Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt
TRỐNG ĐỒNG ĐẠI TỘC ĐÔNG SƠN LÀ TRỐNG NÒNG NỌC
(kết)
                                                  
          
(Phần kết bài nói chuyện trong buổi ra mắt sách Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương
Đông Nam Á ngày 13 tháng 7 năm 2008 tại Little Saigon, Orange County, California, Hoa Kỳ).

                                          
Nguyễn Xuân Quang

Như thế qua chữ viết nòng nọc, qua hình thức và nội dung của trống, ta đã thấy
trống đồng là trống nòng nọc, âm dương, vậy thì tất cả những gì còn lại của trống
đồng nòng nọc đều phải mang tính nòng nọc. Vì thì giờ có hạn, tôi sẽ lướt qua thật
nhanh các khía cạnh chính yếu còn lại của trống đồng nòng nọc, âm dương để
chứng minh cho quí vị thấy rõ rằng trống đồng một trăm phần trăm là trống nòng
nọc, âm dương.  

Ở Cõi Trên, Thượng Thế ta đã biết vũ trụ, mặt trời-không gian ở tâm trống mang chủ
thể nòng nọc rồi. Bây giờ bước qua Cõi Giữa, Trung Thế, Trần Thế ta hãy đi tìm tính
nòng nọc, âm dương qua hình ảnh nhà cửa, thú vật, người.

1. Nhà nòng nọc, âm dương

Nhà cũng có nhà nọc nhà nòng, nhà dương nhà âm. Chứng tích còn thấy là
người
Thái đen cũng có nhà đực, nhà cha đối ứng với nhà mẹ "hươn me" (Tạ Đức tr.115).
Người Navajo cũng có nhà đực và nhà cái.
Nhà trên trống đồng nòng nọc cũng mang
tính nòng nọc, âm dương. Có hai loại nhà trên trống đồng nòng nọc: nhà nọc,
dương, mặt trời và nhà nòng, âm, không gian.

a. Nhà nọc, dương, nhà mặt trời

Nhà lang của người Mường là nhà trai tráng, nhà đàn ông. Nhà đình của Việt Nam cũng
thuộc là loại nhà nọc, nhà đực, nhà trai tráng, nhà đàn ông. Đình biến âm với đinh có nghĩa
là vật nhọn và cũng có nghĩa là trai tráng. Đình là nhà nọc nhọn, nhà đực, nhà lang, nhà con
trai, nhà tráng đinh, nhà Việt. Nhà lang, nhà đinh, nhà đình là nhà tổ của họ Việt Mặt Trời thái
dương mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo (Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa
Dân Việt).  

Trên trống đồng nòng nọc, những ngôi nhà hai đầu mái cong nhọn như mũi giáo,
mũi đao giống như mái đình là những căn nhà nọc, dương, mặt trời. Đầu mái nhà
cong nhọn chính là một chữ viết
nọc mũi mác (răng cưa, răng sói) >.











Một căn nhà nọc, dương, mặt trời trên trống đồng nòng nọc Ngọc Lũ I.

Hai nọc mũi mác, mũi đao ở hai đầu mái nhà là hai nọc, hai dương, thái dương. Chữ
nọc mũi mác có nghĩa là đực, dương, mặt trời ở đầu mái nhà chính là tên của ngôi
nhà, chính là
bảng hiệu của ngôi nhà. Trong nhà, ở hai góc, dưới hai đầu mái nhà, ngay
trên đầu hai người ngồi có “phụ đề “ hai
chữ nọc tam giác, một dạng biến thể của chữ nọc
mũi mác khẳng định căn nhà này là nhà nọc, dương, mặt trời (ngày nay chữ nọc tam gi ác có
nghĩa là đực, đàn ông còn thấy rõ là ở các nhà vệ sinh phái nam dùng dấu hiệu hình tam giác
này). Nọc tam giác mũi mác này cũng là hình ảnh của
nọc tia sáng mặt trời mũi mác. Phân
tích chữ nọc tam giác này gồm ba nọc là Càn, lửa vũ trụ.
Đây là căn nhà của ngành nọc
mặt trời thái dương. Ngoài ra sát bên cạnh nhà có một dàn trống cũng nhấn mạnh
(“phụ đề”) thêm cho biết căn nhà này
là nhà trống (đực) mà ngày nay còn thấy ở Nam
Dương những căn nhà mái nhọn có để trống gọi là “
tamburan haus” (tiếng “bồi”
Đức) là những căn nhà lang, nhà đình, nhà tráng niên, nhà đàn ông. Chứng tích
hùng hồn, hiển nhiên nhất cho thấy căn nhà nọc này là nhà mặt trời là tại hai căn
nhà nọc, dương loại này thấy trên trống đồng nòng nọc Quảng Xương có hình mặt
trời tỏa sáng rạng ngời ở hai bên cửa.












Nhà nọc, dương, mặt trời trên trống đồng nòng nọc Quảng Xương có hình mặt trời tỏa sáng
rạng ngời ở hai bên cửa.

b. Nhà nòng, âm, nhà không gian

Những ngôi có mái hình vòm (dạng của chữ nòng O mở ra) là những căn nhà nòng, âm,
không gian. Ví dụ người cổ Việt có nhà rùa, làng Chimbu ở Dirima, cao nguyên phía đông
đảo Papua-New Guinea có ngôi nhà đàn bà mái hình nón (Duly Colin, The Houses of
Mankind, Thames and Hudson, 1979).
Người Zulu, Nam Phi có vũ trụ thuyết thấm nhuần
bởi quan niệm hình tròn (Duly Colin, 1989) nên họ có ngôi nhà kraal hình vòm.
            
Trên trống đồng nòng nọc, những căn nhà mái hình vòm là những căn nhà nòng, âm, không
gian, ví dụ như ngôi nhà nòng trên trống đồng nòng nọc Ngọc Lũ I.                                          
                                










        
Nhà nòng, âm, không gian trên trống đồng nòng nọc Ngọc Lũ I.

Hai bên cửa nhà có treo những cái cồng, một thứ “trống” âm của ngành nòng, âm (cồng bà)
cho biết rõ đây là căn nhà nòng âm. Rõ ràng nhất là hai đầu nóc nhà có
hai chữ nòng ba
vòng tròn đồng tâm
. Ba vòng tròn là ba nòng âm tức Khôn, có một nghĩa là Không Gian đối
ứng với hai chữ nọc tam giác có một nghĩa là lửa vũ trụ Càn ở căn nhà nọc mặt trời thái
dương ở trên (rõ như ban ngày quẻ Khôn còn viết dưới dạng ba hào âm nòng O, Dịch Đông
Sơn là Dịch nòng nọc). Chữ nòng ba vòng tròn này chính là
tên của ngôi nhà, bảng hiệu của
ngôi nhà. Sát cạnh bên nhà nòng có cảnh giã chầy vào cối nhấn mạnh thêm cho biết đây là
ngôi nhà nòng âm, nhà cái. Cảnh giã chầy vào cối mang ý nghĩa biểu tượng cho âm dương
giao hòa về phía nòng âm. Giã chầy vào cối đối ứng với cảnh “đâm  trống” mang biểu tượng
dương âm giao hòa về phía nọc dương ở cạnh nhà nọc. Có những nhà nghiên cứu trống
đồng Việt Nam cho căn nhà này là
kho chứa lúa và gộp với cảnh giã chầy vào cối ở sát bên
nhà, cho rằng
trống đồng Đông Sơn là biểu trưng của nền văn minh lúa nước sông Hồng.
Căn nhà mái vòm có bảng hiệu đề rành rành
chữ nòng ba vòng tròn đồng tâm là nhà nòng
Khôn không gian không phải là nhà kho chứa lúa. Cảnh giã chầy vào cối ở bên nhà nòng chỉ
giản dị mang ý nghĩa biểu tượng cho âm dương giao hòa về phía nòng âm (trên trống đồng
nòng nọc, âm dương, các dấu, hình, các chi tiết thường phải hiểu theo nghĩa biểu tượng
giống như từ Việt là vật nhọn, là rìu  phải hiểu theo nghĩa biểu tượng là Mặt Trời thái dương) .

2. Thú vật nòng nọc, âm dương

Hiển nhiên thú vật, muông chim có mang những khuôn mặt biểu tượng cho nòng
nọc, âm dương. Ví dụ chim mang dương tính như có mỏ to, nhọn, mầu đỏ biểu
tượng cho dương, lửa trong khi rắn nhất là rắn nước biểu tượng cho âm, nước.
Trên trống đồng nòng nọc, thú vật, chim muông cũng vậy. Điển hình thấy ở đầu mũi
thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I và các trống họ hàng có
hình chim mỏ rìu
lao vào trong miệng linh thú rắn nước.

   









           
Mũi hai thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có hình chim rìu lửa lao vào miệng rắn
nước
(hình vẽ A và B của Goloubew, 1940, Figure 16).

Chim mỏ rìu biểu tượng cho nọc, dương, lửa, bộ phận sinh dục nam. Linh thú Rắn nước có
con mắt là chữ nòng
hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước, âm. Miệng rắn há rộng biểu
hiện bộ phận sinh dục nữ. Theo truyền thuyết của người Ngaju, Dayak, Borneo, Rắn nước
Watersnake Tampon (trong ngôn ngữ Hindu-Javanese gọi là naga) là thần Nước Nguyên
Khởi hay Âm Thế. Dưới thời ảnh hưởng văn hóa Hindu, vị thần này được gọi dưới tên là
Bawin Jata Balawang Bulau có nghĩa là
“thần nữ Jata với cửa vàng” (the feminine Jata with
the “golden door”)
. Biểu ngữ “cửa vàng” chỉ âm hộ phái nữ (the expression “golden door” is a
euphemism for the female pudenda) (Hans Scharer, tr.15).  Như thế, Rắn nước giao hợp với
chim Rìu lửa diễn tả sự kết hợp giữa âm và dương, nước và lửa, thái âm và thái dương.
Trên hầu hết các trống đồng nòng nọc đều có hình cò bay. Cò là loài chim lội nước mang
dương tính tức dương của âm hay thiếu âm biểu tượng cho gió. Cò trên trống đồng nòng
nọc, âm dương có nhiều loại mang tính nòng nọc, âm dương, có ít nhất là bốn loài ứng với
Tứ Tượng: Lửa, Đất, Nước, Gió. Ví dụ như cò Gió trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có
bờm hình phướn gió bay, có mỏ dài thanh tao.








                           
          
Cò Gió trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, cò Gió là cò Lả, cò Trắng (gió có màu trong suốt),
cò Lang, Bạch Hạc, chim biểu của liên bang Văn Lang của Hùng Vương đóng đô ở Bạch Hạc,
châu Phong (Gió). Liên bang Văn Lang có nhiều tộc nên có nhiều loài cò. Trống đồng nòng
nọc, âm dương là trống biểu của liên bang Văn Lang Hùng Vương. Các nhà làm văn hóa Việt
Nam lấy hình cò Lang trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I làm con chim Lạc là sai (xem bài
đọc thêm Chim Lạc hay Cò Lang?).
Cò Nước trên trống Phú Phương I, II, Hàng Bún có mỏ cong vòng lên là một dạng của chữ
viết nòng nọc
móc câu có nghĩa là nước, mây, sấm, đây là cò nước dương, cò sấm mưa
Chấn, cò Lạc (Long Quân).








Cò mỏ cong vòng hình móc nước, sấm trên trống Hàng Bún là những con cò sấm mưa.
Những sọc nước trên cánh cò xác nhận những con cò này là cò mưa (lưu ý trống này có búa
thiên lôi hay lưỡi tầm sét “hình trâm” và vành uốn khúc sấm gầm cho biết trống này là trống
sấm mưa vì thế cò trên trống này là cò sấm mưa)
Cò Lửa có mỏ dài, to, khỏe, trông cương cường giống bộ phận sinh dục nam đang cương
cứng ví dụ như mỏ cò trên trống đồng âm dương Đông Sơn IV.













                                  Cò Lửa trên trống Đông Sơn IV.

Trong mỏ có dấu (marker, accent) nọc que chỉ cho biết cò là cò nọc, cò cọc, cò dương, cò
lửa.  

Cò Đất, cò Núi, cò Đá có mỏ hình búa chim hay rìu lưỡi ngang như thấy trên trống Hà Nội I.











                                       
 Cò Đá trống Hà Nội I.



Rìu biểu tượng cho đất dương. Những con cò mỏ rìu, mỏ búa này là cò Đất dương, cò Đá.
Hiển nhiên thú vật, muông chim trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn
biểu tượng cho nòng nọc, âm dương, tứ tượng theo triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh.



3. Người nòng nọc, âm dương

Người trên trống đồng nòng nọc, âm dương cũng có hai ngành nòng nọc, âm
dương, không gian-mặt trời, vũ (và) trụ. Ví dụ trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I
có hai nhóm người nhẩy múa. Một nhóm 6 người thuộc nhánh âm thái dương vì số 6
là số lão âm, âm thái dương và một nhóm 7 người thuộc nhánh dương thái dương vì
số 7 là số lão dương, dương thái dương.



                                    






       
Hai nhóm người nhẩy múa trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.



Lưu ý là trang phục đầu của hai nhóm người nhẩy múa này đều giống nhau ngoại trừ người
cuối cùng ở nhóm 7 người, có nghĩa là họ thuộc hai nhánh nòng thái dương và nọc thái
dương nhưng cùng thuộc một ngành nọc mặt trời thái dương (người có trang phục đầu hình
chim có góc cạnh mang dương tính là Người Mặt Trời thái dương tức Người Việt Mặt Trời thái
dương). Trang phục đầu của người cuối cùng ở nhóm 7 người có hình
trái bầu nậm âm
dương có một nghĩa biểu tượng là nòng nọc, âm dương, nhất thể, thái cực, vũ trụ, mặt trời-
không gian. Vậy những người này là hai
đại tộc của ngành nọc mặt trời thái dương của
họ Người Vũ Trụ, Mặt Trời-Không Gian
ứng với phần nọc cổ quả bầu trên trang phục đầu
quả bầu của người cuối cùng ở nhóm 7 người.
Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt,
hai đại tộc
này thuộc ngành nọc lửa Mặt Trời Viêm Đế (có tác giả gọi là Viêm Việt). Ta cũng
thấy rõ như dưới ánh sáng mặt trời là trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, hai
đại tộc của
ngành nọc mặt trời thái dương của họ Người Vũ Trụ, Mặt Trời-Không Gian có hai ngôi
nhà thiêng liêng là hai ngôi nhà nọc mặt trời có đầu mái nhọn mũi đao và hai đại tộc
của ngành
nòng không gian thái dương có hai ngôi nhà thiêng liêng là hai ngôi nhà
nòng không gian
mái vòm.



Ở trên ta đã thấy người thể điệu hóa hình chim có hình móc câu ở trên trống Nam
Ngãi II là người Mặt Trời Nước. Người thể điệu hóa hình chim có hai sừng có những
dấu (markers) chấm nọc dương trên trống Thành Vân là người Mặt Trời Đất dương
thuộc tộc Hươu nọc, đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là thuộc tộc Kì Dương
Vương, Lộc Tục, Hươu Nọc.



                   






                   
Người Hươu có hai sừng trên trống Thành Vân.

Như thế ta thấy mỗi trống là một tộc biểu (biểu tượng cho một tộc), trống đồng nòng
nọc của đại tộc Đông Sơn là trống họ biểu, bang biểu, ngành biểu, đại tộc biểu và
tộc biểu của họ Người Vũ Trụ, Mặt Trời Không Gian.

Ở Cõi Nước, Hạ Thế hay Âm Thế, thuyền trên trống đồng nòng nọc cũng mang tính
nòng nọc, âm dương. Như đã thấy ở trên, mũi thuyền trên trống đồng âm dương
Ngọc Lũ I có con chim rìu dương đâm vào miệng rắn nước âm diễn tả dương âm hôn
phố
i. Đuôi thuyền có hình đầu chim có con mắt âm được diễn tả bằng chữ hai nòng mang
dương tính là “
hai vòng tròn đồng tâm có chấm” và cái túi, cái nang nam hóa mang dương
tính có góc cạnh dưới mỏ-cổ cho thấy đây là đầu chim bổ nông. Đầu thuyền linh thú Rắn
Nước biểu tượng cho âm của âm hay thái âm tức Khôn âm nước, đuôi thuyền chim bổ nông
là dương của âm tức thiếu âm tức Khôn dương khí gió. Vậy con thuyền biểu tượng cho Khôn,
đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là ngành nòng Thần Nông (có thể là Bộc Việt với
Bộc hiểu theo nghĩa biến âm với Bọc là túi, nang, nông thuộc về Không Gian Khôn) (
Việt
Dịch Bầu Cua Cá Cọc
). Vậy những người trên thuyền thuộc ngành nòng không gian thái
dương của
họ Người Vũ Trụ, Mặt Trời-Không Gian, ứng với phần nòng bầu của quả bầu
trên trang phục đầu quả bầu của người cuối cùng ở nhóm 7 người.
Ta thấy rất rõ hai ngành
người Nọc Mặt Trời thái dương trên mặt trống và Người Nòng Không Gian thái dương trên
thuyền gộp lại thành họ Người Vũ Trụ, Mặt Trời-Không Gian ứng với trang phục quả bầu của
người cuối cùng ở nhóm 7 người nhẩy múa. Chúng ta là Man, Mán, Mường có nghĩa là
Người. Người là Tiểu Vũ Trụ, con của Đại Vũ Trụ. Hiển nhiên Người Vũ Trụ trên trống đồng
âm dương Ngọc Lũ I  là Man, Mán, Mường của Đại Tộc Việt. Đúng như một cổ thư Trung Hoa
xác nhận trống đồng là trống Man. Ở đây cũng xin nói thêm là các nhà làm văn hóa Việt hiện
nay thường gọi trống đồng là trống Lạc Việt. Gọi như thế không chỉnh, không đúng vì thiếu
sót. Lạc Việt chỉ là một nhánh hay đại tộc Nước thái dương thuộc dòng Lạc Long Quân
ngành Thần Nông. Trong khi trống đồng nòng nọc, âm dương như thấy qua những người ở
trống đồng âm dương Ngọc Lũ I biểu tượng cho cả họ Người Vũ Trụ, Mặt Trời-Không Gian
Viêm Đế-Thần Nông.

Đơn giản hơn, trên trống Sông Đà, đầu thuyền rắn nước, âm giao hòa với đuôi
thuyền chim
mỏ rìu lửa, dương.

    






                               
                   
Thuyền trên trống Sông Đà có mũi thuyền rắn nước giao hòa với đuôi
thuyền chim mỏ rìu lửa
(Nguyễn Văn Huyên).        





Kết Luận



Như thế qua chữ viết nòng nọc, qua hình thức, nội dung và toàn thể chi tiết trên
trống đồng, một trăm phần trăm trống đồng của đại tộc Đông Sơn là trống nòng nọc,
âm dương
. Nếu thâu tóm lại chỉ nói bằng một câu ngắn gọn thôi thì tôi xin nói:



TRỐNG ĐỒNG CỦA ĐẠI TỘC ĐÔNG SƠN LÀ TRỐNG NÒNG NỌC, ÂM DƯƠNG.



Nòng nọc, âm dương có nghĩa là gì? Nòng nọc, âm dương là nguyên lý lưỡng hợp,
nền tảng của Vũ Trụ Tạo Sinh, của Dịch. Tôn giáo dựa trên nòng nọc, Vũ Trụ Tạo
Sinh là Vũ Trụ giáo. Vậy trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn diễn
tả Vũ Trụ Tạo Sinh, là trống biểu của Vũ Trụ giáo, có Dịch nòng nọc nguyên thủy. Đối
chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt có cốt lõi văn hóa là Vũ Trụ Tạo Sinh, là Vũ Trụ
giáo dựa trên Việt Dịch nòng nọc (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, Ca Dao Tục
Ngữ Tinh Hoa Dân Việt) thì trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là
bộ sử đồng của Đại tộc Việt.



Kính thưa quí vị,



Hôm nay ra về, quí vị xin nhớ câu thần chú
: “Nòng Nọc, Nòng Nọc, Nòng Nọc” và  
TRỐNG ĐỒNG CỦA ĐẠI TỘC ĐÔNG SƠN LÀ TRỐNG NÒNG NỌC, ÂM DƯƠNG. Quí vị
nào quan tâm muốn tìm hiểu thêm về trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc
Đông Sơn, về cốt lõi văn hóa Việt, về bản thể, căn cước Việt, khi nào có thì giờ xin
tìm đọc thêm những chi tiết trong tác phẩm này.

Qua tác phẩm này, tôi xin trao lại câu thần chú, cái Chìa Khóa mở kho tàng vô giá trống đồng
nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, một quốc bảo của Đại tộc Việt và thế giới bảo
của nhân loại, cho những ai còn nhiệt tâm muốn duy trì, bảo tồn một di sản văn hóa siêu việt,
huy hoàng của Đại Tộc Việt. Xin hãy phát huy di sản trống đồng nòng nọc, âm dương của đại
tộc Đông Sơn vô giá này giúp cho con cháu chúng ta tìm thấy được điểm tựa tâm linh Việt và
tự hào về bản sắc Việt của mình, không còn sống trôi dạt, dật dờ, bám víu sống nhờ, chậy
theo ngoại lại. Xin hãy phát huy di sản trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông
Sơn vô giá này để khơi sống dậy tiếng trống đồng của đại tộc Đông Sơn cho vang dội khắp
năm châu bốn biển trở lại. Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là của Đại
tộc Việt, xin đừng để ngoại bang chiếm đoạt mất. Trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông
Sơn còn, dân tộc Việt còn, trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn mất, dân Việt mất.



Một lần nữa xin cám ơn quí vị.