Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt

Văn Lang là nước Việt Nam
(Vương Sinh)

Văn Lang xưa rộng mông mênh
Bắc giáp Động Đình, nam giáp Hồ Tôn (1)
Tây giáp Ba Thục, Trường Sơn
Đông giáp Nam Hải, Biển Đông sóng gào...! (2)

Từ ngày mất đất cho Tàu (3)
Lĩnh Nam cùng với Quảng Châu chẳng còn (4)
Giao Châu dải đất cong cong
Đại Việt ta đó – Con Rồng Cháu Tiên!

Lời thề giữ nước đừng quên
Nam Quan , Bản Giốc nối liền Trường Sa
Trường Sơn tiếp với Hoàng Sa
Máu xương Tồ Quốc, thịt da giống nòi!

Ta còn hơi thở trên đời
Quyết tâm chống giặc cứu người Văn Lang
Văn Lang là nước Việt Nam!

Chú thích:
(1)        Hồ Tôn là nước Chiêm Thành.
(2)        Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Văn Lang là nước “đông giáp biển Nam Hải, tây đến
Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là
Quảng Nam” (ĐVSKTT tập 1, tr. 133).
(3)        Năm 111 BC, Hán Vũ Đế nhà Tây Hán sai Lộ Bác Đức và Dương Bộc  đem 5 đạo
quân sang đánh nhà Triệu và nước Nam Việt. “Nước Nam bị người Tàu chiếm lấy, cải là
Giao Chỉ Bộ, chia ra làm 9 quận, và đặt quan cai trị như các châu quận bên Tàu vậy”.
(VNSL quyển 1, tr. 34).
(4)        Năm quý mùi (203) là năm thứ 3 đời vua Hiến Đế, quan thứ Sử là Trương Tân cùng
với quan thái thú Sĩ Nhiếp dâng sớ xin cải Giao Chỉ (Giao Chỉ đây là Giao Chỉ Bộ, bao gồm
cả Quảng Đông, Quảng Tây - LTG) làm Giao Châu. Vua nhà Hán thuận cho.
     Năm bính ngọ (226), Ngô chủ là Tôn Quyền (vua nước Đông Ngô đời Tam Quốc bên    
Tàu – LTG) chia đất Giao Châu, từ Hợp Phố về Bắc gọi là Quảng Châu, từ Hợp Phố về nam
gọi là Giao Châu. Sai Lữ Đại làm Quảng Châu thứ sử, Đái Lương làm Giao Châu thứ sử.
Sau đó  Ngô  chủ  lại hợp Quảng Châu và  Giao Châu làm một và  phong cho Lữ Đại làm  
Thứ  Sử (VNSL – tr. 44).
     Năm giáp thân (264), vua nhà Ngô lại lấy đất Nam Hải (Quảng Đông), Thương Ngô       
(Quảng Tây) và Uất Lâm (Quảng Tây) làm Quảng Châu, đặt châu trị ở Phiên Ngung; lấy       
đất Hợp Phố (Quảng Đông), Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam làm Giao Châu, đặt châu      
trị ở Long Biên. Đất Nam Việt của nhà Triệu ngày trước thành ra Giao Châu và Quảng Châu
từ đấy! (VNSL tr. 47).
     - Viết tắt: LTG = Lời Tác Giả bài thơ.

Tham khảo:
-  Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (ĐVSKTT) - Dịch theo bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 –         
1697 – NXB Khoa Học Xã Hội.
-        Việt Nam Sử Lược (VNSL) - Quyển 1 - Trần Trọng Kim - Bộ Giáo Dục – Trung Tâm
Học Liệu xuất bản.