Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt

LTS: Sau những cuộc chiến tranh xâm lược nước Đại Việt bằng quân sự bị thất bại của các triều đại
Nam Hán, Đại Tống, Nguyên Mông, Minh, Mãn Thanh liên tục từ một ngàn năm qua…ngày nay
Trung Quốc đã và đang mở một cuộc xâm lăng nước Nam bằng chính sách “Tầm thực” (Tầm ăn lá
dâu), một cuộc xâm lăng “không tiếng súng” qua chính sách ngoại giao, “hữu nghị”. Đây là một
cuộc chiến tranh rất nguy hiểm, rất khó chống cự…Ta đã và đang mất dần đất đai, hải đảo và biển
Đông.
Bên cạnh sự lấn lướt về  quân sự và kinh tế, Trung Quốc còn muốn dành luôn nền Văn Minh Cổ của
dân tộc Lạc Việt qua cuộc tranh chấp về “chủ quyền” Văn Minh Trống Đồng…
Chúng tôi hân hạnh giới thiệu bài viết mới nhất của Nhà văn, nhà Biên khảo về Trống Đồng Bác Sĩ
Nguyễn Xuân Quang, đồng thời cũng xin mạn phép được gióng lên một hồi chuông báo động!  Kính
mong được quý vị độc giả lưu tâm và đóng góp ý kiến.

Kính mong quí vị nào có thể dịch bài viết này ra Anh ngữ để có thể phổ biến rộng rãi. (Liên lạc
email: nguyensongthuan@yahoo.com) Xin đa tạ.

Trân trọng.
Song Thuận



TRỐNG ĐỒNG NÒNG NỌC LÀ CỦA ĐẠI TỘC VIỆT
HAY CỦA TRUNG HOA?

                                                     Nguyễn Xuân Quang

LTG
Tôi có phụ chú các từ chuyên môn bằng Anh ngữ, mong bài này được dịch sang Anh ngữ để
phổ biến cho cả thế giới đọc. Xin thành thật cám ơn.
                                      
*

  
Hiện nay có sự tranh chấp về nguồn gốc chế tạo ra trống đồng giữa Trung Hoa và
Việt Nam
. Các nhà khảo cổ Trung Hoa cho rằng trống đồng có nguồn gốc ở Trung Hoa do
người Bộc (Pu) ở Vân Nam (Yunnan) làm ra đầu tiên, trong khi các nhà khảo cổ Việt Nam
cho rằng nguồn gốc trống đồng là ở châu thổ sông Hồng (Red River delta) do người Lạc
Việt  làm ra. Người Trung Hoa ngang nhiên quảng bá khắp thế giới cho rằng người Trung
Hoa là chủ nhân ông của trống đồng. Họ xây những bảo tàng viện hình trống đồng rất lớn
để trưng bầy trống đồng ở Nam Trung Hoa. Ở những công viên trưng bầy những kiến trúc
về trống đồng. Họ tổ chức những tours du lịch xem trống đồng. Tộc Choang (Zhuang) tổ
chức những đêm trình diễn văn nghệ cho du khách xem với những màn nhẩy múa trống
đồng… Trong khi đó trống đồng ở Việt Nam như đang rơi vào quên lãng…

Đâu là sự thật?

  Trước hết, dựa vào đâu mà các nhà khảo cổ Trung Hoa nhận trống đồng là của họ? Họ
dựa trên những luận cứ sau đây, căn cứ vào số lượng, phân loại (classification), trang trí
(decoration), định tuổi (dating) bằng Carbon phóng xạ 14.

-
số lượng

  Bảo Tàng Viện Tỉnh Quảng Tây, nơi có vùng tự trị Zhuang (The Provincial Museum of the
Guangxi Zhuang Autonomous Region) khoe là họ có một lượng trống đồng nòng nọc, âm
dương lớn nhất thế giới. Vào năm 1980, Trung Hoa có 1460 chiếc. Trong khi đó vào năm
1980, Việt Nam chỉ có 360 chiếc (2).

  Người Trung Hoa có thể dựa vào số lượng trống mà cho rằng nguồn gốc trống đồng là
của mình được không?
Dĩ nhiên là không. Ví dụ điển hình là số tượng Phật ở Trung Hoa
có thể có nhiều hơn ở Ấn Độ nhưng không có nghĩa là Phật giáo có nguồn gốc ở Trung
Hoa. Vấn đề là trong số lượng khổng lồ đó, Trung Hoa có bao nhiêu trống chính thống,
trống chân chính, trống tinh ròng (genuine). Họ có trống nào tinh tế và tuyệt vời như trống
đồng âm dương Ngọc Lũ I không? Nhiều mà toàn là trống giả, trống bắt chước, trống rỏm,
trống thương mại thì không thể nào dùng số lượng lớn nhất thế giới cho rằng Trung Hoa là
nguồn gốc của trống đồng. Số lượng đồng hồ Rolex giả ở Trung Hoa có thể nhiều hơn ở nơi
chế ra Rolex thật là Thụy Sĩ nhưng Rolex không phải có nguồn gốc ở Trung Hoa. Nghệ thuật
làm đồ giả của Trung Hoa lên tới mức tuyệt đỉnh. Nói tới Trung Hoa là nói tới thật và giả. Đồ
giả lâu ngày cũng thành “đồ cổ”, đồ giả có thể đã có từ hàng trăm hàng ngàn năm. Nếu tôi
có dịp tiếp cận hay có đủ hình ảnh của 1460 chiếc trống của Trung Hoa tôi có thể tìm ra
ngay được một số phần trăm chắc chắn khá lớn những trống rỏm, trống muộn.

  Việt Nam có số lượng trống ít hơn Trung Hoa chỉ có 360 chiếc nhưng trong đó có 140
chiếc thuộc loại Heger I. Theo Heger thì loại Heger I là loại cổ nhất và tìm thấy nhiều nhất ở
Bắc Việt Nam lúc đó, vì thế các tác giả Việt Nam gọi loại này là trống đồng Đông Sơn (Heger
believed that Type I, found mainly in northern Vietnam and referred to as the Dong Son
drum by Vietnamese scholars, was the earliest). Đây là những trống hình Cây Nấm Vũ Trụ
Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh biểu tượng cho
toàn họ, toàn liên bang Đông Sơn (xem dưới).

-
Phân loại theo hình dạng:

  Luận cứ thứ hai của Trung Hoa là dựa vào sự phân loại theo hình dạng.

  Trước đây (từ năm 1950 đến 1980) người Trung Hoa có rất ít trống loại Heger I, với chủ
đích nhận trống đồng là của họ nên
họ đả phá và không chấp nhận cách phân loại của
Heger
(vì Heger, như đã nói, cho trống loại Heger I là loại cổ nhất và Việt Nam có nhiều loại
này nhất). Họ lúc đó có nhiều trống đồng Heger loại II ở tỉnh Quảng Tây nên họ xếp loại lại
trống đồng nòng nọc theo ý họ và cho loại Heger II là trống cổ nhất và cho rằng loại II đẻ ra
loại I Đông Sơn. Tuy nhiên, ngay trong giới khảo cổ Trung Hoa cũng đã có sự bất đồng ý
kiến về cách phân loại mới này. Các nhà khảo cổ ở Viện Bảo Tàng Tỉnh Vân Nam vẫn còn
công nhận cách phân loại của Heger (bởi vì Vân Nam có nhiều trống Tây Hải San tức Heger
I hơn các nơi khác ở Hoa Nam).

Đến năm 1970, họ tìm được nhiều trống mà họ tin là thuộc loại Heger I ở Wanjiaba, Vân
Nam. Họ cũng cho rằng họ tìm được trống cổ nhất nên bỏ cách phân loại của riêng họ,
lại
quay về nhận lại cách phân loại của Heger (!!!).
Họ cho loại Wanjiaba cổ nhất và cho
Vân Nam là cái nôi của trống đồng nòng nọc, âm dương thay vì là Quảng Tây. Tuy nhiên
vẫn có sự bất đồng ý kiến giữa các nhà khảo cổ của Quảng Tây và Vân Nam về nguồn gốc
của trống đồng. Mãi đến năm 1995, các nhà khảo cổ Trung Hoa dàn xếp với nhau và nhận
Wanjiaba là loại trống cổ nhất và cho rằng địa hạt Chuxiong là nơi sinh của trống đồng (sự
“tráo trở” về phân loại này, bỏ đi rồi lại nhận lại sự phân loại của Heger cho thấy các nhà
khảo cổ học Trung Hoa có “ý đồ” chiếm đoạt nguồn gốc trống đồng và cũng cho thấy họ là
những nhà khảo cổ học không chân chính).

Các nhà khảo cổ Việt Nam phản bác lại cho rằng Wanjiaba không phải là trống cổ nhất mà
là trống muộn nhất. Vì sao? Các nhà khảo cổ Trung Hoa trở lại với sự phân loại của Heger
nhưng cho loại Wanjiaba là cổ nhất vì dựa trên hình dáng và các trang trí giản dị. Họ cho
rằng càng giản dị càng cổ xưa. Ngược lại các nhà khảo cổ Việt Nam cho rằng càng giản dị
thô sơ càng xuống dốc, nghĩa là càng muộn.

Ai đúng ai sai?  Trước hết, về hinh dáng, muốn biết độ chính thống, tinh ròng của một trống
đồng nòng nọc, âm dương ta phải căn cứ vào hình dáng thô sơ của một trống xem có ăn
khớp không với ý nghĩa biểu tượng và trang trí đơn giản nhưng chính thống?

Về hình dáng, theo lý luận của Trung Hoa cho là hình dáng giản dị của Wanjiaba là trống cổ
nhất. Điều này chỉ đúng khi cái giản dị, thô thiển mang tính cách do kỹ thuật thô sơ lúc ban
đầu mà thôi, còn nội dung trống bắt buộc lúc ban đầu bao giờ cũng phải mang ý nghĩa biểu
tượng chính thống trăm phần trăm.
Trống có hình dáng thô sơ nếu có nội dung và các
hoa văn chính thống mới là trống cổ sơ, còn trống với hình dáng thô sơ mà có nội
dung lệch lạc và hoa văn viết sai ngữ pháp của chữ viết nòng nọc, diễn tả bậy bạ
theo lối “vô học” thì là những trống muộn, trống rỏm.

Trước khi làm ra trống đồng, người làm trống phải có một chủ đích, một ý tưởng muốn dùng
trống để diễn đạt một cái gì, biểu tượng cho một cái gì, chuyên chở một cái gì. Tôi đã chứng
minh trống đồng là trống nòng nọc, âm dương vì thế trống có chủ đích, chủ thể diễn tả Vũ
Trụ Tạo Sinh, trống là trống biểu của Vũ Trụ giáo, trống biểu của họ, đại tộc, tộc, chi tộc
trong liên bang thờ Vũ Trụ giáo (1). Do đó trống chính thống phải mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ
Tạo Sinh và phải có lay out về hình dáng diễn tả đúng theo triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh.
Cách phân loại của Heger chỉ dựa vào sự mô tả về hình dáng, phân bố, trang trí và thành
phần cấu tạo hóa chất (based on their form, distribution, decoration, and chemical
composition) nhưng không nói lên được ý nghĩa đích thực của từng loại trống.
Tôi phân loại
trống đồng nòng nọc, âm dương dựa vào hình dáng theo ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo
Sinh (Cosmogeny), của Dịch (I Ching
) có nền tảng là nòng nọc, âm dương (yin yang), Tứ
Tượng  (Four Elements or Four Great Primary Forces) sinh ra Tam Thế (Triple World) được
biểu tượng bằng Cây Nấm Vũ Trụ (Cosmic Mushroom). Vì vậy tôi chia trống ra làm 6 loại
trống như sau:

1. Trống Trứng Vũ Trụ [Cosmic egg drums or Nguyen Xuan Quang type I (NXQ I)] drums.
Tức trống Nguyễn Xuân Quang I (không có trong sự phân loại của Heger) có hình trứng
giống như trống cái, trống thùng (barrel) bịt da nhưng hở đáy (mang tính nòng nọc, âm
dương) ví dụ như trống đồng để ở chùa Cổ Lễ, chùa Keo, đền Hùng Vương… (4).

2. Trống tượng Lửa [Fire-drums or Nguyen Xuan Quang type II (NXQ. II)]
Tức trống Nguyễn Xuân Quang II (không có trong sự phân loại của Heger) hình trụ (tubular
or cylindrical forms). Trống moko hình trụ có eo của Nam Dương là trống biểu tượng cho
tượng Lửa của ngành nước.

3. Trống tượng Gió [Yang Wind sun Drums or Parasol-Shaped drums or  Nguyen Xuan
Quang Type III (NXQ. III) or Heger III].
Tức trống Nguyễn Xuân Quang III (Heger III) hình lọng, dù, ô (thân và đế thẳng tuột như thân
cây lọng), thấy nhiều ở tộc Shan thuộc sắc tộc Tai, nói tiếng Tai-Kadai. Tộc này có nhà hình
vòm mu rùa biểu tượng cho bầu trời, bầu không gian, gió.

4. Trống tượng Nước [Yang Water drums or Squat drums or Nguyen Xuan Quang Type IV
(NXQ IV) or Heger IV].
Tức trống Nguyễn Xuân Quang IV (Heger IV) trông giống cái âu (vật đựng mang âm tính liên
hệ với nước) không có thân trống nên trông lùn tịt gọi là trống trệt (squat drum) mang nhiều
âm tính biểu tượng cho nước (trống này thấy nhiều ở Nam Trung Hoa nên Heger gọi là trống
trệt Nam Trung Hoa). Có thể loại trống này thấy nhiều ở tộc Choang (Zhuang). Người
Zhuang nhận mình là con cháu của Rồng và có một chi tộc tên là Shui (Thủy) liên hệ với Lạc
Long Quân.

5. Trống tượng Đất, núi Trụ Thế gian [Pillar-shaped drums or yang Earth-drums or
Nguyen Xuan Quang type V (NXQ. V) or Heger II].

Tức trống Nguyễn Xuân Quang V (Heger II, trống vùng cao, vùng núi ở Bắc Việt Nam).
6. Trống Vũ Trụ Tạo Sinh, trống biểu của Vũ Trụ giáo [Cosmogenic drums or
Cosmic Mushroom drums or Nguyen Xuan Quang Type VI (NXQ.VI) or H.I ].
Tức trống Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) có hình Cây Nấm Vũ Trụ, tức trống Đông Sơn
của các tác giả Việt Nam. Trống này có nhiều nhất ở Việt Nam.
Trống Cây Nấm Vũ Trụ biểu tượng cho Vũ Trụ giáo có chu vi vòng ngoài hình trứng tức
trống Trứng Vũ Trụ NXQ I (xem hình bìa quyển Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương
Đông Nam Á, tập I).













Trống Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI nằm trong trống Trứng Vũ Trụ Nguyễn
Xuân Quang I.

  Trống Trứng Vũ Trụ NXQ I (trứng là mầm, hạt sinh tạo, khởi đầu vòng sinh tạo) sinh ra
trống Cây Nấm Vũ Trụ NXQ VI (Heger I) [cây do lửa trời (hay ánh sáng), đất, nước, gió (hay
không khí) từ hột trứng mầm mọc lên là cuối vòng sinh tạo] và rồi cây lại sinh ra quả (hạt
mầm, trứng) khởi đầu lại vòng sinh tạo khác, vô cùng vô tận. Trống Trứng Vũ Trụ Nguyễn
Xuân Quang I sinh ra trống Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI và ngược lại trống Cây
Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI lại sinh ra trống Trứng Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang I vì
vậy mà Trống Cây Nấm Vũ Trụ biểu tượng cho Vũ Trụ giáo có chu vi vòng ngoài hình trứng.
Điều này giải thích tại sao tôi chia trống đồng nòng nọc, âm dương ra làm 6 loại.

  Bây giờ ta hãy mổ xẻ luận cứ của các nhà khảo cổ học Trung Hoa cho là trống Wanjiaba
là trống cổ nhất vì có hình dáng giản dị có đúng không?
Trống loại Wanjiaba phần lớn tìm thấy ở Vân Nam, tổng cộng có 47 cái, Quảng Tây 3 và Tứ
Xuyên 1. Việt Nam có 8 và Thái Lan 3 (7). Theo cách xếp loại trống đồng nòng nọc, âm
dương dựa trên Vũ Trụ thuyết, theo Vũ Trụ giáo của tôi ở trên thì hai loại trống quan trọng
nhất là trống Trứng Vũ Trụ NXQ I và trống Cây Nấm Vũ Trụ NXQ VI, một trong hai loại trống
nầy mới có thể là trống nguồn cội vì Vũ Trụ Tạo Sinh khởi đầu từ Trứng Vũ Trụ và hoàn tất
là Cây Nấm Vũ Trụ. Như thế muốn trống loại Wanjiaba là trống nguồn cội thì trống loại này
phải có hình dáng nằm trong hai lại NXQ I và VI. Bây giờ ta hãy khảo sát trống Wanjiaba của
Trung Hoa xem sao. Tôi dựa vào hình trích trong bài viết của Han Xiaorong (2) sau đây:



















  Ở trống Nguyễn Xuân Quang VI Cây Nấm Vũ Trụ có trụ trống là thân cây Vũ Trụ là Trục
Thế Giới theo chính thống phải thẳng đứng . Ta thấy
thân của trống Wanjiaba không
thẳng đứng
choãi ra thuộc loại Heger II (NXQ V) trong khi trống Đông Sơn Heger I như
trống âm dương Ngọc Lũ I ở dưới có thân thẳng đứng. Mặt trống và phần bầu phình tang
trống biểu tượng cho Thượng Thế (Upper World) (mặt trời-không gian) và Trung Thế
(Middle World) (thường có cảnh sinh hoạt nhân sinh trên đất và trên nước) và đế trống biểu
tượng cho Hạ Thế (Under World) (Cõi Dưới, Cõi Âm). Một trống chính thống thì chiều cao
của phần diễn tả Thượng Thế và Trung Thế tức chiều cao của tang trống (tức mặt trống tới
phân trên eo thân trống) phải cao gấp đôi của chiều cao chân trống Hạ Thế (nghĩa là theo
triết thuyết Tam Thế có ba thế bằng nhau thì chiều cao mỗi thế phải như nhau). Ở trống
Wanjiaba chiều cao của chân trống (Hạ Thế) có thể nhìn thấy bằng mắt trần là quá nhỏ so
với chiều cao của mặt-tang trống (Thượng và Trung Thế). Nếu dùng thước do trên hình ta
thấy chiều cao mặt-tang trống khoảng 1cm và chiều cao chân trống khoảng 0.25cm trong
khi ở trống Ngọc Lũ I (Đông Sơn) ở dưới ta thấy ngay chiều cao chân trống rất cao, nếu đo
ta có chiều cao mặt-tang trống khoảng 2cm và chiều cao chân trống khoảng 1cm như thế rõ
ràng mỗi thế theo triết thuyết có chiều cao bằng nhau (= 1cm).

  Như vậy
trống Wanjiaba không phải là trống Cây Nấm Vũ Trụ biểu tượng cho Vũ
Trụ giáo
 mà chỉ là trống loại H.II tức NXQ V tức trống tháp cụt biểu tượng cho Tượng
Đất (dương), Núi Trụ Thế gian (1)
. Trống này có chiều cao trụ trống cường điệu cao
1.25 cm (bằng chiều cao của mặt-tang trống khoảng 1cm và chiều cao chân trống khoảng
0.25cm cộng lại tức chiền cao Tam Thế) trong khi trống Đông Sơn thân chỉ cao 2cm cao
bằng chiều cao mặt-tang trống). Trống Wanjiaba có trục rất cường điệu của loại trống Đất
dương, Núi Trụ Thế Gian Heger II.  

Trống Wanjiaba có hoa văn đặc biệt là mạng lưới hình thoi và hình loài bò sát bốn chân ở
mặt trong và motif hình mũi tên trên mặt trống (the characteristic rhomboid-net pattern and
four-legged reptile design on the inner wall and the arrowhead motif on the drum face) (7).
Ta thấy hình mũi tên chính là chữ viết nòng nọc mũi mác /\ có nghĩa là bộ phân sinh dục
nam, đực, dương, lửa (lửa trời là Càn, lửa đất dương, núi lửa là Li), thái dương (Dan Brown
trong The Da Vinci Code gọi là blade). Đi cùng với loài thú bốn chân sống trên mặt đất thì
chữ viết nòng nọc mũi tên, mũi mác này có nghĩa chính là núi hình kim tự tháp, lửa thế gian
Li (pyramid có pyro- là lửa). Điểm này một lần nữa cũng cho thấy  Wanjiaba là trống loại H.II
tức NXQ V tức trống tháp cụt biểu tượng cho Tượng đất (dương), Núi Trụ Thế gian.
\
Phải cần ít nhất là bốn loại trống biểu tượng cho Tứ Tượng là các tượng Lửa, Đất, Gió,
Nước mới kết hợp lại thành trống Cây Nấm Vũ Trụ vì vậy trống Wanjiaba biểu tượng cho
tượng Đất không thể là trống tiêu biểu đại diện cho trống đồng nòng nọc, âm dương của đại
tộc Đông Sơn  vì nó không mang trọn vẹn cả triết thuyết của Vũ Trụ Tạo Sinh và cả giáo
thuyết Vũ Trụ giáo, không phải là trống biểu của cả liên bang hay đại tộc người sống ở vùng
Đông Nam Á. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là liên bang Văn Lang.
Trống
Wanjiaba là trống con của trống Đông Sơn Heger I (NXQ VI) chứ không phải là trống
đẻ ra trống Đông Sơn như các nhà khảo cổ học Trung Hoa đã dùng làm luận cứ
.
Trống Wanjiaba không phải là trống biểu tượng cho Vũ Trụ giáo và họ người mặt trời-không
gian, chỉ là một trống biểu tượng cho một Tượng Đất (dương) và Tộc Đất dương tức tộc
Hươu nên khó có thể là trống nguyên thủy được làm ra.

  Về ngôn ngữ học ta cũng thấy rất rõ trống Cây Vũ Trụ là trống nguồn cội. Trung Hoa gọi
trống là gu (cổ) có một nghĩa là cây như Bàn Cổ (Pan Ku) có nghĩa là “cây (cắm trên) đế
bằng”. Ông Bàn Cổ là ông Cây Trụ chống trời (1). Trên giáp cốt văn, từ gu thường diễn tả
bằng hình trống để trên một cái giá hình cây. Hiểu theo nghĩa duy tục trống gu là trống làm
bằng cây. Hiểu theo triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh thì gu là trống Cây Vũ Trụ. Việt ngữ trống
có nghĩa là chống (cây chống, trụ chống). Trống có một nghĩa là đực (gà trống), nọc (heo
nọc), cọc ruột thịt với cây. Như thế trống Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI tức trống
Đông Sơn mới có thể là trống mang ý nghĩa nguồn cội, là trống biểu tượng cho nguồn cội
của tất cả các loại trống trong đó có trống đồng nòng nọc, âm dương. Nếu các nhà khảo cổ
Trung Hoa cho trống Wanjiaba thuộc loại Heger II làm trống nguyên thủy thì họ quá dốt chữ
Hán, không hiểu nghĩa gu là gì (1).

  Tóm lại
trống biểu tượng cho một tượng, một tộc như trống Wanjiaba (Tượng, tộc
Đất)  KHÔNG THỂ là trống nguyên thủy, nguồn cội được
. Các nhà khảo cổ học Trung
Hoa chọn trống Wanjiaba làm trống nguyên thủy, nguồn cội không hợp lý. Trống Wanjiba có
thể là một trống cổ nhưng là trống cổ của một tộc nằm trong đại tộc trống Đông Sơn. Về
nguồn gốc, trống Đông Sơn (NXQ VI, Heger I, Shizhaishan) hình Cây Nấm Vũ Trụ chính
thống và thích hợp hơn.

Còn trống Tây Hải Sơn so với trống Đông Sơn, trên hình ta cũng thấy thân trống không
thẳng như trống của đại tộc Đông Sơn mà đã hơi choãi ra có nghĩa là trống này không phải
là trống chính gốc, đó là chưa kể chưa có một loại trống Tây Hải San nào có nội dung diễn
tả bằng chữ viết nòng nọc chuyên chính như trống đồng âm dương Ngọc Lũ I. Về kích thước
trống Tây Hải Sơn có phần mặt trống-tang trống dẹp cao 1cm chỉ bằng nửa trụ trống cao
2cm (trong khi trống Ngọc Lũ I có chiều cao bằng nhau và chiều cao chân trống Ngọc Lũ I
khoảng 0.5cm tức bằng nửa mặt-tang trống nghĩa là chiều cao mỗi của Thế Tam Thế vẫn
giữ đúng bằng nhau và = 0.5. Trụ trống Tây Hải Sơn hơi choãi và cao 2cm tức cao hơn ba
cõi cộng lại 1+ 0.5 = 1.5. Theo nguyên tắc chính thống, trụ trống biểu tượng cho Trục Thế
Giới thông thương ba cõi thì chiều cao của thân trống không thể nào cao hơn dài hơn chiều
cao ba cõi.

Việt Nam có hai loại trống Nguyễn Xuân Quang I và VI, nhất là loại Đông Sơn Nguyễn Xuân
Quang VI Cây Nấm Vũ Trụ (có tỉ số cao nhất).  Trung Hoa cũng có trống cùng loại với trống
Đông Sơn Nguyễn Xuân Quang VI, Heger I nhưng chắc chắn tỉ số loại trống này trên 1430
trống không thể bằng  tỉ số của trống Đông Sơn 40/ 360 của Việt Nam và chắc chắn các
trống này không tinh tế, không chính thống bằng trống đồng âm dương Ngọc Lũ I của Việt
Nam.  Như thế với sự có mặt của trống Trứng Vũ Trụ NXQ I và với số lượng khổng lồ loại
trống Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI trong đó có trống tuyệt tác nhất là trống đồng
âm dương Ngọc Lũ I, biểu tượng trọn vẹn Vũ Trụ Tạo Sinh, trống biểu của Vũ Trụ giáo thì
Việt Nam là đất “mẹ”, là đất tổ của  trống đồng nòng nọc, âm dương.

-
Trang trí

Luận cứ thứ ba của Trung Hoa là dựa vào trang trí.

Các nhà khảo cổ học Trung Hoa dựa trên các trang trí như chim, cóc ếch, thuyền, các vật
sáng, hoa văn hình học cho trống đồng nòng nọc, âm dương thuộc về Trung Hoa.
Trang trí của một trống dù đơn giản nhưng phải chính thống, giữ đúng thuyết Vũ Trụ Tạo
Sinh, giữ đúng đạo gốc nghĩa là “các hoa văn” dù đơn sơ, giản dị cũng phải diễn tả đúng
theo Dịch lý, đúng theo ngữ pháp chữ viết nòng nọc ví dụ trống có mặt trời bao nhiêu nọc tia
sáng thì trang trí phải thích hợp với mặt trời đó, mặt trời vũ trụ thì trang trí phải diễn tả Vũ
Trụ Tạo Sinh, mặt trời ngành lửa phải có các trang trí dương như những chấm nọc, mũi
mác, mũi tên, trống có mặt trời ngành nước phải có các trang trí âm như hai vòng tròng
đồng tâm… những trống có trang trí  “rỏm”, sai ngữ pháp chữ viết nòng nọc là những trống
rỏm, trống bắt trước không thể là trống nguyên thủy của đại tộc Đông Sơn dù là trống được
cho là trống cổ nhất hiện nay.  
Trang trí phải phản ánh đời sống tâm linh và xã hội của người làm và xử dụng trống.
Bây giờ hãy xem những luận cứ của Trung Hoa về trang trí có vững không?

.
Chim

Trên trống đồng nòng nọc, âm dương nhất là loại Đông Sơn hay Tây Hải Sơn (Heger I, NXQ
VI) thường có hình loài
chim mỏ dài, chân dài. Đào Duy Anh dựa theo Goloubev cho là chim
Lạc
. Đào Tử Khai của Trung Hoa cho rằng chim Lạc là loài magpie hay một loài chim nào
khác. Sau này các tác giả Việt Nam cũng thừa nhận đó là loài cò. Tôi cũng đã chứng minh
đây là
loài cò (1). Các nhà khảo cổ Trung Hoa phản bác lại luận cứ của các tác giả Việt
Nam cho rằng cò là chim tổ của Việt Nam nên trống đồng là của Việt Nam. Họ lý luận rằng
theo văn hóa Trung Hoa cò là biểu tượng cho
vong linh, vong hồn (spirit), cho “spirit of the
drum in Central Plain
” của Trung Hoa. Đức tin này lan truyên tới vùng đất thuộc nhà Chu ở
Nam Trung Hoa nên cò là motif chính trên trống Tây Hải San (cùng loại với Đông Sơn H.I).
Các trống da khai quật trong các mộ thời nhà Chu thường thấy motif cò (2). Ta thấy cò
Trung Hoa biểu tượng cho spirit thường mang hình bóng của con hạc (crane) như cưỡi hạc
qui tiên vì thế mà cò còn mang biểu tượng cho tinh khiết và sống lâu… Cò mang biểu tượng
cho spirit không phải là độc quyền của Trung Hoa. Người Ai Cập cổ và thổ dân Mỹ châu
không liên hệ mật thiết với Trung Hoa cũng có hình bóng cò biểu tượng cho vong hồn người
chết. Thật ra cò còn được thờ phượng dưới nhiều hình thức chứ không phải chỉ dùng làm
biểu tượng cho spirit như theo các nhà khảo cổ học Trung Hoa cho là của văn hóa vùng
đồng bằng trung Trung Hoa. Ví dụ Ai Cập cổ cũng còn có cò mang nhiều biểu tượng khác
như cò Bennu (mặt trời mọc, sinh tạo,  tái sinh), cò Ibis, chim biểu của Thần cò Thoth của Ai
Cập cổ đẻ ra Trứng Thế Gian và là thần chữ viết, cò xám có bờm chẻ hai (giống hình cò trên
trống Cổ Loa I). Tộc cò nổi tiếng thấy rõ nhất là tộc Aztec. Aztec có nghĩa là Heron people.
Aztec liên hệ với Maya, cả hai liên hệ với văn hóa Việt tộc…  (3) (xem dưới).

Cò trên trống đồng nòng nọc, âm dương không phải là loài cò mang biểu tượng
cho vong linh, vong hồn
. Tôi đã chứng minh cò trên trống đồng nòng nọc, âm dương có
nhiều loại khác nhau. Cò có loại
mang một biểu tượng trọn vẹn cho Vũ Trụ Tạo Sinh,
Vũ Trụ giáo ngành gió và có những loại biểu tượng cho mỗi giai đoạn trong quá trình Vũ
Trụ Tạo Sinh, ngoài biểu tượng cho tín ngưỡng nằm trong Vũ Trụ giáo cò còn là họ biểu,
bang biểu tộc biểu vì thế có rất nhiều loài cò trên trống đồng nòng nọc, âm dương. Tôi cũng
đã chứng minh cò là chim biểu cho khí gió, chim biêu của Hùng Vương có một khuôn mặt tạo
sinh, tạo hóa,  Bầu Trời, Bầu Vũ Trụ, Bầu Không gian khí gió (có kinh đô ở châu Gió Phong
châu, cò trắng Bạch Hạc, có ao cò Hạc Trì). Con cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là
Cò Gió, Cò Lang (cò Trắng, cò Lang Hùng Vương), chim biểu của Hùng Vương, của Văn
Lang, Bách Việt (1).  

Ta thấy rất rõ cò Lang Hùng Vương với khuôn mặt mặt trời mọc mang nghĩa sinh tạo, tạo
hóa ăn khớp với cò Bennu (mặt trời mọc, sinh tạo, tái sinh). Khuôn mặt Cò Lang sinh ra từ
bọc trứng vũ trụ ăn khớp với cò Ibis, chim biểu của Thần cò Thoth của Ai Cập cổ đẻ ra
Trứng Thế Gian và là thần chữ viết (trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt tôi đã
chứng minh Hùng Vương có cùng bản thể gió với Phục Hy có họ Phong tức Gió, người được
cho là cha đẻ ra chữ viết). Chúng ta là con cháu của cò Lang Hùng Vương là Đại Tộc Cò ăn
khớp với tộc cò nổi tiếng là tộc Aztec. Aztec có nghĩa là Heron people. Aztec liên hệ với
Maya, cả hai liên hệ với văn hóa với Việt tộc… cùng thờ mặt trời. Aztec là con cháu của mặt
trời nguyên khởi là Mặt Trời Nước trong Năm Mặt Trời sinh tạo giống như Hùng Vương là
con của Mặt Trời Nước Lạc Long Quân…  Nên nhớ Aztec, Maya đến từ vùng duyên hải
Đông Nam Á. Khảo cứu di truyền học cho thấy Maya, Aztec ruột thịt với cổ Việt và không có
liên hệ gì với Trung Hoa (xem dưới).

Tóm lại cò mang biểu tượng cho vong hồn người chết thấy trên các trống da hai mặt kín
(không phải là trống nòng nọc, âm dương hở đáy) của vùng đồng bằng giữa Trung Hoa thấy
trong các mộ chỉ mang ý nghĩa ma thuật liên hệ với Cõi Âm, sự chết và tái sinh, chỉ là một
phần nhỏ không mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh. Cò trên trống đồng nòng nọc,
âm dương là con chim Việt dòng Gió, biểu tượng cho khí gió, bầu trời, chim biểu của Hùng
Vương (xem dưới). Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là trống biểu của
Văn Lang dòng cò gió Hùng Vương.   

Ngoài Cò Việt, trên trống đồng còn có các chim tổ Việt khác như chim Rìu, chim Việt mỏ cắt
(hornbill) trên trống Duy Tiên, chim nông, chim trĩ Việt, gà Việt  trên trống Ngọc Lũ I… (1).

.
Tượng hình cóc, ếch (batrachian figures).

Các nhà khảo cổ Trung Hoa cho các tượng loài lưỡng cư là ếch, biểu tượng cho mưa. Các
tác giả Việt Nam thường cho là cóc, Cậu Ông Trời, cũng là biểu tượng cho mưa. Tôi đã
chứng minh con vật này có hai khuôn mặt cóc và ếch nhưng khuôn mặt cóc mang tính chủ
yếu, phần lớn là cóc vì đa số con vật “chuyển động” theo chiều dương ngược chiều kim
đồng hồ và một vài khi là ếch khi chuyển động theo chiều âm, cùng chiều kim đồng hồ.
Ngoài nghĩa phổ thông muộn sau này biểu tượng cho mưa, sấm, cóc ếch mang trọn vẹn ý
nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh (1).

Những trống có tượng cóc/ếch với nghĩa biểu tượng cho mưa, sấm là những trống muộn sau
này khi con người sống bám vào nông nghiệp nhất là các tộc trồng lúa nước. Dù với nghĩa
muộn này, cóc ếch cũng nghiêng về các tộc sống bên sông nước, làm ruộng nước, ruộng
Lạc của Lạc Việt  hơn là phía Trung Hoa thuộc tộc võ biền hay trồng lúa khô (lúa mì).

.
Thuyền

Các nhà khảo cổ Việt Nam theo Goloubev như Đào Duy Anh cho đây là những  thuyền vàng
“golden boat
”  giống như thuyền linh hồn của người Dayak ở Kalimantan, Nam Dương và
cho rằng Dayak liên hệ với Lạc Việt. Cổ Lạc Việt là tổ tiên của Dayak. Các nhà khảo cổ
Trung Hoa như Feng Hanji cho đây là những
thuyền đua thời cổ Chu. Theo họ thuyền trên
trống đồng có những chức vụ như
đánh cá, giao thông, thi đua và dâng tế vật cho hà bá.
Các tác giả Việt Nam về sau cũng nhận là thuyền đua trong các hội nước, dùng trong lễ hội
cầu mưa, nước.

Cả hai phía Trung Hoa và Việt Nam hiện nay đều hiểu thuyền theo nghĩa thuyền đua, hội
nước, cúng tế hà bá, cầu mưa là hiểu theo nghĩa duy tục, nghĩa muộn, chỉ đúng một phần
nhỏ. Tôi khám phá ra những thuyền chính thống trên trống đồng nòng nọc, âm dương như
trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I và các trống họ hàng của Ngọc Lũ I là những thuyền
phán xét linh hồn. Trên các
thuyền phán xét linh hồn có những linh hồn là những đứa trẻ
trần truồng ngồi ở trên sàn thuyền. Quan niệm của Mường Việt cổ và của các tộc ở hải đảo
ở Nam Hải cho rằng linh hồn là một trẻ thơ không thay đổi với thân xác, chết vẫn còn nguyên
là một trẻ thơ (1). Về sau ở những trống muộn thuyền dùng trong các lễ hội nước có đầu
thuyền Rắn Nước (thái âm) và đuôi thuyền chim Cắt Lửa (thái dương) như thuyền ở trống
Sông Đà cũng liên hệ với tới Vũ Trụ giáo nhưng không còn là thuyền phán xét linh hồn nữa
và cuối cùng chỉ giản dị là thuyền đua trong các hội hè trong đời sống thông thường thấy
nhiều ở các trống muộn Nam Trung Hoa.

Với một lượng thuyền lớn thấy trên trống đồng nòng nọc, âm dương cho thấy trống đồng
nghiêng nhiều về các tộc sống bên sông biển hơn là các tộc ở vùng đồng bằng trung Trung
Hoa.

Q
uan trọng nhất là các thuyền phán xét linh hồn cho thấy trống đồng nòng nọc, âm
dương của đại tộc Đông Sơn thuộc về các tộc dòng nước sống bên sông biển hơn
là các tộc ở vùng đồng bằng trung Trung Hoa. Văn hóa nhà Chu không có đức tin
vào sự phán xét linh hồn. Sự phán xét linh hồn
trong văn hóa của đại tộc Đông Sơn
giống với văn hóa Ai Cập cổ. Ai Cập cổ cũng có sự phán xét linh hồn qua việc cân trái tim
người chết  dưới sự giám sát c ủa thần Osiris, m ột khuôn mặt  tương đương với Lạc Long
Quân (trong văn hóa Đông Sơn, linh hồn được phán xét bằng trống Cây Vũ Trụ, Cây Đời
Sống và đi qua Cầu Thử Thách).

.
Các vật sáng (shining entity).

Hầu hết các vật mà các nhà khảo cổ Trung Hoa gọi là vật sáng đều là mặt trời. Các nhà
khảo cổ Việt Nam cho rằng người Việt cổ thờ mặt trời và trống đồng theo duy dương cũng
mang biểu tượng thờ mặt trời. Các nhà khảo cổ Trung Hoa cũng cho rằng nhiều tộc ở Trung
Hoa cũng thờ mặt trời như Thang (Shang) hay Ân (Yin), Chu và các tộc phía nam. Vì thế các
vua chúa của họ cũng dùng mặt trời làm biểu tượng và nhận là con trời “thiên tử”. Dĩ nhiên
dấu vết thờ mặt trời cũng thấy trong văn hóa Trung Hoa giống như đại tộc Việt. Tuy nhiên
có nhiều loại mặt trời. Mặt trời trên trống đồng nòng nọc, âm dương hầu hết là mặt trời  có
ánh sáng hình mũi tên mũi mác là những mặt trời thuộc ngành Nọc thái dương. Mặt trời này
nằm trong vòng tròn không gian nên là mặt trời nọc thái dương-không gian, mặt trời nọc thái
d ương vũ trụ mang tính nòng nọc, âm dương. Trong khi đó, Nhật Bản cũng thờ mặt trời
nhưng là mặt trời đĩa tròn mang âm tính không có tia sáng như thấy trên lá cờ Nhật vì họ là
con cháu thái dương thần nữ Amaterasu, nên họ không có trống đồng, người Ai Cập cổ
cũng thờ mặt trời nhưng mặt trời của họ là mặt trời đĩa tròn giống như Nhật Bản thuộc ngành
nòng, âm (vì thế thần mặt trời Ra hàng ngày đi từ Đông sang Tây bằng thuyền). Ai Cập cổ
cũng không có trống đồng nòng nọc, âm dương. Mặt trời của Trung Hoa mang dương tính là
mặt trời thế gian nên hàng ngày mặt trời đi từ Đông sang Tây bằng xe ngựa (tứ mã). Nhưng
ít khi thấy hình bóng mặt trời có nọc tia sáng như trên trống đồng nòng nọc, âm dương trong
văn hóa Trung Hoa mà chỉ thấy mặt trời đĩa tròn có vẻ nổi trội hơn, như mặt trời đĩa tròn
trong có hình con quạ vàng kim ô mang dương tính hay con quạ đen mang âm tính và con
quạ ba chân biểu tượng cho mặt trời lửa siêu dương (ba chân là ba nọc, ba hào dương,
Càn). Người Trung Hoa thờ nhiều gương đồng (có những chiếc có hoa văn vòng răng cưa,
răng sói giống như trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn). Theo duy
dương gương đồng có thể mang một khuôn mặt của mặt trời đĩa tròn mang âm tính (gương
cũng mang âm tính vì liên hệ với phái nữ).  

Chúng ta Đại Tộc Việt cũng thờ mặt trời chứng tích còn thấy ở những hình vẽ trên vách đá ở
Mường Hoa và ở vách núi Hoa Sơn ở Nam Trung Hoa, tục ăn máu sống tiết canh, uống  máu
“phân thây uống máu quân thù” là tục thờ mặt trời giống như người Tộc Cò  Aztec, phụ nữ
Việt Nam ngày nay còn đội nón thúng mặt trời mà J. Cusinier gọi là “chapeau de soleil” giống
như phụ nữ người Ao-Naga ở Assam có loại nón này (Ao Naga là Âu Long, Âu Lạc, họ thờ
Trứng, không ăn trứng, tục này liên hệ với truyền thuyết Mẹ Tổ Âu Cơ đẻ ra bọc trứng), vân
vân…
Mặt trời trên trống đồng nòng nọc, âm dương hầu hết là mặt trời có nọc tia
sáng mũi tên mũi mác, tức mặt trời Việt
. Theo duy dương bọc trứng toàn con trai mang
biểu tượng mặt trời-con trai, mặt trời-đực, mặt trời nọc, mặt trời có nọc tia sáng mũi tên, mũi
mác. Mặt trời trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là mặt trời Hùng
Lang, Hùng Việt. Mặt trời nọc tia sáng nằm trong nòng vòng tròn không gian là mặt trời-
không gian, mặt trời vũ trụ, mặt trời nhất thể, lưỡng tính, mặt trời sinh tạo, tạo hóa. Điểm này
ăn khớp với biểu tượng của chiếc Rìu Việt là loại Rìu có phần lưỡi cong mang âm tính đúng
với nghĩa tên của Việt vương Câu Tiễn (Câu là móc cong như câu liêm, móc câu, Tiễn là vật
nhọn như mũi tên, cung tiễn, hỏa tiễn). Rìu cong Việt là khí giới biểu của Đại Tộc Việt, trống
đồng nòng nọc, âm dương có chủ điểm là mặt trời Việt trong vòng không gian cong là trống
biểu của Đại Tộc Việt. Mặt trời trên trống đồng nòng nọc, âm dương là trời-không gian, mặt
trời vũ trụ, mặt trời nhất thể, lưỡng tính, mặt trời sinh tạo, tạo hóa ăn khớp với sự thờ
phượng giống tính, sinh thực, nõ nường còn thấy rõ qua các cặp nam nữ làm tình trên nắp
thạp đồng Đào Thịnh cũng có mặt trời loại Đông Sơn và tục thờ nõ nường mà gần đây còn
thấy ở Bắc Việt Nam. Đây là một nét văn hóa đặc thù của “tứ di”, của Man, Mán, Mường, một
thứ “dâm phong nằm ngoài vòng lễ giáo” của nhà Chu. Mặt trời trên trống đồng nòng nọc,
âm dương là trời-không gian, mặt trời vũ trụ, mặt trời  nhất thể, lưỡng tính, mặt trời sinh tạo,
tạo hóa ăn khớp trăm phần trăm với chủ đạo âm dương đề huề, chim-rắn, Tiên-Rồng. Hùng
Vương là những vua mặt trời có hai dòng chim-rắn, núi-biển. Mặt trời trên trống đồng nòng
nọc, âm dương là mặt trời mang tính nòng nọc, âm dương. Mặt trời trên trống đồng có nhiều
loại mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo. Trên trống đồng nòng nọc, âm
dương cũng thấy mặt trời có hai loại ánh sáng nòng nọc, âm dương: các mặt trời có ánh
sáng dương hình nọc nhọn mũi mác như trên trống Ngọc Lũ I và có loại có ánh sáng âm
hình vòng tròn nòng như trên trống Đào Xá (1). Hùng Vương là các vua mặt trời-không gian,
vũ trụ sinh ra từ bọc Trứng Vũ Trụ. Trống đồng nòng nọc, âm dương là trống biểu của liên
bang Văn Lang của Hùng Vương.

.
Hoa văn hình học

Các nhà khảo cổ học Trung Hoa nói rằng trên trống đồng nòng nọc, âm dương có các hoa
văn mây và sấm là của Trung Hoa. Trước hết các hoa văn mây và sấm
hình móc câu như
thấy trong Hán ngữ cổ khắc trên giáp cốt văn là di duệ của chữ viết nòng nọc (circle-rod
writing) còn thấy dấu vết trong tất cả các nền văn hóa cổ của nhân loại không riêng gì của
Trung Hoa (thấy cả trong các nền văn hóa không liên hệ gì với văn hóa Trung Hoa). Như đã
nói trong bài nói chuyện Trống Đồng Là Trống Nòng Nọc, Âm Dương trong buổi ra mắt tác
phẩm Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á)
chữ viết nòng nọc móc câu  
nếu nhìn
theo diện do hai chữ nòng và nọc ghép lại có nghĩa là nước dương, nước chuyển
động (mưa, nước-lửa liên hệ với sấm) ví dụ như chiếc mũi hình móc câu có nghĩa là mưa
của vị thần Mưa Chac của Maya, chim lôi điểu của thổ dân Mỹ châu cũng có hình móc câu
mưa, sấm này (các tộc này có nguồn gốc từ vùng duyên hải châu Á, Maya  là một thứ Bộc
Việt) (1). Vương miện đỏ của tộc nước Rắn Hổ Mang của Ai Cập Hạ ở vùng châu thổ sông
Nile cũng có hình móc câu này. Cây gậy cong (crook) hình móc câu của các vị thần Ai Cập
cổ, là một trong hai chiếc quyền trượng đặc thù của thần Osiris, có một khuôn mặt là mặt
trời Nước, thần trị vì Cõi Âm giống như mặt trời Nước Lạc Long Quân (có một khuôn mặt
sấm thấy rõ qua hậu thân là thần sấm dông Phù Đổng thiên vương). Chiếc gậy cong này có
một biểu tượng cho ngành âm, nước, âm thế. Nếu nhìn
theo diện chỉ là một chữ nòng nọc
nhất thể
thì chữ móc câu mang nghĩa âm dương, sinh tạo, tạo hóa. Lửa-nước, sấm cũng có
nghĩa sinh tạo, tạo hóa. Tiếng nổ Big Bang là tiếng sấm khai thiên lập địa. Cây gậy cong của
Osiris nếu nhìn theo diện này cũng có nghĩa là sinh tạo, tạo hóa vì thế mà vị thần này có một
khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa, tái sinh. Ông là người chủ chốt phán xét trong việc cân trái tim
người chết trong cuộc Phán Xét Cuối Cùng. Mũi hình móc câu của Phật ở Nepal mang ý nhĩa
sinh tạo, tạo hóa, nhất thể này. Chiếc gậy đầu cong chăn chiên của Chúa Jesus cũng vậy.

Chữ viết nòng nọc cũng đã thấy trong nền văn minh cổ đại ở một lục địa dính liền với Đông
Nam Á (trong đó có địa bàn của Đại Tộc Việt) là Continent of Mu đã bị chìm sâu xuống biển
(xem dưới). Như thế các hoa văn mưa sấm của Trung Hoa không nhất thiết là có nguồn gốc
từ Trung Hoa, không phải do người Trung Hoa phát kiến ra, không thể nói người Ai Cập cổ
đã lấy hình móc câu nước, mưa, sấm này của Trung Hoa. Ngược lại hoa văn sấm, mưa cũng
có thể có nguồn gốc từ nền văn minh Mu Mother Land hay Sundaland, nghĩa là từ Đông
Nam Á, từ đại Tộc Việt mà chứng tích là trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông
Sơn là một bộ từ điển của chữ viết nòng nọc.

Riêng ở trống Wanjiaba ngoài “hoa văn” mũi tên trên mặt trống, phía mặt trong có mạng lưới
hình thoi. Đây quả là một nét đặc biệt của trống đúng như các tác giả Trung Hoa nói. Thứ
nhất mạng hoa văn hình thoi là loại hoa văn thấy trên các trống rất muộn như trên trống
Nam Ngãi II của Việt Nam (được xếp vào loại Đ-III-6). Loại hoa văn cổ nhất là hai chữ cái
nòng O và nọc que I riêng rẽ của chữ viết nòng nọc, tức hoa văn hình vòng tròn, hình chấm
và hình que. Kế đến là hai chữ nòng và nọc ghép lại thành. Hình vòng tròn riêng rẽ là hai
vòng tròn kép hay dính lại thành hình số 8 và mở ra thành hình sóng. Hai que ghép lại riêng
rẽ thành II (lửa, thái dương) hay dính lại thành hình mũi tên, mũi mác, hình chữ thập, chữ
T… Rồi mới đến hình do ba chữ ghép lại thành hình ba vòng tròn, hình mây ba thùy, hình
tam giác, chữ Y, đinh ba… muộn nhất là những hình đa giác như hình vuông, hình chữ nhật,
hình thoi, hình thang… Khi các hình này lại nối kết lại thành mạng lưới thì lại càng mang tính
muộn thêm nữa.

Như thế trống Wanjiaba có hoa văn mạng lưới hình thoi là trống đã muộn. Trống cổ nhất
như các tác giả Trung Hoa nói phải có hoa văn đơn giản nhất tức phải là hoa văn hình vòng
tròn và hình que riêng rẽ. Hơn thế nữa “không giống ai” các hoa văn này cùng với con vật
bò sát bốn chân lại ở mặt trong của trống. Muốn nhìn thấy hoa văn phải lật trống lên. Trống
lật ngược lên không còn là trống nữa mà là thành cái cồng, cái nồi mang âm tính. Như thế
các hoa văn này mang âm tính cho thấy trống liên hệ với với một tộc ngành nòng âm. Việt
Nam có trống Đào Xá có hình mặt trời đĩa tròn có ánh sáng là 6 vòng sáng là mặt trời nòng
thái dương (số 6 là số lão dương, âm thái dương) mang âm tính cũng có con vật thuộc loài
bò sát trông giống con khủng long có đuôi lông chim (có thể là linh vật “rồng đất” thần thoại
hóa từ loài kì đà, thằn lằn) (1). Trống Đào Xá là trống muộn (các tác giả Việt Nam xếp vào lại
D-I-1)). Trống đồng nòng nọc, âm dương Đào Xá có mặt trời âm đĩa tròn có ánh sáng vòng
tròn và hình thú bốn chân thuộc loài bò sát cũng “không giống ai”. Đào Xá và Wanjiaba có
thể cùng nhánh nòng âm, một nhánh phụ, “liệt” so với nhánh dương nọc mặt trời thái dương
mang tính trội mà đa số trống đồng nòng nọc, âm dương thuộc nhánh dương này. Cả hai
đều mang tính trống muộn. Rất tiếc là tôi chưa được nhìn thấy những con thú bốn chân
thuộc loài bò sát trên trống Wanjiaba. Không biết những con vật này có còn ở dạng thiên
nhiên (naturalistic) hay đã thần thoại hóa một phần hay toàn phần như con “rồng đất” trên
trống Đào Xá. Nếu đã thần thoại hóa rồi thì trăm phần trăm Wanjiaba là trống muộn giống
như trống Đào Xá.

Các hoa văn vẽ ở mặt trong trống đồng cũng cho thấy trống Wanjiaba mang tính muộn vì với
kỹ thuật thô sơ khi mới làm ra trống thì khắc được hoa văn trên mặt trống đã là một chuyện
khó và khổ công rồi huống chi còn khắc hoa văn ở mặt trong còn khó hơn nữa. Khắc được
hoa văn ở mặt trong đòi hỏi một kỹ thuật tân tiến hơn mang tính muộn hơn.

(Còn nữa)
Xin đọc tiếp: