Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt
(Lang Mo Trieu Van De - Tiep Theo)

Chuông đồng

Có ba loại chuông cổ khác nhau theo tên gọi: nữu chung ( 鈕鍾 ), dũng chung ( 甬鍾 ) và
đồng câu điêu ( 銅句鑃 ). Chuông đồng thời này chưa giống như các loại chuông về sau
này, thường nhỏ hơn, một bộ có nhiều cái để đánh ra nhiều âm thanh được dùng chủ
yếu trong lễ nghi như một hình thức trung gian tiếp xúc với thần linh.

Âm nhạc cũng rất thông dụng trong các cuộc vui chơi, yến tiệc. Tại phòng phía đông
trong mộ có chứa nhiều loại nhạc khí, bên cạnh còn có một nhạc sư tuẫn táng. Nhạc khí
chia ra nhiều loại khác nhau bằng đồng, bằng đá, bằng gốm, bằng tơ.

Riêng về nhạc khí bằng đồng, người ta tìm thấy một bộ nữu chung 14 cái, dũng chung
một bộ 5 cái, câu điêu một bộ 8 cái. Nữu chung là sản phẩm của Nam Việt, cái lớn nhất
cao 24.2 cm, cái nhỏ nhất cao 11.4 cm.

Dũng chung, cái lớn nhất cao 49 cm, cái nhỏ nhất cao 38 cm, hình ống tròn.

Câu điêu lớn nhất cao 64 cm, hình hơi vuông, cán đặc, miệng hình cung. Trên thân các
câu điêu có khắc lõm hàng chữ triện:
Văn đế cửu niên nhạc phủ công tạo ( 文帝九年樂
府工造 )20 từ thứ nhất đến thứ tám là những món đồ có niên đại rõ rệt duy nhất vào thời
này. Người ta cũng đánh thử những câu điêu này, tiếng vẫn còn tốt.

Đồng qua, đồng kiếm và hổ tiết

Trong mộ có rất nhiều loại binh khí. Ngoài 15 thanh kiếm thép, các món khác đều làm
bằng đồng. Món đồ hiếm quí nhất là một thanh đồng qua Trương Nghi ( 張儀銅戈 ) trên
có khắc hàng chữ
“vương tứ niên tương bang Trương Nghi” ( 王四年相邦張儀 ) ứng vào
thời Tần Huệ Vương ( 秦惠王 ), do Trương Nghi trông coi chế tạo đủ biết đây là một
món binh khí từ nước Tần đem vào Nam Việt chứ không phải là sản phẩm bản xứ.
Ở gian phòng phía tây người ta tìm thấy một thanh đồng kiếm, hình dáng theo kiểu
nước Sở thời Chiến Quốc là thanh kiếm duy nhất làm bằng đồng tìm thấy trong ngôi
mộ này.

Người ta còn tìm được một hổ tiết trên đúc nổi hình con cọp, tư thái sinh động trong tư
thế sắp sửa vồ mồi, đầu ngửng lên, há miệng nhe răng, lưng khum đuôi cuộn lại trên
thân có dát vàng thành hình vằn là hổ tiết duy nhất mà người Trung Hoa tìm thấy từ
trước đến nay. Trên hổ tiết này cũng còn một hàng chữ dát bằng vàng: “Vương Mệnh:
Xa Đồ” ( 王命車徒 ). Có ba loại: hổ tiết, long tiết và nhân tiết là các loại lệnh phù dùng
trong quân sự để điều binh. Chỉ những ai cầm các lệnh phù này mới có thể điều động
được quân đội và chiến xa.

Đồng phương, ấn hoa ( 印花 )

Phương ( 鈁 ) là một loại bình đựng rượu miệng hình vuông, bụng hơi phình, trên có khắc
những đường nét phức tạp. Kỹ thuật chế tạo những bình này đã tinh vi. Một trong
những hiện vật quan trọng nhất mà người ta tìm thấy trong mộ Triệu Muội là hai ấn
bằng đồng một to, một nhỏ dùng để ráp vào nhau in lên vải làm mẫu thêu. Người thợ
sẽ dùng hai mẫu này để in lên vải đúng vị trí của hình sau đó thêu bằng tay theo vết đã
có sẵn. Hai mẫu này tương tự như mẫu người ta tìm thấy trong mộ ở Mã Vương Đôi
( 馬王堆 ), Trường Sa ( 長沙 ). Ấn thêu có hình ngọn lửa, mây và núi non này được coi
như chứng cớ sớm sủa là tơ lụa có hình thêu đã được sản xuất một cách qui mô tại Nam
Việt và mẫu in trên vải có thể là bước khởi đầu cho nghề in hình và chữ lên giấy, là
những phát minh mà người ta cho rằng cũng phát xuất từ thời Hán. Đặc biệt hơn nữa,
mẫu hình không phải chỉ gồm một bản gốc mà có thể ghép hai hay nhiều mẫu với nhau
để thành những mẫu phức tạp.21

Đồ trang trí

Trong số đồ trang trí nội thất có một bức bình phong bằng sơn mài có những bản lề và
mảnh kết hợp bằng vàng ròng đúc theo hình rồng cuộn, chim sẻ ...

Kiếm sắt, mâu sắt, giáp sắt

Trong mộ Triệu Văn Đế Triệu Muội có đến hơn 700 món đồ sắt bao gồm nhiều loại
vật dụng khác nhau dùng trong việc trồng trọt, công nghệ và binh khí.

Giáp sắt cao 58 cm tổng cộng 709 miếng vảy hình vuông, góc tròn kết lại với nhau,
thích hợp cho khí hậu nóng và ẩm của phương nam, khác hẳn kiểu áo giáp của miền
bắc dùng cho khí hậu nóng và khô.

Kiếm sắt tổng số 15 cái trong đó một thanh đeo phía eo trái của mộ chủ, bao kiếm
bằng tre, cán bằng gỗ có quấn dây tơ. Bốn thanh kiếm có cán khảm ngọc màu xanh
vàng, điêu khắc tinh tế, bên dưới có hình thú đục nổi (phù điêu) rất sinh động.
Đặc biệt nhất trong số có một chiếc mâu làm bằng sắt pha đồng và khảm vàng, trên
khắc văn hình mây rất đẹp mắt nên người ta cho rằng nếu không phải là vũ khí tuỳ thân
của Triệu Muội thì cũng là một loại nghi trượng tượng trưng cho uy quyền của bậc đế
vương.

Ngọc bích













                                                                                             


Có cả thảy 56 món ngọc bích trong mộ Triệu Văn Đế, riêng trong phòng để quan tài
đã có đến 47 món nên người ta cho rằng mộ chủ ưa thích ngọc. Trong những ngọc khí
này, những món đặc sắc nhất phải kể đến những món ngọc bích điêu khắc hình rồng,
và một đại ngọc bích đo được 33.4 cm là món ngọc lớn nhất, điêu khắc tinh mỹ. Đại
ngọc bích được các nhà khảo cổ ban cho mỹ danh “bích trung chi vương”22 (vua các
loại ngọc bích).

Vật bằng ngọc phía bên phải ở trên được các nhà khảo cổ đoán rằng đây là một khúc
trong nhiều mảnh nối liền thành sợi đai để đeo kiếm.

Hộp bằng ngọc

Hộp ngọc tìm thấy trong căn phòng chứa quan tài mộ chủ là loại ngọc xanh, ánh màu
vàng, thân hộp hình viên trụ cao 77 cm, có khắc hình hai con phượng và nhiều hình
chạm nổi (phù điêu) rất đẹp, kết cấu tinh vi, nhẵn nhụi đáng được coi là một tuyệt
phẩm trong ngọc khí.

Ti lũ ngọc y

Y phục bằng ngọc là một hình thức tẩn liệm độc đáo của thời Hán. Sau thời Đông Hán
người ta không còn tìm thấy lối mai táng tương tự như vậy nữa. Ngọc y được qui định
theo đẳng cấp có kim lũ, ngân lũ, đồng lũ ngọc y (các sợi dây buộc các mảnh ngọc với
nhau bằng vàng, bạc hay đồng). Các chư hầu của nhà Hán thường dùng kim lũ. Riêng
Triệu Văn Đế thì dùng tơ để kết nối những miếng ngọc với nhau (ti lũ ngọc y - 絲縷
玉衣 ) là bộ áo ngọc đầu tiên người ta tìm ra và duy nhất từ trước đến nay. Bộ ngọc y
này dài 1.73 mét, tổng cộng là 2291 mảnh tết lại bằng tơ màu đỏ thành nhiều hình kỷ
hà, sắc thái dễ coi.

Ấn ngọc, ngọc bội và ngọc giác bôi

Ấn ngọc

Có tất cả 9 cái ấn ngọc trong đó có 3 chiếc khắc văn tự (6 chiếc kia không có chữ) đều
là ấn hình vuông, tìm thấy trên thân người của mộ chủ khắc các chữ Triệu Muội ( 趙昧 ),
Thái Tử ( 泰子 ) và Đế Ấn ( 帝印 ). Chính từ các con dấu này chúng ta có thể xác định
rằng Triệu Vương tự xưng là đế, ngang hàng với vua nhà Hán chứ không chịu nhún
mình thần phục như sử Trung Hoa vẫn thường khẳng định.

Ngọc bội















             Hình 3: Một món đồ ngọc tinh xảo

Việc đeo những đồ trang sức tạc bằng ngọc là một truyền thống đã có từ lâu ở phương
Đông. Người ta tin rằng đeo ngọc trong người có thể giúp cho thân thể mạnh khoẻ, trừ
được tà khí nên ngọc vẫn thường được tạc thành đồ trang sức và cũng tượng trưng cho
giới quyền quí. Trong mộ của Triệu Văn Đế Triệu Muội có tất cả hơn 130 món đồ làm
bằng ngọc, nhiều món rất tinh mỹ và quí giá chẳng hạn như một khối ngọc tạc hình
sừng tê, một khối ngọc tạc hình hai con rồng chầu, giương nanh trừng mắt rất sinh
động.              

Một số món ngọc của các phi tần người ta cho rằng có thể ráp lại với nhau theo nhiều
cách tuỳ theo trường hợp và sáng kiến của người đeo.

Ngọc giác bôi

Tìm thấy ngay trong phòng để quan tài là chén của mộ chủ dùng dài 18.4 cm, miệng
hình ống, đường kính chỗ nhỏ nhất 5.8 cm, chỗ lớn nhất 6.7 cm trông như một cái tù và,
rất lạ mắt. Đây là món đồ mà các chuyên gia đánh giá là “
độc nhất vô nhị” trong các
món ngọc khí đời Hán. Cái chén ngọc này làm bằng loại ngọc trong mờ, có gân nổi từ
xanh nhạt sang màu nâu tạc từ một khối đá nguyên thuỷ và phải dùng nhiều loại kỹ
thuật khác nhau, khắc nông hay sâu.23

Các món đồ sứ ( 陶器 )

Trong mộ của Triệu Muội người ta tìm thấy 371 món đồ sứ bao gồm đồ để đựng, đồ để
nấu và các loại dùng hàng ngày. Ngoài ra còn có các món thuộc về minh khí là đồ chế
tạo riêng để chôn theo người chết được mô phỏng theo những vật dụng hàng ngày mà
mộ chủ thường dùng trong đó có đỉnh, bích (món đồ của bậc vua chúa cầm theo tước vị
của mình), vò, chén, bát ... Đặc biệt nhất trong một số vò và đỉnh có bốn chữ Trường
Lạc Cung Khí ( 長樂宮器 ) và đã đưa ra nghi vấn cho những nhà nghiên cứu: “Có thực
trong cung Triệu Việt Vương có cung Trường Lạc hay chăng?”. Trường Lạc Cung là
tên của một cung điện tại Trường An, chính là cư sở của vua và hoàng hậu nhà Hán,
việc một số đồ sứ hiện hữu trong mộ của Triệu Muội thực đáng lưu tâm.

Vải vóc, tơ lụa

Quảng Châu vốn dĩ là hải cảng quan trọng hơn cả của miền Nam và vào thời đại nước
Nam Việt được coi như thương khẩu quốc tế, buôn bán trao đổi không chỉ với các dân
tộc nằm trong đại lục Trung Hoa mà còn cả với nhiều quốc gia từ Nam Thái Bình
Dương, Ấn Độ Dương cho tới tận Phi Châu.

Theo lịch sử, phương Nam đã biết trồng dâu nuôi tằm từ lâu, gần đây tại miền Bắc
nước ta cũng đã tìm thấy mẫu vải trong mộ cổ từ thời Đông Sơn. Trong mộ Triệu Muội,
các loại vải tìm thấy phong phú cả về số lượng lẫn chủng loại. Trong căn phòng phía
tây, người ta tìm được vải vóc xếp thành tầng, trong số đó bao gồm cả lụa ( 絹 ), là
(朱羅), đồ thêu (綉), và nhiều loại the mỏng ... Những loại tơ lụa này khi xuất thổ đều
bị mủn nát, thành bụi cao đến 2, 30 cm, tính ra không dưới 100 xấp vải, chồng lên nhau
khoảng 700 lớp. Các đồ tuỳ táng cũng có một số lớn được quấn vải, chẳng khác gì
người ta dùng giấy gói những hàng hoá để chuyên chở đi nơi khác. Các loại vải tìm
thấy cũng được nhuộm màu khác nhau và cho thấy ở vào thời kỳ này, vải đã khá phổ
biến ở phương Nam để dùng trong giao dịch, buôn bán với các nơi khác.

Ngà voi, ngọc trai

Trong mộ cũng tìm thấy ngà voi còn nguyên chiếc, tổng cộng 5 cái, lớn nhất dài 1 mét
26, đặt chồng lên nhau cao 57cm. Theo các chuyên gia về sinh vật học, những ngà voi
này không phải voi Á Châu mà to lớn giống như ngà voi Phi Châu nên người ta cho
rằng đây không phải là sản vật bản địa mà do các thương thuyền từ nước ngoài đem
đến Quảng Châu. Ngoài ngà voi còn nguyên trong mộ cũng có một số món đồ và vật
dụng khắc bằng ngà.

Trong túi gối đầu đặt dưới bộ ngọc y người ta tìm thấy 470 viên ngọc trai, đường kính
từ 0.1 đến 0.4cm là ngọc trai còn ở dạng thiên nhiên chưa giũa gọt. Theo một số nhà
khảo cổ giải đoán, ngọc trai có lẽ dùng để trừ tà ma và đây cũng là lần đầu tiên một
chiếc gối như thế được tìm thấy. Ngoài ra trong một chiếc hộp sơn lớn người ta tìm
được một số lớn ngọc trai khác, nặng tổng cộng 4117 grams, đường kính từ 0.3 đến 1.1
cm.

Tuẫn táng (殉葬)

Trong mộ Triệu Muội người ta tìm thấy cả thảy 15 người tuẫn táng. Tuẫn táng là chôn
người sống theo để hầu hạ, phục dịch cho người chết ở thế giới bên kia, một tục lệ khá
phổ biến ở thời kỳ phong kiến cổ đại.
Mười lăm người này chia ra như sau:
- Phòng trước 1 người gác cửa (cảnh hạng lệnh - 景巷令)
- Phòng trước phía đông (đông nhĩ thất) 1 người có nhạc khí kèm theo chắc là
nhạc công.
- Phòng phía đông chôn theo 4 cung phi của Triệu Muội cùng nhiều món ngọc
khí, đồng khí, đào khí. Ngoài ra còn có thêm bốn cái ấn như đã miêu tả ở trên.
- Phòng phía tây có 7 người cùng với các đồ dùng nhà bếp, có lẽ đây là đầu bếp
và người phục dịch. Cũng nơi đây mỗi người có chôn theo một hay hai chiếc
gương đồng.
- Trong mộ đạo còn có 2 người, có lẽ một người là vệ sĩ, một người là xa phu.
Theo những chuyên gia giám định thì tất cả những người tuỳ táng này đều bị đánh
mạnh vào ngực cho chết rồi chôn theo. Trong tất cả những ngôi mộ đời Hán đào được
ở Trung Hoa, ngoài mộ của Triệu Muội, người ta không thấy có hiện tượng tuẫn táng.
Tục lệ này ở Trung Hoa chỉ có từ đời Tần trở về trước.24

Kiến trúc

Theo các chuyên gia về lăng mộ của Trung Hoa, ngôi mộ Triệu Văn Đế thực ra không
thấm vào đâu với một của các vì vua chúa khác và kém cả nhiều mộ của vương tôn,
hoàng thất. Ngôi mộ này nằm giữa một ngọn đồi thạch anh, một loại đá biến chất khá
cứng, khi khai thác công nhân đã phải dùng búa đẽo từng miếng một. Vào thời kỳ ngôi  mộ
này được kiến tạo 21 thế kỷ trước khi kim loại còn hiếm hoi, việc đào khoét một
ngọn núi nhỏ thành một hang động lớn như thế không phải là chuyện dễ dàng. Theo
các tính toán thì ngôi mộ của Triệu Văn Đế sử dụng đến hơn 750 phiến đá để làm
tường, lót sàn, xây cột, làm cửa ... mỗi thứ lớn nhỏ, dày mỏng một khác. Những phiến
đá đó không phải cùng một loại mà bao gồm cả sa thạch, huyền võ, hoa cương trong đó
sa thạch tương đối mềm nên được dùng nhiều hơn cả.

Tuy nhiên khi đối chiếu các mẫu đất đá ở phụ cận, các nhà nghiên cứu không tìm thấy
nơi nào có các loại đá dùng trong kiến trúc ngôi mộ này. Điều đó khiến họ đưa đết nghi
vấn là các tảng đá đó được đục từ một nơi nào đó sau đó mới chuyên chở về để xây
mộ. Một việc khá tình cờ đã đưa đến câu trả lời. Một nông dân vô tình đào được một
cái đục bằng đồng (銅鑿) ở một nơi cách ngôi mộ này khoảng 100 dặm và các nhà
khảo cổ xác định rằng tuổi của nó khoảng hơn 2000 năm và người ta cũng tìm thấy nơi
ngọn núi Liên Hoa gần đó loại hoa cương cùng loại với đá dùng để xây mộ Triệu Muội
và người ta đưa đến kết luận rằng nhà Triệu đã thiết lập một loại công xưởng tại đây
để đục đá, sau đó dùng thuyền theo Châu Giang chở về. Chính đó là lý do tại sao ngôi
mộ giữ được bí mật phải đến hơn 2000 năm sau mới vô tình tìm thấy. Tính theo kỹ
thuật và phương tiện của thời đại, người ta cho rằng riêng việc đục đá cũng phải tốn
hàng mấy tháng trời và dùng hàng trăm nhân công.

Nghiên cứu thêm về ngôi mộ, vì mộ thất nằm sâu trong đất đến 20 thước, rộng hàng
trăm thước vuông, người ta cho rằng việc kiến trúc phải khởi đầu bằng cách đào một
giếng to từ trên đỉnh đồi đi xuống, lớn hơn ngôi mộ để đưa những phiến đá mà trọng
lượng không dưới 3, 4000 kg, có tảng dài tới 5.5 mét.

Việc sử dụng những tảng đá để xây dựng cũng là một thay đổi so với các triều đại trước
thường chỉ xây cất một phần bằng gỗ và phần nào miêu tả hình thái sinh hoạt của triều
đình trong một qui mô nhỏ.

KẾT LUẬN

Từ những di vật trong ngôi mộ của Triệu Văn Đế chúng ta thấy các bậc đế vương đời
nào cũng muốn sống lâu để hưởng thụ và lại còn muốn tiếp tục nếp sống vương giả
ngay cả khi đã qua đời. Trong mộ Triệu Muội người ta cũng tìm thấy một số thuốc viên
có lẽ là những “
linh đan” mong uống vào có thể “trường sinh bất tử” mà thời cổ các
đạo sĩ thường bỏ nhiều công lao chế luyện. Những viên thuốc này khi phân chất người
ta tìm thấy các loại đá quí tán thành bột, nhiều loại hoá chất trong đó có lưu huỳnh,
hùng hoàng, chì và chu sa. Rất có thể Triệu Muội đã trúng độc khi dùng các loại linh
đan này.

Theo một số nghiên cứu, vua chúa đời Hán dùng đến 1/3 tài nguyên quốc gia vào việc
xây dựng lăng tẩm.25 Nhà Thương, nhà Chu, nhà Tần đều xây những ngôi mả khổng lồ
mà đến nay người ta vẫn chưa khám phá hết. Vào thời đó, tục tuỳ táng còn thông dụng
nên vua chúa nào cũng chôn theo mình về thế giới bên kia một số cung tần, mỹ nữ,
quan quân, gia nhân, xe ngựa ... Một ngôi mộ nước Tề tại Sơn Đông có đến 600 bộ
xương ngựa.

Chúng ta còn chờ đợi thêm những khai quật và nghiên cứu những học giả mới dám
khẳng định về đâu là cái nôi của văn hoá quan trọng này. Tuy nhiên, những khai quật
cũng cho thấy từ nhiều thế kỷ trước TL, miền Lĩnh Nam đã có một nền văn minh khá
rực rỡ trong đó nhiều kỹ thuật được áp dụng rộng rãi đồng thời với các khu vực khác
trên toàn cõi Trung Hoa cho thấy việc nhiều sử gia cho rằng chỉ đến sau khi bị lệ thuộc
nước Tàu các dân tộc miền Nam mới học được một số “văn minh Hoa Hạ” không còn
đứng vững. Chúng ta có thể tin tưởng rằng trong cùng một thời kỳ, nhiều trung tâm văn
hoá tồn tại có những trao đổi, học hỏi lẫn nhau nhưng không phải chỉ một chiều từ
phương Bắc đi xuống.

Việc chiếc ấn vàng của Triệu Muội có khắc bốn chữ Văn Đế Hành Tỉ cũng là một
chứng cớ quan trọng khác. Nước Nam Việt đã sinh hoạt một cách độc lập và không
chịu phong vương của nhà Hán như người ta thường hiểu lầm. Triệu Muội đã tự xưng là
Triệu Văn Đế ngay từ khi còn sống, không phải là một thuỵ hiệu sau khi chết. Chúng ta
cũng có thể suy luận thêm là chính Triệu Đà lúc sinh tiền cũng tự xưng là Triệu Vũ Đế
chứ không phải chỉ đến tước Vương như sử Trung Hoa đã chép.

Lẽ dĩ nhiên, chiếc ấn vàng cũng là một đề tài đáng bàn rộng thêm một chút. Theo suy
nghĩ thông thường, chúng ta thường cho rằng ấn là để đóng dấu son lên các văn thư của
nhà vua. Thực ra cho tới thời kỳ này, khi giấy chưa được phát minh và công văn còn
viết trên những thanh tre kết lại, ấn tượng trưng cho thẩm quyền (token of authority) và
tư thế của sở hữu chủ hơn là một tín hiệu để in trên thư từ, văn kiện26. Phần lớn người ta
sử dụng dấu để đóng lên một tác phẩm như đã tìm thấy trên những hình nhân trong mộ
Tần Thuỷ Hoàng và còn lưu truyền về sau trên đồ sứ và các đồ dùng có nguồn gốc là
đất sét. Chiếc dấu của Triệu Văn Đế cũng mang ý nghĩa đó nên chôn theo trong mộ
như một thứ thông hành khi về thế giới bên kia.

Một trong những giả thuyết mà các nhà nghiên cứu đưa ra là vùng Lĩnh Nam nói chung
và miền Bắc nước ta nói riêng chỉ có cơ hội phát triển một khi Trung Nguyên có loạn.
Trong thời kỳ đó, khi nước Tàu các phe phái thanh toán lẫn nhau để làm bá chủ, tình
hình kinh tế bị kém sút nhiều và giới thương nhân quốc tế không đến buôn bán được
nên chuyển hướng sang Giao Châu để tìm đường sang Trung Hoa theo đường bộ.
Những thời kỳ nước ta mạnh lên hầu như bao giờ cũng đi nghịch chiều với phương Bắc.
Vào thế kỷ thứ 10 sau Công Nguyên, khi nhà Đường tàn lụi, Trung Hoa chia ra thành
nhiều nước nhỏ nên việc kiềm chế các khu vực lệ thuộc ở phương Nam cũng nới ra tạo
cho một số thổ hào đứng lên phất cờ độc lập mở đầu cho một kỷ nguyên mới trên đất
nước ta. Khi nhà Tống bị đe doạ bởi các giống dân du mục phương Bắc, nước ta cũng
có dịp vùng lên để mở ra một thời kỳ thịnh trị mà ngày nay chúng ta gọi là văn minh
Lý Trần.

Thời kỳ nhà Triệu cũng tương tự như thế nên Nam Việt cũng trở thành một trung tâm
thương mại quốc tế, lưu lại nhiều dấu tích qua ngôi mộ của Triệu Muội. Nếu tính về
ảnh hưởng của văn minh Hán tộc thì nhà Triệu là giai đoạn đầu tiên chúng ta bị đồng
hoá một cách qui mô nhưng nếu đứng ở phương diện chính trị thì giai đoạn này người
Việt đã được tổ chức thành quốc gia trong khi các nước chung quanh như Chiêm Thành,
Chân Lạp, Xiêm La, Ai Lao còn đang trong tình trạng bộ lạc. Về phương diện sử liệu,
trước thời nhà Triệu không ai biết chắc tổ chức xã hội của người Việt đã tiến đến đâu
nhưng chắc chắn rằng trước khi Triệu Đà chiếm cứ nước ta, dân cư bản địa đã có một
nền văn minh rất cao mà một số di tích còn lưu lại trong ngôi mộ Triệu Muội. Trong
nhiều thời kỳ, một triều đại mới đã tìm cách xoá sạch mọi dấu tích của các triều đại cũ
để nhấn mạnh vào tính chính thống của mình. Trong những năm gần đây, một số di chỉ
quan trọng được tìm thấy trong vùng Lĩnh Nam, Vân Quí và miền bắc nước ta đã khiến
nhiều vấn đề lịch sử cần được nhìn lại dưới một lăng kính mới.
Tháng 11, 2006

1 Trong tấu nghị của các sử thần nhà Nguyễn (ngày 10 tháng 6 năm Tự Đức thứ 9 tức 11-07-1856) thì từ
An Dương Vương tới Ngô Quyền không được liệt vào chính thống mà chỉ tính đời Hùng Vương, sau đó
tới Đinh Tiên Hoàng.
... An Dương Vương là người nước ngoài, nhân dịp người ta suy yếu, trước thì cậy sức mạnh để kiêm tính
nước người, sau vì tin quỉ thần quái dị mà bị người khác lừa gạt, bỗng khởi lên, bỗng bị diệt, không được
trọn đời. Triệu Vũ Đế chiếm cứ Phiên Ngung, chống nhau với nhà Hán, nhưng rồi cũng bỏ danh hiệu
hoàng đế mà xưng thần ... Tóm lại, các thời đại ấy đều chưa có thời đại nào gọi là chính thống được.
Đến thời đại Đinh Tiên Hoàng, trong nước mới được thống nhất. Vậy Đinh Tiên Hoàng nên liệt vào
chính thống để nối tiếp với quốc thống Hùng Vương.
Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (bản dịch Viện Sử Học, nxb
Giáo Dục, Hà Nội, 1998) tập I, tr. 23.
2 Theo sử nước ta nhà Triệu bao gồm Triệu Đà (Vũ Đế), Triệu Hồ (Văn Vương), cháu nội Vũ Đế, con
trai Trọng Thuỷ, Triệu Anh Tề (Minh Vương, con trưởng của Văn Vương), Triệu Hưng (Ai Vương, con
thứ của Minh Vương), Triệu Kiến Đức (Thuật Dương Vương) tổng cộng 5 đời vua, 97 năm (207-111
TCN). Vì Triệu Vũ Đế sống rất thọ (121 tuổi), làm vua đến 71 năm nên khi chết truyền ngôi cho cháu
chứ không cho con.
3 Tức vua Văn Vương Triệu Hồ ( 趙胡 ), theo sử nước ta.
4 Thượng, Lung ( 尚瓏 ), Dương Phi  ( 楊飛 ). Trung Quốc Khảo Cổ Địa Đồ (中國考古地圖 ) The Map of
China Archaeology (Bắc Kinh: Quang Minh Báo xb xã, 2004) tr. 181.
5 Nguyên danh là Quảng Châu thị Bác Vật Quán Danh Dự Quán Trưởng
6 Conference on Archaeology in Southeast Asia
7 Mai Yinghao: “Excavation, Preservation and Utilization – Examples of Field Archaeology in
Guangzhou” (麥英豪: 發掘,保護,使用。廣州田野考古例舉 ),, Archaeology in Southeast Asia, The
University of Hongkong, 1995 tr. 357-59.
8 Năm 1968, ở Mãn Thành  (滿城), Hồ Bắc người ta khai quật hai ngôi mộ của Trung Sơn Tĩnh Vương
Lưu Thắng ( 劉勝 ) và vợ, tìm được 2800 món đồ quí. Hai người này được đặt trong một bộ quần áo bằng
ngọc tương tự như của Triệu Muội nhưng dây tết các mảnh ngọc làm bằng vàng (ngọc y kim lũ), một bộ
tổng cộng 2690 mảnh, một bộ 2156 mảnh. New Archaeological Finds in China, 1974, tr. 9-10.
9 theo sử Tàu ông thọ 90 tuổi còn theo sử ta thì thọ đến 121 tuổi (?)
10 前朝後寢. Theo kiến trúc cung điện đời xưa, phần trước gọi là “triều” là nơi vua họp với quần thần để
bàn việc nước, phía sau gọi là “tẩm” là nơi vua và thân tộc sinh hoạt, ăn, ở. Kiến trúc này cũng được tạo
dựng tông miếu và lăng mộ.
11  禾花雀
12 chuông đồng hình ống
13 chuông có núm để cầm
14 một loại nhạc khí cổ tương tự chiếc lục lạc, dùng trong tế lễ hay yến tiệc
15 Tạ Hồng Ba ( 謝洪波 ), Trung Quốc Lịch Đại Đế Vương Lăng Mộ Chi Mê (中國歷代帝王陵墓之謎-
Zhong Guo Li dai Di Wang Ling Mu Zhi Mi) (Cáp Nhĩ Tân: Cáp Nhĩ Tân xb xã, 2005) tr. 60
16 Đặc điểm của chiếc hộp bạc này là có chân, một kiểu dáng mà người Trung Hoa thời đó chưa thịnh
hành đủ biết nếu không phải là do người ngoại quốc mang tới thì cũng là do công nhân địa phương bắt
chước theo.
17 Ngày nay khi nói đến đỉnh chúng ta thường nghĩ đến một loại vạc có ba chân. Theo truyền thuyết, vua
Đại Vũ ( 禹 ) đúc 9 cái đỉnh lớn, trên có khắc sông núi cỏ cây để truyền cho hậu thế. Chỉ những ai tài đức
vẹn toàn mới làm chủ được những đỉnh này và nếu như bất xứng thì đỉnh sẽ qua tay người khác. Cái
đỉnh trở nên một biểu tượng của đức độ và những vì vua đời Hạ (1989-1766 B.C.), đời Thương (1766-
1122 B. C.), đời Chu (1122-221 B. C.) đều lấy việc truyền đỉnh coi như một kế thừa chính thống. Tuy
nhiên, người Trung Hoa chưa tìm được đỉnh nào có từ đời Hạ và những đỉnh của đời Thương, Chu tìm
được không phải là các đỉnh lớn như sử sách miêu tả.
18 Ở mặt sau của tấm gương có những chạm khắc hình chữ sơn 山 để thành hình tam giác, tứ giác, ngũ
giác, lục giác. Lối trang trí hình kỷ hà này ít thấy ở các đời sau.
19 Theo Tạ Hồng Ba trong Trung Quốc Lịch Đại Đế Vương Lăng Mộ Chi Mê (Cáp Nhĩ Tân, 2005) thì loại
gương đồng này là kiểu mẫu của nước Sở thời Chiến Quốc nhưng ngay trong các ngôi mộ của nước này
người ta cũng chỉ tìm được các loại kính có 3 chữ sơn, 4 chữ sơn. Đây là chiếc kính có 6 chữ sơn đầu tiên
tìm thấy mà lại ở một quốc gia khác.
20 thợ trong nhạc phủ chế tạo năm Văn Đế thứ 9 (129 TTL)
21 Lothar Ledderose, Ten Thousand Things tr. 158-9   
22 璧中之王
23 Maurizio Scarpari, Ancient China – Chinese civilization from its Origins to the Tang Dynasty (New
York: Barnes & Noble Books, 2000) tr. 181
24 Một ngôi mộ đào được ở An Dương, Hà Nam đời Thương có đến 90 người tuẫn táng bao gồm thê
thiếp và đầy tớ
25 The Han dynasty rulers, for example, are said to have spent one third of the state revenue on imperial
tombs. Lothar Ledderose, Ten Thousand Things, tr. 65.
26 Lothar Ledderose, tr. 159


PHỔ HỆ HỌ TRIỆU

Triệu Đà ( 趙佗 )
Nam Việt Vũ Đế ( 武帝 )
Tại vị 67 năm (203 TTL – 137 TTL)
|
Triệu Muội ( 趙眛 )
Nam Việt Văn Đế ( 文帝 )
Tại vị 16 năm (137 TTL – 122 TTL)
|
Triệu Anh Tề ( 趙嬰齊 )
Nam Việt Minh Vương ( 明王 )
Tại vị 10 năm (122 TTL – 113 TTL)
|
Triệu Hưng ( 趙興 )
Tại vị 1 năm (113 TTL)
|
Triệu Kiến Đức ( 趙建德 )
Tại vị chừng 2 năm (112 TTL – 111 TTL)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Diệp Bội Lan ( 葉佩蘭 ). Văn Vật Thu Tàng Giám Thưởng Từ Điển
( 文物收藏鑒賞辭典 ). Bắc Kinh: Đại Tượng xb xã, 2004.
2. Ebrey, Patricia Buckley. The Cambridge Illustrated History of China.
London: Cambridge University Press, 1996.
3. Không tác giả. New Archaeological Finds in China: Discoveries during the
Cultural Revolution. Peking: Foreign Languages Press, 1974.
4. Ledderose, Lothar. Ten Thousand Things: Module and Mass Production in
Chinese Art. NJ: Princeton University Press, 2000.
5. Mạc, Kiệt ( 莫杰 ) chủ biên. Quảng Tây Phong Vật Chí ( 廣西風物志 ). Quảng
Tây: Quảng Tây Nhân Dân xb xã, 1984.
6. National Palace Museum. Chinese Cultural Art Treasures. Đài Bắc: Quốc
Lập Cố Cung Bác Vật Viện, 1967.
7. Nhiều tác giả. Conference papers on Archaeology in Southeast Asia.
( 東南亞考古論文集 ) Hongkong: The University Museum and Art Gallery,
The University of Hong Kong, 1995.
8. Nhiều Tác Giả. Lịch Sử Văn Hoá Trung Quốc ( 中國文化史 ) 2 tập (Trần
Ngọc Thuận, Đào Duy Đạt, Đào Phương Chi dịch). Hà Nội: nxb Văn
Hoá – Thông Tin, 1999.
9. Đồng, Ân Chính ( 童恩正 ). Nam Phương Văn Minh ( 南方文明 ). Trùng
Khánh: Trùng Khánh xb xã, 1998.
10. Scarpari, Maurizio. Ancient China: Chinese Civilization from its Origins to
the Tang Dynasty. New York: Barnes & Nobles, 2000.
11. Tạ, Hồng Ba ( 謝洪波 ). Trung Quốc Lịch Đại Đế Vương Lăng Mộ Chi Mê
( 中國歷代帝王陵墓之謎 - Zhong Guo Li Dai Di Wang Ling Mu Zhi Mi).
Cáp Nhĩ Tân: Cáp Nhĩ Tân xb xã, 2005.
12. Tài liệu internet www.guangzhou.gov.cn
13. Thượng, Lung ( 尚瓏 ), Dương Phi ( 楊飛 ). Trung Quốc Khảo Cổ Địa Đồ
( 中國考古地圖 ) The Map of China Archaeology. Bắc Kinh: Quang Minh
Báo xb xã, 2004.
25
14. Vainker, Shelagh. Chinese Silk: A Cultural History. NJ: Rutgers University
Press, 2004.