Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt
Bố Cái Đại Vương (791)

"Năm Tân Vị (791) quan Đô Hộ là Cao Chính Bình nhà Đường (617- 907) bắt dân
đóng sưu thuế nặng quá, lòng người oán giận. Khi ấy ở quận Đường  Lâm (Sơn
Tây) có người tên là Phùng Hưng nổi lên đem quân về phá phủ Đô Hộ *. Cao Chính
Bình lo sợ thành bệnh mà chết.

Phùng Hưng đem quân chiếm giữ phủ thành, được mấy tháng thì mất.

Dân ta biết ơn lập đền thờ và tôn lên là Bố Cái Đại Vương, bởi vì ta gọi cha là bố,
mẹ là cái, nghĩa là tôn Phùng Hưng lên làm cha mẹ. "

* Nhà  Đường đặt ra An Nam Đô Hộ Phủ (một chức quan) để cai trị thuộc địa An Nam tức
Giao Châu, gồm 12 châu. Sau vua Đường lại đổi An Nam thành Tĩnh Hải, phong Cao Biền
làm Tiết Độ sứ.

Mãi tới thời nhà Tống, năm 1164 vua Tống mới đổi Giao Chỉ quận là An Nam Quốc và
phong cho vua Lý Anh Tông nhà Lý làm  An Nam quốc vương. (Việt Nam Sử Lược - Trần
Trọng Kim trang 60).

Sau đây là lịch sử oai hùng thời Lý Trần

Tìm hiểu thêm về Lịch sử thời Lý (1010-1225)

Theo Trần Trọng Kim, “Nhà Lý có công làm cho nước Nam cường thịnh, ngoài thì đánh
nước Tàu
, bình nước Chiêm,  trong thì chỉnh đốn việc võ bị, sửa sang pháp luật, xây vững
cái nền tự chủ”. Từ vua Cao Tông trở đi, nhà Lý suy yếu nên đã chuyển sang Nhà Trần.

Những việc làm quan trọng thời nhà Lý:

•        Năm 1010, vua Lý Thái Tổ cho dời đô từ Hoa Lư về La Thành (thành Đại La), và đổi
tên là Thăng Long, lấy cớ trông thấy rồng vàng hiện ra khi dời đô.

•        Năm 1018 cho thỉnh kinh Tam Tạng, làm chùa đúc chuông, tôn sùng đạo Phật.

•        Phong tước Vương cho các Hoàng tử, bắt cầm quân đánh giặc, nên ai cũng giỏi
nghề binh.

•         Việc chính trị, chia nước ra 24 lộ, đinh lại các hạng thuế và
giao cho các công
chúa trông coi việc trưng thu thuế.

•        Vua Lý Thái Tông đánh dẹp giặc Nùng.(1)

•        Năm 1054 vua Lý Thánh Tông đổi quốc hiệu là
Đại Việt.

•        Sửa đổi pháp luật, giảm hình phạt và đối xử nhân đạo đối với tù nhân.

•        Lập Văn Miếu thờ Khổng Tử và “khai hóa sự văn học” (Trần Trọng Kim).

•        Định lại việc binh, chia quân làm tả hữu tiền hậu 4 bộ, hợp lại là 100 đội, mỗi đội có
lính kỵ và lính bắn đá. Phiên binh lập thành đội riêng. Binh pháp nhà Lý bấy giờ được
nhà
Tống bên Tàu phải bắt chước.(2)

•        Mùa xuân Kỷ Dậu 1069 vua Lý Thánh Tông chiến thắng Chiêm Thành, bắt được
vua Chiêm là Chế Củ. Vua Chiêm xin dâng đất 3 châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính để
chuộc tội châu ấy nay ở địa hạt tỉnh Quảng Bình  và Quảng Trị).

•        Vua Lý Nhân Tông khởi đầu cho
đắp đê Cơ Xá để giữ cho kinh thành khỏi lụt.

•        Năm
1075 mở khoa thi tam trường đầu tiên ở nước ta.

•        Năm 1076 lập Quốc Tử Giám  và Hàn Lâm Viện.

•        Năm 1075 sai Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem 100 ngàn quân sang đánh nhà
Tống lấy cớ quân Đại Việt cứu vớt dân Tống
khỏi sự đàn áp của Vương An Thạch .

•        Năm 1076 Lý Thường Kiệt chặn đứng quân Tống xâm lăng ở chiến tuyến Như
Nguyệt (3).

•        Năm 1078 Lý Nhân Tông sai Đào Tôn Nguyên đưa Voi sang cống nhà Tống và đòi
lại đất Quảng Nguyên  (vùng Cao Bằng, Lạng Sơn bị quân Tống chiếm trong cuộc chiến
1076). Về việc này người Tống nghĩ đất Quảng Nguyên có nhiều  vàng, nên tiếc của nói:

“Nhân tham Giao Chỉ Tượng”
“Khước thất Quảng Nguyên kim”(4)

•        Năm 1164 vua Tống đổi Giao Chỉ quận thành An Nam quốc, phong cho Lý Anh Tông
là An Nam quốc vương.

•        Năm 1171 - 1172, vua Anh Tông cho làm quyển địa đồ nước An Nam. (6)

Chú thích:

(1) Năm 1038 Nùng Tồn Phúc làm phản, xưng là Chiêu Thánh Hoàng Đế, đặt quốc hiệu là
Tràng Sinh quốc.
Đến năm 1039 Thái Tông đi đánh bắt được Nùng Tồn Phúc và con là Nùng Trí Thông đem
về kinh xử tội. Nùng Trí Cao chạy thoát.
Năm 1041 Nùng Trí Cao về lấy châu Đảng Do lập ra nước gọi là Đại Lịch quốc. Thái Tông
sai tướng lên đánh, bắt được Nùng Trí Cao nhưng tha tội, còn cho làm Quảng Nguyên
Mục, sau lại phong tước Thái Bảo.
Năm 1018 Nùng Trí Cao lại phản, xưng là Nhân Huệ hoàng đế, quốc hiệu Đại Nam. Thái
Tông sai tướng Quách Thịnh Dật lên đánh, Nùng Trí Cao xin phụ thuộc vào nước Tàu,
nhưng vua Tống không cho. Nùng Trí cao bèn đem quân đi đánh Ung Châu và chiếm luôn
8 châu thuộc Lưỡng Quảng.

(2) Từ nhà Tiền Lê, nước Tống đã có ý kiêng nể nước Nam. Những cuộc xâm lăng  năm
991 và năm 1076 quân Tống đều bị quân Nam đánh bai. Không những thế, vua Tống đã
không dám làm gì trước sự kiêu ngạo của vua Lê Đại Hành khi cho quân đánh phá trấn
Như Hồng ở Quảng Tây, không vái lạy sắc thư của vua Tống và bắt sứ nhà Tống mang
công văn phải chờ đợi ở biên ải.

Đến thời nhà Lý, đại quân của Lý Thường Kiệt và Tôn Đản sang đánh Tống để phá âm
mưu xâm lược của Vương An Thạch, thì lúc đó vua Tống không nhịn nhục được nữa, đã
phải sai Quách Quì làm Chiêu Thảo Sứ, Triệu Tiết làm phó, đem 9 tướng quân cùng hội
với Chiêm Thành và Chân Lạp sang xâm lăng nước Nam. Nhưng Liên quân Tống Chiêm
Chân đã bị Lý Thường Kiệt chận đứng ở sông Như Nguyệt, và sau đó phải rút về chiếm
đất biên giới Quảng Nguyên,  vì hơn 8 vạn quân bị chết đến quá nửa do chiến tranh và
bệnh dịch.

Cũng vì khâm phục quân Đại Việt, Vua Tống đã nhiều lần toan mời quân nhà Lý sang tiễu
trừ dùm quân Nùng Trí Cao (chiếm 8 châu ở Quảng Đông, Quảng Tây).
Việc vua Tống bắt chước cách tổ chức quân sự của nhà Lý là đương nhiên, vì tuy Đại Việt
nhỏ bé nhưng cách tổ chức quân đội lúc đó tài giỏi hơn nhà Tống. Trần Trọng  Kim cho
rằng đó là sự vẻ vang cho nước mình cũng phải. Vua Tống không còn dám coi thường Đại
Việt nữa, cũng không còn coi Đại Việt như là một châu quận nữa, nên đến năm 1164 đã
đổi tên Giao Chỉ quận thành An Nam quốc và phong cho vua Lý Anh Tông làm An Nam
quốc vương.

(3) Trong chiến trận ở sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt đã viết 4 câu thơ bất hủ để khích
lệ tinh thần yêu nước của binh sĩ như sau:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư”
“Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”
“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm”
“Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”

Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm ?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!
Bản dịch: Trần Trọng Kim

Mountains and rivers of the    South
Belong to the southern Emperor reign
This was written down in the book of God.
How dare those barbarious  invade our soil?
They will surely defeat bittery!
(Bản dịch ra tiếng Anh trên Internet)

(4) Vì tham voi Giao Chỉ.
Mất đất vàng Quảng Nguyên

(5) Cuốn sách này đã bị thất lạc, không còn nữa.

Những anh hùng, danh nhân, danh tướng thời Nhà Lý

Lý Thánh Tông
(1064-1072): Là thái tử Nhật Tôn, con trưởng vua Lý Thái Tông (1028-
1054), mẹ là Kim Thiên Thái Hậu họ Mai, sinh ngàỵ 25 tháng 2 năm Quí Hợi (1023).
Thánh Tông là một ông vua nhân từ, hết dạ thương dân, khai mở văn học, tổ chức binh bị
tài giỏi, được nhà Tống bắt chước. Thánh Tông đổi tên nước là Đại Việt và  được Chế Củ
dâng 3 châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính của Chiêm Thành, mở rộng đất đai xuống phía
Nam. Thánh Tông làm vua được 17 năm, mất tháng 2 năm 1072, hưởng dương 50 tuổi.
(1028-1072).

Lý Thường Kiệt (1019-1105): Tức Ngô Tuấn, là danh tướng đại công thần 3 triều vua
nhà Lý: Thái Tông, Thánh Tông và Nhân Tông. Ông Kiêm tài văn võ, được vua Nhân Tông
coi là “Thiên tử nghĩa đệ” (em vua), có công đánh Tống, bình Chiêm, và là tác giả bài thơ
“Nam Quốc sơn hà” bất hủ, đời đời ai cũng kính phục. Lý Thường Kiệt mất năm 1105, thọ
86 tuổi.

Thái Hậu Ỷ Lan (?-1117): là vợ vua Lý Thánh Tông, mẹ vua Lý Nhân Tông, tên là Lê Thị
Ỷ Lan, xuất thân từ gia đình nông dân làng Thổ Lỗi (Bắc Ninh). Tương truyền, vua Thánh
Tông đi qua làng Thổ Lỗi, được dân chúng nô nức ra cung nghinh, riêng chỉ có mình Ỷ
Lan đứng dựa vào gốc Lan mà không ra. Thấy sắc đẹp của Ỷ Lan và tính kỳ lạ của nàng,
vua cho vời về kinh, sau trở thành Hoàng thái hậu. Bà Ỷ Lan rất thông minh, chỉ một thời
gian ngắn học hỏi trong cung đã thông hiểu cách tổ chức chính trị, triều đình và có tài trị
quốc.

Năm 1069, vua Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành,  bà Ỷ Lan được cử làm Giám quốc,
trông coi việc triều chính, đã giữ cho nước được yên ổn, mặc dù lúc đó đang gặp nạn đói
kém va giặc giã vài nơi. Dân chúng được bà Ỷ Lan ra lệnh phát chẩn cứu đói nên thường
gọi Bà là “Quan Âm”. Vua Thánh Tông đi đánh Chiêm lúc ban đầu không thành công, toan
quay về. Nhưng khi nghe tin Hoàng hậu Ỷ Lan có tài giám quốc, nghĩ mình không bằng
một người đàn bà, bèn quay lại đánh thắng quân Chiêm thu về đất đai cho Đại Việt.
Thái Hậu Ỷ Lan mất ngày 25 tháng 7 năm Đinh Dậu (1117). Nay có miếu thờ tại Hải
Dương, gọi là cung Quỳnh Hoa.*

Tô Hiến Thành (?-1179): Danh tướng nổi tiếng thời Lý Anh Tông, văn võ kiêm toàn, có
công dẹp giặc (Ngưu Hống) và đánh đuổi ngoại xâm (Ai Lao). Ông hết lòng sửa sang việc
chính trị và mở mang văn hóa (lập đền thờ Khổng Tử)., làm tới chức Thái Phó trong triều.
Ông Tô Hiến Thành còn là vị quan trung trực và thanh liêm. Ông đã thẳng thắn không
nhận 1 mâm vàng hối lộ của bà Thiên Linh Thái Hậu xin lập cho con bà là Long Xưởng lên
nối ngôi, và giữ đúng di chúc của vua. Ông cũng là người đoan chính trong việc đề cử
người thay mình, cốt có tài có đức chứ không nệ vào chỗ thân tình, hầu hạ. Ông mất vào
năm 1179. Sau khi ông mất không còn người tài giỏi giúp nước, khyên can vua, nên vua
Cao Tông đã bỏ bê triều chính, khiến nhà Lý từ đó suy yếu dần.

Tìm hiểu thêm về Lịch sử thời  nhà Trần (1225-1400)

Năm 1225 Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh tức Trấn Thái Tông. Lúc
đó cả hai còn nhỏ tuổi (8 tuổi), quyền trị nước đều do
Thái sư Trần Thủ Độ nắm giữ, lập
ra Nhà Trần, truyền được 175 năm với 12 đời vua:

Chiến thắng quân Nguyên Mông

Quân Mông Cổ hiếu chiến và hung bạo, có tài cưỡi ngưạ, bắn tên và tổ chức quân đội kỵ
mã, đánh chiếm nhiều nơi trên thế giới, diệt nhà Tống chiếm trọn nước Tàu và lập ra nhà
Nguyên.:

Năm 1257 sứ Mông Cổ sang bảo vua Trần Thái Tông thần phục. Thái Tông không chịu và
bắt giam sứ giả. Tướng Mông Cổ là Wouleangotai (Ngột Lương Hợp Thai) đem quân
chiếm Thăng Long, cứu sứ giả và giết hại người trong thành. Quân Nam phản công, thắng
trận Đông Bộ Đầu. Quân Mông Cổ thua  chạy, mỏi mệt, không còn sức cướp bóc, gọi là
“giặc Phật”.

Chiến thắng lần thứ nhất:

Năm 1282 vua Nhân Tông sai Trần Di Ái và phái bộ đi sứ thay mình, nhưng vua Nguyên
không chịu, giữ sứ thần lại và sai quan chức sang Đại Việt giám thị, bị vua Nam đuổi về.
Vua Nguyên tức giận, lập Trần Di Ái làm An Nam Quốc Vương và sai Sài Thung đem 1000
quân đưa về nước, nhưng  bị quân Nam đón đánh ở Ải Nam Quan. Sài Thung bị bắn mù
một mắt, bọn Trần Di Ái phải bắt đầy làm lính. Vua Nguyên tức giận, sai con là Thái Tử
Thoát Hoan làm Trấn Nam Vương, cùng các tướng giỏi Toa Đô, Ô Mã Nhi... đem 500 ngàn
quân sang đánh nước Nam, lấy cớ mượn đường đi đánh Chiêm Thành.

Chiến thắng lần thứ hai:

•        Tháng 10 Nhâm Ngọ (1282) vua Trần triệu tập Hội nghị Bình Than: Họp Vương Hầu
bàn kế chống giữ.

•        Tháng 10 Quí Mùi (1283), vua Trần phong Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm
Tiết Chế, thống lĩnh quân thủy bộ đánh giặc.

•        Tháng 8 Giáp Thân (1284), Hưng Đạo Vương họp các Vương Hầu, hội quân sĩ thủy
bộ, chia đi phòng vệ các nơi hiểm yếu.

•        Tháng 12 Giáp Thân (1284), quân Nguyên kéo tới biên ải. Vua Trần triệu tập Hội
Nghị Diên Hồng hỏi ý kiến Bô lão “nên hòa hay đánh?”. Tất cả cùng hô đánh.

•        Quân Nguyên chia ra 2 đạo quân: Một đạo do Toa Đô chỉ huy, theo đường biển
đánh Chiêm Thành với chủ ý sẽ đánh bọc hậu nước Nam theo thế gọng kìm từ Nam ra
Bắc. Đại quân Thoát Hoan vượt ải Nam Quan từ Bắc đánh vào.

•        Hưng Đạo Vương hội các Vương Hầu tại Vạn Kiếp, truyền “Hịch Tướng Sĩ” và bắt
tướng sĩ lo học Binh Thư Yếu Lược ngài mới soạn ra. (Hịch Tướng Sĩ là một bản hùng
văn). Kiểm điểm binh sĩ được hơn 200 ngàn quân.

•        Tháng giêng Ất Dậu (1285), Thoát Hoan chiếm Thăng Long. Quân Nam phải rút lui.
Vua Trần cũng rút về phía Nam. Ngày 21 tháng giêng Ât Dậu (1285), Bảo Nghĩa Vương
Trần Bình Trọng bị bắt ở bãi Đà Mạc, không hàng giặc và bị giết.(1)

•        Tháng hai (1285), vua Trần gả công chúa An Tư  (con gái út Trần Thánh Tông) cho
Thoát Hoan cốt ý làm “thư giãn nạn nước”.

•        Tháng tư (1285), quân Nam phản công. Trần Nhật Duật chiến thắng trận Hàm Tử
quan.

•        Ngày 3 tháng 5 Ất Dậu (1285), quân Nam thắng trận Trường Yên (Ninh Bình) và
Trần Quang Khải thắng trận Chương Dương độ, chiếm lại Thăng Long.

•        Ngày 20 tháng 5 năm Ất Dậu (1285), Hưng Đạo Vương chiến thắng trận Tây Kết,
chém đầu Toa Đô.

•        Tháng 6 năm Ất Dậu (1285), Hưng Đạo Vương cho phục binh đánh bại Thoát Hoan
ở bến Vạn Kiếp. Các tướng Nguyên là Lý Hằng, Lý Quán đều tử trận, và Thoát Hoan phải
chui vào ống đồng chạy trốn về Tàu. Nửa triệu quân Nguyên Mông xâm lược đã bị quân
Nam dưới quyền chỉ huy của Hưng Đạo Vương đánh đuổi tan tác ra ngoài bờ cõi.


Chiến thắng lần thứ ba:

•        Tháng 2 năm Đinh Hợi (1287) vua Nguyên khởi binh phục thù, cho đình chỉ việc đi
đánh Nhật Bản và huy động trên 300 ngàn quân cùng 500 chiến thuyền lại sang xâm lăng
Đại Việt, giả danh đưa Trần Ích Tắc về nước làm An Nam Quốc Vương. Trương Văn Hổ
được lệnh chở 700 ngàn thạch (2) lương theo sau tiếp tế. Lần nầy, Thoát Hoan vây đánh
chiếm Thăng Long nhưng thất bại.

•        Ngày 30 tháng 12 năm Đinh Hợi (1287), Thoát Hoan hội với Ô Mã Nhi mang đại quân
tấn công vào Vạn Kiếp. Hưng Đạo Vương rút quân về giữ Thăng Long.
Đấu năm Mậu Tí (1288) (?) Trần Khánh Dư thắng trận Vân Đồn, cướp phá đoàn thuyền
chở lương của Trương Văn Hổ.(3) Thoát Hoan lo sợ muốn rút vê Tàu.
•        Tháng 3 năm Mậu Tí (1288), Hưng Đạo Vương dùng lại mưu Ngô Quyền, đóng cọc
nhọn trên sông Bạch Đằng, chờ thủy triều lên, thuyền quân Nam ra khiêu chiến, nhử giặc
vào vùng sông đóng cọc.

•        Khi thủy triều bắt đầu rút, quân Nam phản công với đại quân tiếp ứng của Hưng Đạo
Vương. Ô Mã Nhi thua to: thuyền bị vướng cọc đắm ngả nghiêng, quân Nguyên chết
không biết bao nhiêu mà kể. Các tướng Nguyên Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ, Cơ Ngọc
đều bị bắt sống. Quân Nam thu được hơn 400 chiến thuyền và bắt được quân giặc rất
nhiều.

•        Thoát Hoan nghe tin thủy quân đại bại, bèn đem quân chạy trốn, gặp phục binh,
quân lính bị chết quá nửa. Các Tướng Nguyên như Trương Quân, A Bát Xích, Trương
Ngọc đều bị tử trận. Thoát Hoan trốn được về Tàu.

Chú thích:

(1)        Trần Bình Trọng (1259-1295) là một danh tướng đời Trần Nhân Tông. (Xin xem
tiểu sử trong phần ca vịnh anh hùng, danh tướng, danh nhân).

(2)        Thạch là đơn vị đo lường thời xưa, mỗi thạch có 10 đấu.

(3)        Mặt trận Vân Đồn có lẽ xảy ra vào đầu năm Mậu Tí (1288), vì theo Đại Việt Sử Ký
Toàn Thư, ngày 30 tháng 12 năm Đinh Hợi (1287) Thoát Hoan cùng Ô Mã Nhi họp 30 vạn
quân đánh vào Vạn Kiếp rồi thuận dòng xuôi về phía đông. Khi ấy thủy quân Nguyên đánh
vào Vân Đồn do tướng Trần Khánh Dư trấn giữ. Ban đầu, quân Nam không chống cự nổi
thủy quân của Ô Mã Nhi, nên Trần Khánh Dư bị Thượng Hoàng cho bắt về hỏi tội. Trần
Khánh Dư xin khất vài bữa để nghĩ mưu đái công chuộc tội. Sau vì Ô Mã Nhi ra đón thuyền
chở  lương, nhưng khinh địch bỏ vào bờ trước, nên Trần Khánh Dư đã phục kích đánh bại
tướng Trương Văn Hổ (Chỉ huy đoàn thuyền chở lương), cướp phá hết thuyền lương.

Những việc làm quan trọng
thời Nhà Trần

Ngoài cuộc chiến tranh với Nguyên Mông (trong 2 đời vua Thánh Tông và Nhân Tông),
nhà Trần đã làm những việc quan trọng như sau:

Đời vua Trần Thái Tông:

•        Lập sổ trướng tịch như nhà Lý, kê khai quan lại và thường dân. Con cháu nhà quan
mới được làm quan! (1)

•        Dân đóng thuế thân tùy theo số ruộng. Ai có một hai mẫu ruộng,
đóng một năm một quan tiền. Ai không có ruộng được miễn. Vàng bạc tiêu  dùng  trong
nước tính bằng phân, lượng đã đúc sẵn, có hiệu nhà nước.

•        Năm 1244 sai đắp đê hai bên bờ sông Hồng gọi là Đỉnh Nhĩ Đê. Quan coi đê gọi là
Hà Đê (chánh và phó sứ).

•        Năm 1232 mở khoa thi Thái Học Sinh (Tiến Sĩ). Đến năm 1247 đặt ra tam khôi:
Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Lại mở khoa thi Tam giáo Nho, Thích, Lão.


•        Năm 1253 lập Quốc Học Viện để giảng Tứ thư, Ngũ Kinh. Lập Giảng Võ Đường để
luyện tập võ nghệ.

•        Định lại pháp luật rất nghiêm khắc: trộm cắp đều bị chặt tay, chặt chân.

•        Chức tước quan lại được sửa sang. Vua  quan rất thân tình. Khi vua đãi yến, các
quan uống rượu xong thường nắm tay nhau múa hát rất thân mật.

•        Chỉnh đốn việc quân. Trai tráng ai cũng phải đi lính. Thân vương đều được quyền
mộ lính riêng, nhờ thế nước Nam có đủ lính đánh giặc Mông Cổ.

•        Năm 1252 vua Thái Tông ngự giá đi đánh Chiêm Thành được thắng lợi.

Đời vua Trần Thánh Tông:

•        Năm 1272 Lê Văn Hưu hoàn tất bộ quốc sử đầu tiên tên là Đại Việt Sử gồm 30
quyển (chép từ Nhà Triệu đến hết Nhà Lý) (2)

•        Thánh Tông bắt các Vương hầu, Phò mã chiêu tập những người nghèo đói lưu lạc đi
khẩn hoang làm trang hộ. Trang điền có từ đấy.

•        Phân quân ngũ ra làm Quân và Đô: 1 quân có 30 Đô, 1 Đô có 80 người, bắt tập
luyện luôn để  chống quân Nguyên Mông. (3)

•        Ông Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên) khởi đầu dùng chữ Nôm (chữ riêng của nước
Nam) làm thơ phú. (4)

Đời vua Trần Anh Tông:

•        Phạm Ngũ Lão đánh dẹp Ai Lao nhiều lần vì bị cướp phá ở biên giới.

•        Tháng 6 Bính Ngọ (1306), vua Anh Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm
Thành Chế Mân. Vua Chiêm dẫn cưới bằng hai châu Ô, Lý (Anh Tông đổi là Thuận Châu
và Hóa Châu).  

Đời vua Trần Minh Tông:

•        Cấm người trong họ thưa kiện nhau (1315), mở khoa thi Thái Học sinh (1323), bỏ
tục vẽ mình, và đánh Chiêm Thành.

Đời vua Trần Hiến Tông:

•         Lo đối phó với giặc Ngưu Hống và Ai Lao.

Đời vua Trần Dụ Tông:

•        Cuối đời vua Trần Dụ Tông, nhà Trần bắt đầu suy yếu: Vua hay rượu chè chơi bời,
bài bạc, xây cung điện, không lo việc triều chính. Bên ngoài dân đói khổ, giặc nổi lên như
ong...trong khi nịnh thần gian tướng đầy rẫy, khiến ông
Chu Văn An là một danh nho lúc
đó đang làm quan Tư Nghiệp dạy học trong triều, phải dâng
“Thất Trảm Sớ” xin vua chém
7 quyền thần gian nịnh để cứu nguy xã tắc.


Chú thích:

(1)        Trần Thủ Độ bắt những người họ Lý phải đổi thành họ Nguyễn, lấy cớ tổ nhà Trần
tên là Trần Lý.

(2)        Ông Lê Văn Hưu đỗ Bảng Nhỡn khoa thi năm 1247, khởi đầu soạn bộ Quốc Sử từ
đời vua Thái Tông.

(3)        Quân có thể ví như Quân Đoàn ngày nay. Theo phép phân chia như vậy, 1 Quân
có 2400 người. Hưng Đạo Vương kiểm điểm được 200 ngàn lính đánh giặc Nguyên, tức là
có trên 80 Quân Đoàn.

(4)        Ông Nguyễn Thuyên người làng Thanh Lâm, tỉnh Hải Dương, làm quan đời vua
Nhân Tông tới chức Hình Bộ Thượng Thư, có tài làm văn như ông Hàn Dũ bên Tàu ngày
xưa, nên vua cho đổi là họ Hàn. Cách làm thơ của ông Hàn Thuyên, gọi là Hàn luật.

* Nguyễn Quang Thắng, sách đã dẫn, trang 982.

(trích : Tuyển Tập Thi Nhạc Vịnh Sử Việt Nam - Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt 2007 - với đầy
đủ tên sách tham khảo)