Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt
              Vinh Danh Phụ Nữ Truyền Thuyết Việt Nam

                             Phụ nữ Việt Nam trung trinh, tiết hạnh
                          Trang điểm cuộc đời muôn cánh hoa thơm
                                  Ra ngoài, giúp nước giúp non
                             Về nhà, tận tụy chồng con một lòng
                                                                          (ST)

Mở Đầu

Phụ nữ Viêt Nam từ ngàn xưa đã vang danh “trung trinh tiết hạnh”, đúng với lời giáo huấn
của cha ông:

Trai thời trung hiếu làm đầu”
“Gáí thời tiết hạnh làm câu trau mình”

Những tấm gương oai hùng như bà Trưng, bà Triệu, hiền phụ như bà Tú Xương, bà Sương
Nguyệt Anh. Những tấm lòng cao cả của các bà mẹ Việt Nam vẫn thường được nhắc nhở
hàng năm trong các ngày Lễ Mẹ, ngày Rằm tháng Bẩy với “bông hồng cài áo”. Không ai có
thể phủ nhận sức chịu đựng bền bỉ và đức tính cần cù chịu khó của các bà mẹ Việt Nam.
Cũng không ai có thể phủ nhận đức tính trong sạch, ngay thẳng, và đàng hoàng của người
phụ nữ Việt Nam. Những đức tính hy sinh, can đảm và chan chứa tình người đã nâng cao
phẩm giá của người phụ nữ Việt Nam lên hàng Tiên Thánh, và biến một số người đàn bà
nước Nam thành những vị Phụ Nữ Truyền Thuyết trong lịch sử dân tộc Việt.

Truyền Thuyết Là Gì?

Theo Giáo Sư Trần Gia Phụng, “Truyền thuyết là những câu chuyện bắt đầu từ sự thật lịch
sử, được thêm thắt hoặc được tiểu thuyết hóa, và được truyền tụng từ người này qua người
khác, từ đời này qua đời khác, rồi lại được dân chúng chấp nhận như là những chuyện lịch
sử có thật”
.
Tìm hiểu nghĩa chữ “truyền thuyết”, Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh chỉ cho biết đơn
giản: “nói lại với người khác”. Theo nghĩa tiếng Anh, “truyền thuyết” dịch từ chữ “Legend”,
có nghĩa là “thánh truyện, truyện thần tiên, truyện hoang đường” (Từ Điển Nguyễn Văn
Khôn). Thật ra, chữ “Legend” phát xuất từ chữ Latin “legenda”, động từ là “legere” có nghĩa
là đọc (to read).

Thời Trung Cổ (Medieval), chữ Latin “legenda”, được dùng với nghĩa “điều gì đó để đọc”,
đặc biệt dùng trong thể kể chuyện đời sống các Thánh. (Tiểu sử các Thánh được kể lại,
quan trọng cả về tài liệu lịch sử, lẫn gương đạo đức). Chữ “Legend” trong tiếng Anh được
vay mượn ở chữ “Legenda” từ thế kỷ 14, có nghĩa là: “câu chuyện được truyền tụng trong
dân gian, nhưng không thể kiểm chứng được, tựa như các chuyện hoang đường”. Nếu là
“Nhân vật truyền thuyết”, những nhân vật này có tên trong lịch sử được dân chúng kể đi kể
lại nhiều lần trong nhiều đời, hoặc được thêm thắt, thần thánh hóa, để trở thành nhân vật
lịch sử có thật. Đó là những Anh hùng, Anh thư, những Sương phụ, Hiền phụ và những
danh nhân, danh tướng trong lịch sử.

Trong thời gian gần đây, người Việt Nam ở trong nước cũng như ở nước ngoài đều rất xôn
xao khó chịu về những tin tức liên quan đến thân phận người con gái Việt Nam: “bị đầy đọa
khi lấy chồng ngoại quốc, bị rao bán như nô lệ, hoặc làm nghề mãi dâm tại nhiều nơi, trên
nhiều quốc gia”. Những hình ảnh này làm tổn thương đến danh dự người Việt nói chung,
người phụ nữ Việt nói riêng không ít.

Thực tế, phần lớn Phụ Nữ Việt đều là những cô gái ngoan, hiền, trung trinh tiết hạnh theo
truyền thống văn hoá Việt.

Chúng ta vinh danh Phụ Nữ Truyền Thuyết Việt Nam chính là để xua tan bóng mây mù đang
che mờ đi hình ảnh người con gái Việt Nam oai hùng, tiết liệt, đồng thời để chứng minh với
người ngoại quốc rằng: Phụ nữ Việt từ ngàn xưa vẫn là những cô gái được nhân gian tôn
vinh kính trọng.

Thử đề nghị một Danh Sách Phụ Nữ Truyền Thuyết Việt Nam:

Đây là việc làm của Giáo Sư Trần Gia Phụng năm 1999, trong tập biên khảo “Những câu
chuyện Việt Sử”, nhân báo Thời Sự (Toronto) số 145 ngày 20-6-1998 đăng tải danh sách
23 vị Phụ nữ của Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam (HLHPNVN) trình lên cơ quan UNESCO để
chọn 10 người vào danh sách “Những phụ nữ truyền thuyết trong lịch sử thế giới” (The
Women of the Legend in the Word History). Cũng theo Giáo sư Phụng phân tích, bảng danh
sách của HLHPNVN đưa ra không được chính xác so với định nghĩa, thế nào là “truyền
thuyết”, và thiếu vô tư, hoặc thiên vị. Cho tới nay, thời gian gần 6 năm đã trôi qua, không rõ
cơ quan UNESSCO có chấp nhận bảng danh sách này hay không? Và sự lựa chọn ra sao?

Trên thực tế, Phụ nữ truyền thuyết Việt Nam rất nhiều, nhất là những bà vợ, bà mẹ các nhà
cách mạng tranh đấu chống ngoại xâm và tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền; kể cả
những Phụ nữ đã phải hy sinh trong rừng già, hay trên biển Đông vì lý tưởng Tự Do. Đó là
những vị Phụ nữ truyền thuyết không tên tuổi rất xứng đáng được vinh danh.

Dựa vào bảng danh sách của HLHPNVN và của Giáo Sư Trần Gia Phụng đề nghị, chúng tôi
xin mạo muội trình lên quí vị một danh sách “Phụ nữ truyền thuyết Việt Nam” như sau:

1- Quốc Mẫu Âu Cơ, 2- Trưng Vương, 3- Công Chúa Hoàng Thiều Hoa, 4- Lê Chân, 5- Bà
Triệu, 6- Thái Hậu Dương Vân Nga, 7- Thái Hậu Ỷ Lan, 8- Công Chúa Huyền Trân, 9- Công
Chúa An Tư, 10- Nguyễn Thị Bích Châu, 11- Lương Minh Nguyệt, 12- Vũ Thị Thiết (Thiếu
Phụ Nam Xương), 13- Công Chúa Ngọc Hân, 14- Công Chúa Ngọc Vạn, 15- Nữ Tướng Bùi
Thị Xuân, 16- Nữ Sĩ Đoàn Thị Điểm, 17- Nữ Sĩ Hồ Xuân Hương, 18- Bà Huyện Thanh Quan,
19- Thái Hậu Từ Dũ, 20- Bà Tú Xương, 21- Bà Nguyễn Thị Khuê (Sương Nguyệt Anh), 22-
Bà Ba Đề Thám, 23- Bà Phan Bội Châu, 24- Lê Thị Đàn (Ấu Triệu), 25- Nguyễn Thị Bắc, 26-
Nguyễn Thị Giang, 27- Thánh Mẫu Liễu Hạnh, 28- Nàng Tô Thị.

Sơ lược tiểu sử “Phụ nữ truyền thuyết Việt Nam”:

1- Quốc Mẫu Âu Cơ
(Khoảng 2800 Tr.TL)
Theo truyền thuyết, khoảng gần 5000 năm trước, bà Âu Cơ. kết duyên cùng vua Lạc Long
dòng dõi
Rồng Tiên, sinh được 100 con trai là con rồng cháu tiên. Về sau, 50 con theo Cha
Lạc Long xuống biển, 50 con theo Mẹ Âu Cơ lên núi, đi về phương nam lập ra nước Văn
Lang, do người con trưởng làm vua hiệu là Hùng Vương, truyền được 18 đời . Người Việt
Nam tôn vinh bà Âu Cơ là Quốc Mẫu. Trong ngày giỗ Tổ Hùng Vương mồng 10 tháng 3 âm
lịch hàng năm, người Việt Nam đều nhớ đến ơn Quốc Mẫu Âu Cơ.



















   Mẹ Âu Cơ, Cha Lạc Long (Tranh Vi Vi)


2- Trưng Vương (40-43)
Năm 40 thời Bắc thuộc, Thái Thú Tô Định bắt giết ông Thi Sách chồng bà Trưng Trắc, và
đàn áp dân Lạc Việt. Vì nợ nước thù nhà, bà Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị nổi dậy đánh
đuổi Tô Định, đoạt 65 thành và 4 Quận, lên làm vua xưng là Trưng Vương, đóng đô ở Mê
Linh. Triều đại Trưng Vương tuy chỉ ngắn ngủi 3 năm, nhưng đã chứng tỏ tinh thần bất
khuất của người phụ nữ Việt, và mở đầu cho nền độc lập nước nhà. Hiện nay có nhiều đền
thờ Hai Bà Trưng, và ngày lễ hội kỷ niệm hàng năm vào mồng 6 tháng hai âm lịch.




















     Trưng Vương đánh đuổi quân Hán (Tranh Vi Vi)  


3- Công Chúa Hoàng Thiều Hoa (Danh tướng thời Trưng Vương)
Bà Hoàng Thiều Hoa người huyện Gia Hưng, tỉnh Thanh Hoá (có sách chép là tỉnh Sơn Tây
ngày nay). Không rõ năm sinh, năm mất. Bà là một nữ tướng tài giỏi của Hai Bà Trưng, giữ
nhiệm vụ huấn luyện đoàn Nương tử quân. Khi Hai Bà Trưng đánh đuổi xong giặc Hán đô
hộ, lên ngôi vua, đã phong tước cho bà là Thiều Hoa Công Chúa. Hiện nay đền thờ Công
Chúa Thiều Hoa ở làng Hiếu Quan, huyện Tam Nông. Hàng năm lễ hội kỷ niệm vào các ngày
12, 13 tháng giêng âm lịch.


4- Lê Chân (Danh tướng thời Trưng Vương)
Lê Chân là nữ tướng tài ba của Hai Bà Trưng, người làng An Biên, huyện Đông Triều, tỉnh
Hải Dương. Không rõ năm sinh năm mất. Trong các trận đánh đuổi giặc Hán đô hộ, bà Lê
Chân thường giữ chức tiên phong và nổi tiếng dũng cảm. Khi Hai Bà Trưng lên ngôi, đã giao
việc Quốc phòng cho bà Lê Chân và phong làm Thánh Chân công chúa. Bà là người sáng
chế ra môn thể thao “đánh phết” rất vui (vui ra phết). Các vua đời sau đều có sắc phong bà
làm Thượng đẳng phúc thần công chúa. Hiện nay, đền thờ bà Lê Chân tại làng Mai Động
(Hà Nội). Lễ hội kỷ niệm vào các ngày 4, 5 và 6 tháng giêng âm lịch, thường có tổ chức thi
đấu vật và đánh phết.





















5- Bà Triệu (225-248)
Bà Triệu tên thật là Triệu Thị Trinh cùng anh là Triệu Quốc Đạt khởi nghĩa năm 248, chống
lại quân Đông Ngô cai trị tàn ác. Bà rất can đảm, thường nói: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh,
đạp đường sóng dữ, chém cá tràng kình ở bể đông, quét sạch bờ cõi, để cứu dân ra khỏi
nơi đắm đuối, chứ không thèm bắt chước người đời cúi đầu cong lưng làm tì làm thiếp người
ta”.
Ra trận, Bà Triệu cưỡi voi mặc giáp vàng trông rất oai phong, khiến quân Ngô phải khiếp sợ.
Nghĩa quân tôn bà là Nhụy Kiều tướng quân. Bà Triệu đã anh dũng hy sinh năm 23 tuổi.Hiện
nay có đền thờ Bà Triệu trên núi Gai (núi Ải), làng Phú Điền (Thanh Hóa), và lễ hội kỷ niệm
vào ngày 21 tháng 2 âm lịch hàng năm.


















             Bà Triệu Thị Trinh (Tranh Vi Vi)


6- Thái Hậu Dương Vân Nga (942-1000)*
Dương Hậu là chánh cung Hoàng hậu của vua Đinh Tiên Hoàng, húy là Dương Vân Nga. Khi
vua Đinh bi tên Đỗ Thích đầu độc chết, con là Đinh Tuệ lên nối ngôi, bà trở thành Thái Hậu
nhiếp chính.
Nhà Tống nghe tin Đinh Tiên Hoàng mất, tự quân Đinh Tuệ còn nhỏ, nên đem quân sang
xâm chiếm nước ta. Trước tình thế nguy cấp, Phạm Cự Lượng cùng một số tướng lãnh đã
tôn Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn lên ngôi để lo chống ngoại xâm. Thái Hậu Dương Vân
Nga biểu đồng tình và sau đó trở thành chánh cung Hoàng Hậu của vua Lê Đại Hành. Nhờ
tính cương nghị và thông hiểu tình thế, yên vị được triều chính, Dương Hậu đã giúp vua Lê
đánh tan quân Tống. Hiện nay, tượng và đền thờ Dương Hậu tại đền vua Lê Đại Hành, ở
làng Trường Yên (Ninh Bình), và lễ hội kỷ niệm cùng vào ngày kỷ niệm vua Đinh và vua Lê,
10 tháng 3 âm lịch (lễ hội Trường Yên).
* Theo tài liệu của Hoàng Công Khanh (Hoàng Hậu hai triều Dương Vân Nga)


7- Ỷ Lan Nguyên Phi (?-1117)
Tên thật là Lê Thị Ỷ Lan, xuất thân từ gia đình nông dân, người làng Thổ Lỗi, Bắc Ninh.
Tương truyền bà đứng tựa gốc lan trong khi mọi người trong làng nô nức ra xem đoàn xa giá
của vua Lý Thánh Tông đi qua. Nhà vua cảm sắc đẹp và thái độ dửng dưng lạ lùng của bà,
bèn tuyển về cung làm Ỷ Lan (dựa gốc lan) phu nhân. Sau bà sinh ra vua Lý Nhân Tông và
trở thành Hoàng thái hậu.
Thái Hậu Ỷ Lan đã giúp vua Lý Thánh Tông tạm thời nhiếp chính, trị nước kết quả tốt đẹp
khi vua thân chinh đi đánh Chiêm Thành. Bà cũng có lòng cứu giúp những người con gái
nhà nghèo phải đi ở đợ, nên dân chúng thời bấy giờ xưng tụng bà là “Quan Âm”. Thái Hậu Ỷ
Lan mất ngày 25 tháng 7 năm Đinh Dậu (1117) (Không rõ ngày sinh).


8- Công Chúa Huyền Trân (cuối thế kỷ 13, đầu thế kỷ 14)
Trần Thị Huyền Trân là con gái vua Trần Nhân Tông, em gái vua Trần Anh Tông (trị vì 1293-
1314). Không rõ ngày sinh ngày mất. Năm Bính Ngọ (1306), vua Trần Anh Tông nhận gả
Huyền Trân cho vua Chiêm Chế Mân. Để đáp lễ, vua Chiêm dâng tặng Đại Việt 2 châu Ô và
Lý. Huyền Trân về Chiêm được phong làm Hoàng Hậu. Hơn 1 năm sau, Chế Mân chết, theo
tục lệ Chiêm Thành, Huyền Trân phải lên giàn hỏa. Vua Anh Tông sai tướng Trần Khắc
Chung sang cứu. Tương truyền Trần Khắc Chung là người tình cũ của Công chúa Huyền
Trân, do đó đã tạo nên một câu truyện tình lâm ly bi thiết trong sử Việt.
Dù bị phê phán về nhiều mặt, do sự kỳ thị chủng tộc và nền giáo lý Khổng Mạnh khắt khe,
công chúa Huyền Trân vẫn được dân chúng Việt Nam biết ơn về sự việc nàng mang về cho
nước Đại Việt hai châu Ô Lý, mở đầu cho cuộc Nam tiến sau này.


9- Công Chúa An Tư (thời vua Trần Nhân Tông)
Bà là con gái út vua Trần Thánh Tông, em gái vua Trần Nhân Tông (1279-1293), không rõ
năm sinh năm mất. Tháng 2 năm Ất dậu (1285), Thoát Hoan xâm lăng đánh thắng nhiều nơi,
đồng thời có một số vương hầu nhà Trần hàng giặc. Để ngăn chặn bớt tính hung hãn của
giặc, vua Trần Nhân Tông đã sai Trần Dương và Đào Kiện đưa quốc muội là công chúa An
Tư gả cho Thoát Hoan.
Ngoài chiến trường, dưới sự chỉ huy của Hưng Đạo Đại Vương, quân dân nước Nam cương
quyết đánh giặc, trong khi đó dưới trướng Thoát Hoan, công chúa An Tư phải âm thầm nuốt
nhục, hy sinh đời xuân sắc để trì hoãn sức giặc. Sự hy sinh của công chúa An Tư đã đóng
góp phần nào cho cuộc chiến thắng quân Nguyên Mông dưới triều Trần, thế kỷ thứ mười ba.


10- Nguyễn Thị Bích Châu (Thời vua Trần Duệ Tông)
Bà là phi hậu triều vua Trần Duệ Tông ( trị vì 1372-1377), không rõ năm sinh năm mất.
Trước đó khoảng 20 năm, cuối đời vua Trần Dụ Tông (trị vì 1341-1369), vì chính triều đổ
nát, dân chúng lầm than, ông Chu Văn An đã dâng “Thất Trảm Sớ” đòi chém bẩy quyền
thần gian nịnh. Bà phi hậu Bích Châu tuy là phận gái ở trong cung, cũng đã noi theo được
tấm gương bất khuất của thầy Chu, can đảm dâng lên vua Duệ Tông bài “Kê Minh thập
sách”, để cứu nguy xã tắc. Trong 10 điều (thập sách), có các điểm mạnh như sau: “Một là
trừ kẻ bạo”, “Hai là tránh việc phiền nhiễu”, “Ba là trừ mọt nước”, “Bốn là đuổi bọn những lại”.
Bà Nguyễn Thị Bích Châu chỉ là một cung nhân “dám nói ra những sự thối nát của chế độ
giữa thời phong kiến toàn thịnh, kể thật can đảm và đáng khen lắm thay”. (Phạm Văn Sơn -
Việt Sử Tân Biên)


11- Lương Minh Nguyệt (Thời Lê Lợi kháng Minh)
Bà là vợ Đinh Liệt (?-1471) (danh tướng của Bình Định Vương Lê Lợi), người làng Chuế
Cầu, tỉnh Nam Định, có nhan sắc và giỏi nghề ca hát Ả đào. Trong thời gian Lê Lợi kháng
Minh, bà đã mở quán rượu nổi tiếng ở gần thành Cổ Lộng (Đông Đô tức Thăng Long), cốt ý
dò la tin giặc, giúp kháng chiến. Trong một cuộc tấn công thành Cổ Lộng, bà Minh Nguyệt
đã cùng các cô gái tiếp viên phục rượu một số tướng Minh say mèm, và làm ám hiệu để
quân Lam Sơn dưới quyền chỉ huy của tướng Lê Thạch chiếm được thành.
Sau, Đinh Liệt được phong tước Quốc công, mang họ nhà vua (họ Lê), và bà là Nhất Phẩm
Phu nhân. Các vua đời sau đều có sắc phong vợ chồng bà là Phúc thần. Theo tài liệu của
Giáo Sư Trần Gia Phụng, bà Lương Thị Huệ có lẽ là một tên khác của bà Lương Minh
Nguyệt (?), hiện có đền thờ tại huyện Thọ Xương và dân chúng còn gọi bà là Ngọc Kiều Phu
nhân.


12- Vũ Thị Thiết tức Thiếu Phụ Nam Xương (Đời Lê Thánh tông):
Bà quê huyện Nam Xương (Hà Nam), là vợ chàng Trương, mới có thai thì chồng được gọi đi
lính thú phương xa. Đứa bé trai sinh ra không biết mặt cha. Mỗi tối bà thường chỉ bóng mình
trên vách mà dạy con chào hỏi cha trước khi đi ngủ. Ít lâu sau chàng Trương trở về, đứa bé
thấy xa lạ và nói bố nó chỉ về lúc đêm tối. Chàng Trương nghi ngờ vợ ngoại tình, nên đã
mắng nhiếc đuổi đi. Bà Thiết bị oan ức, lai không biết biện bạch ra sao, bèn nhẩy xuống
sông Hoàng Giang (địa phận Nam Xương) tự tận. Đến tối thắp đèn lên, đứa bé mới chỉ bóng
chàng Trương trên vách và nói rằng bố nó đã về. Chàng Trương lúc đó mới hiểu ra, nhưng
đã trễ. Dân chúng biết chuyện người đàn bà tiết nghĩa chết oan, bèn lập miếu thờ. Vua Lê
Thánh tông (1460-1497) tuần thú đi qua miếu, đã làm một bài thơ vịnh rất nổi tiếng, được
khắc vào bia đá năm 1471, và truyền tụng đến ngày nay.


13- Công chúa Ngọc Hân (1770-1799):
Công Chúa Lê Thị Ngọc Hân là con vua Lê Hiển Tông. Năm 16 tuổi, công chúa kết duyên
với vị anh hùng Nguyễn Huệ, người có công diệt Trịnh Phù Lê và đánh đuổi quân xâm lăng
Xiêm La và Mãn Thanh. Bà Ngọc Hân vừa xinh đẹp, lại có tài văn học, được Hoàng Đế
Quang Trung Nguyễn Huệ phong làm Bắc cung Hoàng Hậu. Khi vua Quang Trung đột ngột
băng hà, bà rất buồn, đã sáng tác các bài “Văn tế vua Quang Trung” và “Ai Tư Vãn”, đóng
góp cho kho tàng văn học Việt Nam những áng thơ hay và cảm động.


















Hoàng Hậu Ngọc Hân & Vua Quang Trung (Tranh Vi Vi)

14- Công chúa Ngọc Vạn (thế kỷ 17):
Công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Vạn là con của Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên (chúa
Nguyễn Đàng trong từ 1613-1635). Năm 1620, công chúa Ngọc Vạn kết hôn với vua Chân
Lạp (Cambodia), và trở thành Hoàng Hậu vương quốc Chân Lạp, thủ đô lúc đó là Udong.
Những tùy tùng của công chúa Ngọc Vạn đều được giữ những chức vụ quan trọng trong
triều đình Chân Lạp. Năm 1623, Sãi Vương sai sứ bộ đến Udong, xin cho người Việt được
định cư ở vùng Sài gòn ngày nay, và được buôn bán, mở khu dinh điền. Nhờ sự vận động
của Hoàng Hậu Ngọc Vạn, các đề nghị của chúa Nguyễn đều được vua Chân Lạp chấp
thuận.
Công chúa Ngọc Vạn đã có công mở đường cho người Việt trong cuộc Nam tiến xuống đồng
bằng sông Cửu Long và mở rộng giang sơn như ngày nay.


15- Nữ Tướng Bùi thị Xuân (?-1802)
Bà là nữ tướng tài giỏi của nhà Tây Sơn, vợ danh tướng Trần Quang Diệu, quê tỉnh Bình
Định. Trong các chiến trận của nhà Tây Sơn, vợ chồng bà đều lập được nhiều chiến công
oanh liệt.
Năm 1802 vua Gia Long thắng trận, bà bị hành hình bằng voi giày. Theo giáo sĩ La
Bissache`re có mặt tại hiện trường, bà Bùi Thị Xuân rất can đảm, đã lấy vải quấn chặt người
cho khỏi lộ liễu và đứng thẳng người trước mặt voi khiến voi phải sợ hãi lùi lại.
Bà Bùi Thị Xuân đã đóng góp công lao với nhà Tây Sơn trong các cuộc chinh chiến, nhất là
nhàTây Sơn đã dứt được họ Trịnh ở miền Bắc và dẹp tan các cuộc xâm lăng của Xiêm La và
Mãn Thanh, nên Bà chiếm được nhiều cảm tình của dân chúng Việt Nam.


16- Nữ Sĩ Đoàn Thị Điểm (1705-1746):
Bà sinh năm 1705, người tỉnh Bắc Ninh, rất giỏi văn thơ, hiệu là Hồng Hà nữ sĩ. Năm 16 tuổi,
bà được tiến cung làm phi tần, nhưng sau đó bà xin về, rồi làm chức giáo thụ ở cung cấm.
Bà đã phải trải qua nhiều năm loạn lạc, sau kết hôn với tiến sĩ Nguyễn Kiều, người huyện Từ
Liêm.
Bà đã sáng tác “Tục Truyền Kỳ” hay “Truyền Kỳ Tân Phả” bằng chữ Nho và dịch “Chinh Phụ
ngâm khúc” bản chữ Hán của Đặng Trần Côn.
Khúc ngâm Chinh phụ bằng chữ nôm (quốc ngữ) theo thể th “song thất lục bát” đã diễn tả
được tâm tình người phụ nữ Việt Nam trung trinh tiết hạnh, vừa buồn lo khi chồng chinh
chiến phương xa, vừa phải thay chồng gánh vác công việc gia đình, dạy dỗ con thơ, vừa
phải lo giữ gìn phẩm hạnh.
Nữ Sĩ Đoàn Thị Điểm mất ngày 11 tháng 9 năm Bính Dần (1746).


17- Nữ sĩ Hồ Xuân Hương (1780-1820)*:
Bà Hồ Xuân Hương là một nữ sĩ nổi tiếng đầu thế kỷ 19, có tài văn thơ cả về chữ Nôm lẫn
chữ Hán, con ông Hồ Phi Diễn, người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An). Thơ
Nôm của bà thường chua chát, châm biếm và khinh mạn mọi giới. Thơ Hán của bà tuy cũng
mang vẻ buồn, nhưng lại rất chừng mực và chứa chan tình cảm. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương là thi
sĩ Việt Nam duy nhất có tên trong “Từ Điển Văn Nhân Larousse”.
* Theo “Những câu chuyện Việt Sử” - Trần Gia Phụng





















                 Nữ Sĩ Hồ Xuân Hương (Tranh Vi Vi)


18- Bà Huyện Thanh Quan (Đầu thế kỷ 19):
Bà tên thật là Nguyễn Thị Hinh, người làng Nghi Tàm (Hà Đông), lấy ông Cử Lưu Nghị (1804-
1847) là Tri Huyện Thanh Quan ( nên thường gọi bà là bà Huyện Thanh Quan). Chồng bà
mất năm 43 tuổi, bà vẫn ở vậy nuôi con. Triều vua Minh Mạng, bà được mời làm Cung Trung
giáo tập, dạy cung phi và công chúa trong cung.
Thơ bà Huyện Thanh Quan nổi tiếng thanh tao, trang nhã, ý nhị và điêu luyện, nghe man
mác nỗi buồn hoài cổ, nhớ nước nhớ nhà như các bài “Qua Đèo Ngang Tức Cảnh”, “Thăng
Long Hoài Cổ”, “Chiều Hôm Nhớ Nhà”.


19- Thái Hậu Từ Dũ (1810-1902):
Tên húy là Phạm Thị Hằng, người tỉnh Gia Định. Bà là con gái Quốc Công Phạm Đăng
Hưng, được tiến cung năm 14 tuổi và trở thành quí phi của vua Thiệu Trị. Bà sinh ra vua Tự
Đức nên trở thành Tháí Hậu, hiệu Từ Dũ Bát Huệ Thái hoàng Thái hậu.
Theo Sử Gia Trần Trọng Kim, Thái Hậu Từ Dũ “thuộc sử sách đã nhiều mà biết việc đời
cũng rộng”. Đến đời vua Thành Thái, Bà được dâng tôn hiệu là Từ Dũ Bát Huệ Khương Thọ
Thái thái hoàng thái hậu.
Thái Hậu Từ Dũ là người quyền cao đức trọng thời nhà Nguyễn, đa nêu tấm gương tốt về
đức hạnh cho hậu thế. Bà mất ngày 5 tháng 4 Nhâm Dần, thọ 92 tuổi.


20- Bà Tú Xương (cuối thế kỷ 19):
Bà họ Phạm, người tỉnh Hải Dương, là hiền thê nhà thơ trào phúng Trần Tế Xương (1869-
1907) tức Tú Xương. Bà là người mẹ hiền tiêu biểu cho những bà mẹ quê Việt Nam chỉ biết
một đời tận tụy cho chồng, cho con, không nề hà gì đến chính bản thân mình, đúng như lời
thơ của Tú Xương đã diễn tả:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông”
“Nuôi-nấng năm con với một chồng”
“Lặn-lội thân cò khi quãng vắng”
“Eo-sèo mặt nước, buổi đò đông”
Bà Tú Xương quả đúng là một Hiền phụ Việt Nam.


21- Bà Sương Nguyệt Anh (1863-1921)
Bà Sương Nguyệt Anh tên thật là Nguyễn Thị Khuê, sinh ngày 24 tháng 12 năm Quí Hợi
(1863) tại Gia Định, con gái thứ tư của cụ Nguyễn Đình Chiểu tức Đồ Chiểu. Bà có nhan sắc
xinh đẹp, lại có tài văn chương, đoan trang, tiết hạnh, nhưng lập gia đình trễ. Trên 25 tuổi
bà mới kết hôn, sinh được một gái thì chồng chết. Bà ở vậy nuôi con, vui với thơ văn, lấy bút
hiệu là Sương Nguyệt Anh (nghĩa là người sương phụ, thủ tiết thờ chồng). Bà viết
“Gương tỏ đời nay trong tiết phụ”
“Lâu dài tiếng tốt tạc tạc non sông”
Bà rất hay chữ, giỏi thơ, nổi danh ở miền Nam, và làm chủ bút tuần báo “Nữ Giới Chung” Sài
Gòn, là tuần báo đầu tiên ở nước ta. Bà Sương Nguyệt Anh mất ngày 12 tháng 11 âm lịch (4
tháng 1 năm 1921), hưởng dương 58 tuổi.
(Theo tài liệu của Lãng Nhân trong “Hương Sắc Quê Mình”, và tài liệu của Hồ Trường An –
Giai Phẩm Sương Nguyệt Anh – 2002)























Bà Sương Nguyệt Anh tấm gương tiết hạnh (Tranh Bé Ký)




22- Bà Ba Đề Thám (cuối thế kỷ 19):
Bà tên thật là Đặng Thị Nhu (còn có tên là Đặng Thị Nho tức Bà Ba Cẩn), vợ thứ ba của nhà
cách mạng Hoàng Hoa Thám (Đề Thám). Bà là một nữ tướng rất can trường, cùng sát cách
với chồng trong cuộc kháng chiến chống Pháp tại Yên Thế cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.
Ngày 1-2-1909, bà và con gái là Hoàng Thị Thế bị Pháp bắt và đầy đi Guyanne thuộc Pháp
ở Nam Mỹ. Tương truyền, trên đường lưu đầy bà Ba Đề Thám đã nhẩy xuống biển tự tận,
noi gương bất khuất của Bà Trưng Bà Triệu.





















23- Bà Phan Bội Châu (1866-1936):
Bà tên thật là Thái Thị Huyên vợ nhà Cách Mạng yêu nước Phan Bội Châu (1867-1940),
người làng Diên Lân, tỉnh Nghệ An. Bà làm dâu nhà họ Phan năm 23 tuổi, đã hết lòng giữ
trọn đạo dâu hiền. Chồng thi đỗ Giải Nguyên, bà vẫn giữ nếp nhà, sống đời bình dị, lo cho
chồng cho con. Chồng bà xuất dương cứu nước hơn 20 năm, bà vẫn giữ lòng chung thủy,
vò võ nuôi con. Khi ông Phan Bội Châu bị bắt về nước năm 1925, bà được gặp mặt chồng
nửa tiếng đồng hồ tại Nghệ An rồi lại xa cách cho đến lúc mãn phần. Trong mấy lời chia tay,
bà đã nói: “Vợ chồng ly biệt nhau hơn 20 năm, nay được một lần giáp mặt Thầy, trong lòng
tôi đã mãn túc rồi. Từ đây trở về sau, chỉ mong Thầy giữ được lòng xưa”.
Bà Phan Bội Châu là tấm gương sáng của người Phụ Nữ Việt Nam, một lòng trung trinh tiết
hạnh, thờ chồng nuôi con, giúp cho chồng con giữ vững tinh thần trên bước đường dấn
thân cứu nước. Hiền Phụ Thái Thị Huyên mất ngày 1 tháng 4 âm lịch (21-5-1936), thọ 70
tuổi.


24- Bà Lê Thị Đàn (Ấu Triệu) (Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20):
‘Người tỉnh Thừa Thiên, hoạt động tích cực trong Duy tân hội tại Huế, được Phan Bội Châu
đặt biệt danh là “Ấu Triệu” tức “Triệu nhỏ” (ý so sánh với bà Triệu lớn tức bà Triệu Thị
Trinh). Bà phụ trách liên lạc, chuyển vận thư từ, tiền bạc cho những nhà hoạt động cách
mạng khắp các nơi ở Trung phần. Năm 1910, bị Pháp bắt, bà tự tử trong tù tại Quảng Trị’
(Trần Gia Phụng - Những câu chuyện Việt sử).


25- Nguyễn Thị Bắc (Liệt sĩ cận đại):
Nguyễn Thị Bắc và Nguyễn Thị Giang là hai chị em ruột, quê ở Bắc Giang, tục gọi là Cô Bắc,
Cô Giang, đều là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, chi bộ Bắc Giang. Cô Bắc cùng với
Cô Giang làm liên lạc và tuyên truyền, hoạt động rất tích cực. Năm 1930, sau khi cuôc khởi
nghĩa Yên Bái do Đảng Trưởng Nguyễn Thái Học lãnh đạo bị thất bại, Cô Bắc bị Pháp bắt và
đưa ra xét xử trước Hội đồng đề hình Pháp. Cô đã hiên ngang chỉ trích chế độ Thực dân
Pháp tại Đông Dương và nói: “Các ông hãy về Pháp mà kéo đổ tượng Jeanne d'Arc đi”
(Jeanne d'Arc là một nữ anh hùng Pháp), khiến người Pháp phải kiêng nể tinh thần bất
khuất của người Phụ nữ Việt Nam.


26- Nguyễn Thị Giang (?-1930) (Liệt sĩ cận đại):
Cô Giang là vị hôn thê của lãnh tụ Nguyễn Thái Học, Đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân
Đảng. Cô là một đảng viên rất đắc lực, đã cùng với cô Bắc hoat động tuyên truyền liên lạc
giữa các cơ sở đảng ở Bắc Giang, Phú Thọ, Bắc Ninh, Vĩnh Yên. Năm 1929, Cô Giang gặp
Nguyễn Thái Học và hai người cùng chí hướng đã yêu nhau.
Sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái bị thất bại, ngày 17-6-1930, Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí
bị Pháp đưa lên máy chém ở Yên Bái, Cô Giang đã đến tận pháp trường để chứng kiến cái
chết anh dũng của người yêu và 12 đồng chí Việt Nam Quốc Dân Đảng. Sau đó Cô về nhà
trọ viết thư tuyệt mệnh gửi song thân và gửi hương hồn Nguyễn Thái Học, trong dó có câu:
“Anh đã là người yêu nước, không làm tròn được nghĩa vụ cứu nước. Anh giữ lấy linh hồn
cao cả để về dưới suối vàng chiêu binh rèn súng đánh đuổi quân thù.” Cô Giang còn làm
một bài thơ lục bát, tỏ rõ ý chí hy sinh vì nước, sau đó đã dùng súng lục tự tử để bảo toàn
danh tiết và bảo toàn bí mật cho đảng.
Trước khí tiết hiên ngang bất khuất của Cô giang và Cô Bắc, người đời sau ai cũng ngậm
ngùi thương tiếc.


27- Thánh Mẫu Liễu Hạnh (thế kỷ 16):
Là nhân vật thần thoại, được người đời sùng bái, xưng tụng là Liễu Hạnh Công chúa hay
Thánh mẫu đền Sòng (Sòng Sơn, Thanh Hóa).
Theo Truyền thuyết, Liễu Hạnh Công chúa chính là Công chúa Quỳnh Nương trên Thiên
Đình, bị giáng xuống trần làm con gái một vị quan triều Hậu Lê, mang tên là Lê Thị Giáng
Tiên, quê làng Vân Cát, huyện Vân Cát (Phủ Giầy), Nam Định. Giáng Tiên rất xinh đẹp, giỏi
thơ văn, đàn sáo và soạn nhiều bài hát rất hay, kết duyên với Đào Lang năm 18 tuổi. Được
3 năm, Giáng Tiên đã đột ngột từ trần, trở về thượng giới. Nhưng vì chưa hết hạn đi đầy,
Giáng Tiên lại giáng xuống trần, đổi tên là Liễu Hạnh cùng với hai ngọc nữ Quế Nương và
Thị Nương. Ba người hiện xuống một làng ở Thanh Hoá, đi khắp các nơi cứu nhân độ thế và
nhiều lần hiển linh cứu giúp dân lành, hoặc làm thơ xướng hoạ với các danh sĩ thời đó.
Sau khi trở về trời, Bà Liễu Hạnh được dân chúng suy tôn là Mẫu Nghi thiên hạ, và được vua
Lê sắc phong là Thượng Đẳng tối linh thần. Dân chúng lập đền thờ tại những nơi bà đã đi
qua như Phủ Giầy ở Nam Định. Đền Sòng ở Thanh Hóa và Tây Hồ ở Thăng Long. Lễ hội từ
mồng 1 đến mồng 10 tháng 3 âm lịch.


28- Nàng Tô Thị
Nàng Tô Thị là tên một hiền phụ trong truyền thuyết, lai lịch có thể xuất phát từ tỉnh Lạng
Sơn, theo câu ca dao:
“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa”
“Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”
Đồng Đăng là một thị trấn sát biên giới Hoa Việt thông qua cửa ải Nam Quan , nơi trấn đóng
của lính thú đời xưa lo gìn giữ biên cương. Phố Kỳ Lừa có chợ Kỳ Lừa, đọc trại từ tiếng Thổ
“háng Khau-lừ” có nghĩa là “chợ đồi con lừa” là nơi sinh hoạt, buôn bán sầm uất của xứ
Lạng thời bấy giờ. Động Tam Thanh là một hang động đẹp nổi tiếng ở Lạng Sơn, trong đó
có một ngôi chùa cổ. Trên hòn núi đá gần khu động Tam Thanh có một tảng đá thiên nhiên
nhô ra, chênh vênh trông giống như hình tượng một thiếu phụ đứng nhìn về phía biên
cương, mòn mỏi chờ chồng chinh chiến trở về: Người ta gọi đó là nàng Tô Thị, đứng chờ
chồng lâu ngày đã hoá thành đá. Cũng có truyền thuyết cho rằng “đó là người con gái họ
Tô, bồng con đợi chồng lâu ngày đến nỗi hóa đá, thành hòn núi Vọng Phu” (Trần Gia Phụng
- Những Câu Chuyện Việt Sử).
Nàng Tô Thị chính là hình ảnh của người phụ nữ trung trinh, những hiền phụ Việt Nam, luôn
luôn giữ lòng chung thủy, là nguồn an ủi của những người lính thú xa nhà, đồng thời cũng là
hình ảnh những chinh phụ vô danh Việt Nam, lo toan việc nhà, thờ mẹ nuôi con trong khi
chồng chinh chiến phương xa.

Kết Luận:

Phụ nữ Việt Nam trong truyền thuyết đều là những người đàn bà nổi tiếng tài ba, những anh
thư hào hùng bất khuất, những hiền phụ hết lòng hết dạ lo cho chồng cho con. Đó là những
vị Vua, những vị Thái hậu, Hoàng hậu, những Công chúa, những Nữ văn nhân, Thi sĩ,
những Nữ tướng, những Sương phụ, Tiết phụ và những Bà Mẹ Việt Nam kể cả những người
Con Gái Việt Nam không tên tuổi, nhưng đều mang dòng máu Tiên Rồng, trung trinh tiết
hạnh, được dân tộc Việt Nam truyền tụng, sùng bái và tin tưởng.

Mục đích “vinh danh những Phụ nữ truyền thuyết Việt Nam”, trước hết là để chứng minh
người phụ nữ Việt Nam từ ngàn xưa đã là những người đáng kính phục cả về tài ba lẫn đức
hạnh và những người phụ nữ có công với đất nước, sau nữa là để nêu lên những tấm
gương sáng cho hậu thế, nhất là giới trẻ Việt Nam, được soi chung.

Bảng đề nghị danh sách “Phụ Nữ Truyền Thuyết Việt Nam” nêu trên chỉ là một bài viết có
tính cách phổ biến tài liệu của các nhà biên khảo. Cũng vì thế, bảng đề nghị này, do cá
nhân biên soạn, phần nào theo cảm tính riêng, nên không tránh khỏi sự thiếu sót. Chúng tôi
kính mong được sự chỉ giáo của các vị cao minh.

Song Thuận (9/21/04)



Sách tham khảo:

Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim - Nhà Xuất bản Miền Nam
Những Câu Chuyện Việt Sử - Trần Gia Phụng - Tập 2 - Toronto, Canada-1999.
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư - Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội.
Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam - Nguyễn Q. thắng, Nguyễn Bá Thế - Nhà XB Văn Hóa.
Non Nước Việt Nam - Sách hướng dẫn Du Lịch.
Sơ thảo Địa Lý Tỉnh Lạng Sơn - Do các giáo Viên Lạng sơn biên soạn - LS tháng 5 năm
1955.
Việt Sử Tân Biên - Phạm Văn Sơn - Tủ Sách Sử Học Việt Nam
Hoàng hậu Hai Triều Dương Vân Nga - Hoàng Công Khanh - Nhà XB Văn Học.
“Liễu Hạnh Tiên Chúa” - Bưu Văn Phan Kế Bính - Bài viết phổ biến trên Internet.
Hội Hè Đình Đám (Quyển Thượng) - Toan Ánh
Tài liệu của Lãng Nhân (Hương Sắc Quê Mình) - Hồ Trường An (Giai Phẩm SNA 2002)
Quốc Mẫu Âu Cơ

Một mẹ trăm con gánh núi sông
Đảm đang gầy dựng giống Tiên Rồng
Văn Lang một cõi vươn tay đắp
Ngũ Lĩnh bao vùng để mắt trông
Văn hiến Hùng Vương, trau chuốt ngọc
Thuần phong Lạc Việt, điểm tô hồng
Năm châu Phụ nữ trong truyền thuyết
Quốc mẫu Âu Cơ đẹp nét hùng.
Vương Sinh
Ngọc Hân
Thiên hương quốc sắc lại đa tài
Sánh với anh hùng dễ mấy ai?
Công chúa nhà Lê thời mạt vận
Nữ Hoàng triều Nguyễn (Tây Sơn) thuở
hùng oai
Truân chuyên, nào biết đời hoa thắm
Phiêu bạt, đâu ngờ kiếp lá bay
Danh tiếng một thời trang tiết liệt
Sử xanh truyền tụng mấy ai hay!
VS

Chữ mệnh thường hay đố chữ tài
Trở về nguồn cội khó trần ai !
Thế gia đau bởi bao ghen ghét
Vọng tộc buồn vì lắm tác oai
Nguyễn Huệ hoàng bào nhàu nước chẩy
Ngọc Hân vương miện nhạt hương bay
Lần trong sử sách bao niên kỷ
Khói bụi mịt mờ ,thật mới hay !
Sơn Khê