Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt
Vua Trần Nhân Tông & Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử

Núi Yên Tử (1,068 m) thuộc  thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh là một danh thắng, cách Hà
Nội khoảng 134 cây số, xưa gọi là
Bạch Vân sơn vì  đỉnh núi thường có mây bao phủ.  
Đường lên đỉnh Yên Tử (tới chùa Đồng)  dài khoảng 6000 m (đi bộ mất 6 giờ qua hàng
ngàn bậc đá - nay có cáp treo).

Yên Tử trở thành một  trung tâm Phật giáo Việt Nam do vua Trần Nhân Tông sáng lập ra
Phái “
Thiền Trúc Lâm Yên Tử” và nhà vua trở thành vị Tổ thứ nhất với pháp danh Điều Ngự
Giác Hoàng Trần Nhân Tông (Trúc Lâm Đầu Đà)
, sau khi ngài cởi bỏ long bào, khoác áo cà
sa tu tập tại đây. Ngài đã cho xây dựng hàng trăm công trình lớn nhỏ trên núi Yên Tử để làm
nơi tu hành và truyền kinh, giảng đạo.

Từ chân núi Yên Tử leo lên, gặp
suối Giải Oan qua cầu đá xanh nối hai bờ suối.Tương
truyền những cung tần,  mỹ nữ đi theo hầu vua đã thác oan tại đây, nên vua Trần Nhân
Tông  cho lập
chùa giải oan.  Chùa Hoa Yên  cao 543 m với hàng cây tùng cổ   Trên độ cao
700 m là
chùa Vân Tiêu. Trên đỉnh núi là chùa Đồng cao 1,068 m, khởi dựng vào thời nhà
Hậu Lê với tên gọi T
hiên Trúc tự.  Đầu năm 2007, chùa Đồng mới được đúc xong hoàn toàn
bằng đồng nguyên chất (cao 3 m, rộng 12 m2, nặng 60 tấn).

Dọc đường lên Yên Tử còn
Tháp Tổ, chùa Một Mái, chùa Bảo Sái, tượng đá Yên Kỳ Sinh,
am Ngọa Vân, bàn cờ tiên, Thác Vàng, Thác Bạc


Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử (lớn nhất Việt Nam), xây trên nền dấu tích của chùa Lân, nơi  
Sư Tổ (Trần Nhân Tông) từng thuyết giảng chúng sinh. Lễ hội Yên Tử được tổ chức hàng
năm bắt đầu từ ngày 10 tháng giêng và kéo dài hết tháng 3 (âm lịch).

Thân thế và sự nghiệp: Vua Trần Nhân Tông (1258 – 1308) tên thật là Trần Khâm (con
trưởng vua Trần Thánh Tông), sinh ngày 11 tháng 11 Mậu Ngọ (1258), lên ngôi năm 1278
(làm vua 1278- 1293), lấy niên hiệu Thiên Bảo và Trùng Hưng, trị vì 15 năm và nhường ngôi
cho con là Trần Anh Tông, làm Thái Thượng Hoàng 6 năm, đi tu và trở thành thủy tổ phái
Thiền Trúc Lâm Yên Tử, mất năm 1308, thọ 50 tuổi.

Vua Trần Nhân Tông là vị vua thứ 3 của nhà Trần, thông minh, quả quyết, sáng suốt, biết
trọng người tài và biết đoàn kết vua quan, quân dân, đã ra lệnh tổ chức Hội Nghị Diên Hồng
để hỏi ý dân (bô lão) nên hòa hay chiến khi quyết định chiến tranh với nhà Nguyên.

Về võ bị,  vua Trần Nhân Tông đã ngự giá đánh dẹp giặc Lào (1290) và chiến thắng quân
Nguyên Mông
trong 2 lần xâm lăng Đại Việt (từ 1285 đến 1287) – Đây cũng nhờ Thái
Thượng Hoàng Trần Thánh Tông, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và nhiều danh tướng
tài giỏi.

Về ngoại giao: Vua Nguyên nhiều lần bắt vua Nhân Tông phải sang chầu, nhưng nhà vua
cương quyết không đi (tương tự xưa kia Triệu Vũ Đế cũng nhất định không sang chầu vua
Hán).

Đối với nước Chiêm Thành, vua Trần Nhân Tông qua chơi thăm phong cảnh (1301), có hứa
gả con gái là công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Chế Mân để giữ hòa bình lâu dài cho 2
nước. Sau Chế Mân dâng 2 châu Ô, Lý cho Đại Việt làm quà dẫn cưới (nhà Trần đổi là
Thuận Châu và Hóa Châu).

Về văn học, vua Nhân Tông để ý phát triển văn học, cho đổi họ Nguyễn Thuyên thành Hàn
Thuyên để khuyến khích tài năng xuất chúng của ông (Hàn Thuyên lập ra thể thơ gọi là Hàn
luật và làm thơ bằng chữ Nôm đầu tiên). Chính bản thân vua Nhân Tông cũng là một nhà
thơ thiền xuất sắc, nay còn lưu lại một số tác phẩm.

Đi tu: Sau khi nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông được 6 năm, vua Trần Nhân Tông đi
tu tại cung Vũ Lâm, Ninh Bình, sau đó rời đến Yên Tử (Quảng Ninh) tu hành và lập ra Phái
Thiền Trúc Lâm Yên Tử, lấy đạo hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng (hay Trúc Lâm Đầu Đà). Ngài
là Tổ thứ nhất của dòng Thiền Việt Nam, được dân chúng cung kính gọi là “Phật Hoàng”.

.(
Nguồn: Wikipedia, Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim và tài liệu trên Internet).

(Song Thuận)