoa bảng khác thông thạo chữ Nôm như Nguyễn
Công, Nguyễn Thiện, Phan Tố Ðịnh... để dịch tất cả kinh sách và các tác phẩm có đạo đức
và văn chương ra chữ Nôm.

Mọi văn thư đều được viết bằng chữ Nôm. Nhờ sự khuyến khích đó mà văn chương chữ
Nôm thời Tây Sơn rất thịnh hành.

- Về tôn giáo cũng như các đời Lý, Trần, với tinh thần khai phóng, ngài cho tự do tín
ngưỡng. Các tôn giáo như Phật giáo, Lão giáo, đạo Ma ní, đạo Thiên Chúa đều được tự do
truyền đạo. Riêng đối với đạo Phật, ngài thấy làng cũng có chùa, mà phần đông các sư ít
học, chỉ mượn tiếng tu hành để ký sinh vào xã hội, không mấy người hiểu thấu đạo lý cao
sâu của đức Phật nên ngài xuống chiếu bắt bỏ các chùa nhỏ ở làng. Mỗi phủ, mỗi huyện
được cấp gỗ gạch để xây môt. ngôi chùa lớn, khang trang rồi chọn tăng ni có học thức đến
trụ trì. Còn các sư đội lốt tu hành đều bắt phải hoàn tục, lo bổn phận người dân.

- Về tuyển chọn nhân tài: Quan điểm xử dụng trí thức của Quang Trung được thể hiện rõ
trong bài Chiếu Lập Học "Dựng nước lấy việc học làm đầu, trị nước chọn nhân tài làm gốc...
Trẫm buổi đầu dựng nghiệp tôn trọng việc học, lưu tâm yêu mến kẻ sĩ, muốn có người thực
tài ra giúp đất nước."

Trong muôn ngàn nho sĩ, trí thức và quan lại của chế độ cũ mà vua Quang Trung đã tiếp
xúc, ngài vẫn yêu mến những người có tài năng thật sự, có tâm huyết với dân, có bản lãnh,
khẳng khái dù cho họ có lập trường chính trị khác. Ngài hiểu họ chỉ là sản phẩm của một xã
hội khổ đau và đầy biến động, nên ngài kiên trì thuyết phục, chăm lo để có những thực tài
ra giúp nước. Tính rộng lượng, bao dung và thủy chung đối với trí thức là những đức tính
cần thiết để Nguyễn Huệ thu phục nhân tài trong thiên hạ.

Vì vậy, trí thức đến với Nguyễn Huệ vì một lòng nhiệt thành phục vụ cho sự nghiệp chung
của đất nước.

Trong nước, ngài tu chỉnh thuế khóa, chăm lo khuyến nông, lập ngân hàng chợ búa giữa
biên giới ta và Tàu để dân chúng hai xứ tự do buôn bán, trao đổi hàng hóa và lập các
thương cảng để tàu ngoại quốc được ra vào tự do buôn bán.

Về mặt đối ngoại, từ khi đuổi quân Thanh ra khỏi bờ cõi, ngài muốn tránh nạn can qua cho
dân chúng an cư lạc nghiệp, vua Quang Trung cho trao trả những tù binh quân Thanh và
cấp cho lương thực và phương tiện để về nước, đồng thời sai Ngô Thời Nhiệm viết biểu
giao thiệp với nước Tàu.

Những thành công của vua Quang Trung là ngài đã đòi lại những đất đai đã mất dưới đời
Lê - Mạc, bãi việc cống người, vàng (một quốc hận đáng kể cho dân Việt từ đời Lê Lợi) và
cuối cùng dâng sớ cầu hôn công chúa Tàu và đòi lại đất Lưỡng Quảng. Nhưng việc cầu
hôn và đòi đất Lưỡng Quảng chưa được thực hiện thì nhà vua băng hà năm 40 tuổi. Ðó là
ngày 29-7 năm Nhâm Tý (15-9-1792).

Tài danh người anh hùng dân tộc Quang Trung Nguyễn Huệ, người đã đem lại những chiến
thắng vẻ vang cho dân tộc, mang lại cho đất nước những cải tổ sâu rộng như hai vầng nhật
nguyệt tỏa ra rạng rỡ trên núi sông.

Nhưng tiếc thay, đau đớn thay! Trời đã đoạt đi người tài danh đang độ tuổi phục vụ tích cực
cho đất nước.

Hôm nay chúng ta ôn lại các trang sử Quang Trung chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động
và tự hào về người anh hùng trẻ tuổi đất Tây Sơn, người đã dâng hiến cho dân tộc một nền
vinh quang chói lọi. Chỉ mười bốn năm tròn, người thanh niên ấy đã dành cho mình 10 năm
để chiêm nghiệm, để tài bồi cho mình tấm lòng thương yêu dân tộc vô bờ bến với một tinh
thần vô vị kỷ, một trí tuệ trong sáng giữa những bối cảnh lịch sử đầy hận thù, chia rẽ, tối
tăm và lạc hậu. Chỉ bốn năm còn lại để phát triển đất nước với một nghị lực phi thường và
tự thắng những vọng động tham lam. Mọi việc đang hình thành tốt đẹp thì bị đứt đoạn nửa
chừng!

Chúng ta muốn "làm người Quang Trung" chúng ta học hỏi gương của ngài, tu luyện thân
tâm, kiềm chế những vọng động nhân ích kỷ, thấp hèn, những tham vọng bè phái rồi từ đó
vượt qua những bế tắc, khủng hoảng hiện nay hầu xây dựng một tương lai phục sinh cho
đất nước, đem lại đời sống ấm no hạnh phúc cho toàn dân..Người kỵ mã cầm cờ vào Thăng
Long

Lê Hân là lính kỵ mã trong tiền quân của Ngô Văn Sở, từng cầm đại kỳ, hộ giá Quang Trung
vào Thăng Long sau chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa.Thuở thiếu thời, Lê Hân, một cậu bé
con nhà nghèo ở huyện Bình Khê, được một nhà sư ở Thiên Thai tự dạy võ nghệ cho. Khi
tập đánh bộ, khi tập đánh trên ngựa, Hân trở thành một chàng trai dũng mãnh, những muốn
đem tài sức ra cứu dân giúp đời. Gặp Ngô Văn Sở trên đường đi mộ binh, Hân ứng nghĩa
ngay. Buổi đầu, chưa ai biết đến, Hân chỉ là một giản binh giữa hàng quân. Về sau, nhờ tài
đức hơn người, Hân được cất nhắc làm đội trưởng, cầm cờ đi đầu khi hành quân hay phất
cao trên trận địa để cổ vũ binh sĩ xông lên. Đại kỳ của tướng Tây Sơn hình vuông, mỗi bề
hai mét, giữa có màu đào, thêu tên chủ tướng, quanh viền tua xanh đính chặt các móc câu
sắc, khi cần, có thể thành vũ khí phất ngang, làm sát thương quân địch. Người lính cầm cờ
phải rất khỏe, can đảm, giỏi võ nghệ, để giữ chắc lá cờ khi xông trận. Vì giữ được cờ là giữ
vững tinh thần quân sĩ, bị địch chém gãy cờ là báo điềm vỡ trận. Vì thế Ngô Văn Sở mới
giao cho Lê Hân giữ đại kỳ. Mỗi lần ra trận, ông ngồi trên một chiến mã, tay cầm chắc cán
cờ bằng gỗ trắc, sườn đeo trường kiếm, lưng mang hỏa hổ để ứng phó khi cần.

Tay cờ, tay kiếm, Hân không ngại khi đánh giáp mặt với kẻ thù. Cuộc đời chiến đấu của Lê
Hân đã gắn với ngọn cờ đào của nghĩa quân Tây Sơn như vậy. Mùa đông năm 1773, sau
khi lấy được phủ Quy Nhơn, Tây Sơn Vương cử Ngô Văn Sở làm Chinh Nam Đại Tướng
quân, đem binh vào đánh chiếm ba phủ: Phú Yên, Diên Khánh và Bình Thuận. Các tướng
giữ thành của chúa Nguyễn kẻ đầu hàng kẻ tử trận. Lê Hân ngồi trên mình ngựa, giương
cao cờ dẫn đoàn quân chiến thắng làm chủ hết thành này đến thành khác, trong tiếng reo
hòa vang dội của nhân dân. Vinh quang nhất là giữa trưa ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu, Lê Hân
hiên ngang giương cao lá cờ đào, đi đầu đội tiền quân, hộ giá vua Quang Trung vào thành
Thăng Long sau chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa. Đi sau đoàn kỵ binh của ông là hàng
trăm thớt voi mang súng cự thuần trên lưng. Đầu các quản tượng và nòng súng đều quấn
dải lụa điều mừng chiến thắng. Vua Quang Trung ngồi trên bành voi, áo bào đỏ và khăn
vàng xạm đen khói súng, vẫy tay chào trăm họ đang hân hoan ra đón bên vệ đường.
Sau chiến thắng, vua trở về Phú Xuân, Lê Hân ở lại Bắc Thành cùng chủ soái. Từ một
người lính kỵ mã cầm cờ tiền quân, ông trở thành một tỳ tướng thân cận của Ngô Văn Sở.
Tới triều Cảnh Thịnh, chủ soái bị hại, ông chán ngán, lấy lý do đau yếu và xin về quê,
nhưng không được chấp thuận. Triều Tây Sơn sụp đổ, ông trốn thoát khỏi vùng truy lùng
của nhà Nguyễn, băng rừng núi trở về vùng Tây Sơn Thượng, mai danh ẩn tích, sống cùng
đồng bào Ba Na quen biết từ hồi dấy nghĩa. Tới thời Minh Mệnh, lúc đã gần 80 tuổi, lệnh
truy lùng quan quân nhà Tây Sơn đã lắng dịu, ông mới lặng lẽ về quê, sống trong đùm bọc,
chở che của họ hàng, làng xóm.