Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt
DÂN TỘC KINH TẠI TRUNG QUỐC

Dân tộc Kinh (the Kinhs - the Jings – The Gins) là dân tộc chiếm đa số trong cộng đồng 56
dân tộc Việt Nam với hơn 70 triệu người. Tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa, dân
tộc Kinh chỉ là một dân tộc thiểu số trong cộng đồng 56 dân tộc.


















Với khoảng hơn 15.000 người (mười lăm ngàn người) tụ cư sinh sống trong ba hòn đảo
nhỏ là Vạn Vĩ (Wanwei), Ô Ðầu (Wutou) và Sơn Tâm (Shanxin) trong vùng tỉnh Quảng Tây
(giáp biên giới tỉnh Quảng Ninh - Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Hình ảnh cô gái
Việt hay Kinh tộc xinh đẹp với cái nón lá hình chóp đã được tài liệu hay bích chương du lịch
của Trung Hoa trưng lớn lên như mời mọc du khách quốc tế đến tỉnh với tỉnh Quảng Tây -
trấn tự trị Phòng Thành - huyện Đông Hưng – nơi có dân tộc Kinh sinh sống.

Nguồn gốc Kinh Việt tộc tại Trung Quốc

Kinh tộc - ngày xưa xưng là Việt tộc - là một trong những dân thiểu số của Trung Hoa. Kinh
Việt tộc chủ yếu nằm rải rác ở các địa khu của những dân tộc tự trị ở vùng duyên hải thuộc
khu Phòng Thành của tỉnh Quảng Tây. Theo thống kê 1982, Kinh Việt tộc có 11,995 nhân
khẩu. Hồi trước Kinh Việt tộc là một bộ phận của nòi Lạc Việt thời xa xưa, nhưng vào đầu
thế kỷ thứ 16, họ đã từ vùng Ðồ Sơn của Việt Nam hiện giờ lục tục di cư đến địa điểm bây
giờ, tụ cư trên ba hòn đảo nhỏ gọi là ba làng là Vạn Vĩ, Vu Đầu và Sơn Tâm thuộc huyện
Giang Bình nên người ta quen gọi là "Kinh tộc tam đảo."

Dân Kinh Việt tộc tam đảo vốn nói tiếng Kinh hay Việt và có một văn tự gốc gọi là chữ Nôm,
nhưng từ lâu họ cũng nói tiếng địa phương Quảng Châu và xử dụng Hán tự. Tuy nhiên, về
ngữ pháp, người Kinh Việt không nói ngược như dân Hán mà vẫn tuân theo ngữ pháp từ
xưa của người Việt.

Diễn biến quá trình định cư của dân Kinh Việt

Theo tài liệu bằng chữ Nôm mà người Kinh còn lưu giữ trong một ngôi đình của họ, tổ tiên
của Việt tộc tam đảo đã từ bãi Ðồ Sơn (tỉnh Hải Phòng Việt Nam) đến vùng đất này vào
năm Hồng Thuận vào cuối đời Hậu Lê tức là đời vua Lê Tương Dực (1510 - 1516), như vậy
dân Kinh hay Việt tộc đã sinh sống lập nghiệp trên đất Trung Hoa gần 500 năm.

Phong tục tập quán của dân Kinh Việt

Y phục của người Kinh rất đơn giản và thực tế. Phụ nữ ăn mặc theo cổ truyền với những
chiếc áo ngắn, không cổ, chẽn bó vào thân mình, cài nút phía trước, mặc những tấm quần
rộng nhuộm đen hay nâu. Khi ra ngoài, phụ nữ thường mặc thêm áo dài tay chật nhuộm
màu sắc nhạt hơn. Họ thích đeo khuyên tai, tóc rẽ ngôi ở giữa dùng vải đen hay khăn đen
bọc lấy và vấn xung quanh đầu. Dân quê còn đi chân đất. Còn đàn ông thì thường mặc áo
cộc để làm việc, cổ quấn khăn, nhưng khi có hội hè thì họ mặc những áo dài chùng tới gối,
hai vạt trước sau đối nhau và có giải quấn ở eo lưng.

Bây giờ người Kinh ăn mặc giống như người Hán láng giềng, mặc dù còn một số ít bà cụ
già còn giữ lối ăn mặc theo cổ tục và một thiểu số phụ nữ trẻ còn vấn tóc và nhuộm răng
đen vì vẫn còn tục ăn trầu, còn đàn ông thì đương nhiên ăn mặc thực tế theo hiện đại như
những dân lân cận khác.





















                       
Maxicard về dân tộc Kinh của Trung Quốc

Ăn uống

Về ẩm thực, dân Kinh Việt ăn cơm là chính, ngoài ra còn ăn khoai sắn, khoai sọ, thích ăn cá
tôm cua. Ngày Tết, họ thích ăn xôi chè (hỉ hoan cật nhu mễ phạn hòa nhu mễ đường chúc).
Họ làm nước mắm cá để chấm và nêm thức ăn.

Một điểm lý thú là dân Kinh Việt thích ăn hai món sau, ăn hoài không ngán: Ðó là "bánh đa"
bằng bột gạo có rắc mè nướng trên than hồng mà sách Tầu gọi là Phong xuy hỉ - bánh
phồng do gió thổi! - và "bún riêu, bún ốc" mà sách Hán tự ghi là Hỉ ty tức là sợi bún nấu với
canh cua và ốc.

Phong tục, tín ngưỡng và văn hóa

Nhà cửa của dân Kinh Việt thì thấp, làm bằng gỗ hay tre đan thành phên.

Phong tục hôn nhân thì một vợ, một chồng, thuở trước thì thường do cha mẹ hai bên xếp
đặt bao biện. Trai gái cùng họ và anh em cô cậu cấm lấy nhau.

Về tang ma thì chôn dưới đất.

Phần lớn dân Kinh Việt theo Phật giáo, cúng vái đủ thứ thần thánh và sùng bái tổ tiên.

Sinh hoạt văn hóa và văn nghệ

Dân tộc Kinh rất ưa thích lối hát đối đáp giao tình (antiphonal songs) nghe du dương và trữ
tình, kiểu như hát Quan họ hay hát đúm quen thuộc ở miền Bắc Việt Nam bây giờ. Lối hát
đúm hát đối này thường được dân Kinh long trọng diễn vào ngày Tết, ngày Hội.

Nhạc cụ cổ truyền của người Kinh gồm có đàn nhị (two-stringed fiddle), sáo trúc, trống,
cồng và đàn bầu (độc huyền cầm -single-stringed fiddle) là một nhạc khí chỉ riêng Kinh tộc
có mà thôi. Những truyện dân gian và cổ tích của họ rất nhiều. Những điệu múa ưa chuộng
của người Kinh là múa đèn, múa gậy sặc sỡ nhiều màu, múa rồng và múa y phục thêu thùa.

Dân tộc Kinh Việt có một kho tàng văn học dân gian truyền khẩu vô cùng phong phú với ca
dao, tục ngữ, truyện cổ tích trong đó truyện cổ tích mà người Kinh Việt hay kể nhất đó là
Truyện chàng Thạch Sanh (mà cái tên Lý Thông phản phúc trong truyện được gọi và cải lại
là Nguyễn Thông).

Ðàn kêu tích tịch tình tang,
Ai đem công chúa trên hang mà về!

Cái đàn "tích tịch tình tang" gẩy bằng que tre chính là cây đàn bầu nói trên.

Kinh tế của ba làng Kinh Việt

Dân Kinh Việt sinh nhai chính bằng ngư nghiệp, còn nông nghiệp là thứ yếu, ví dụ ở làng
Sơn Tâm thì 70% lợi tức của làng do ngư nghiệp, 27% do nông nghiệp còn lại 3% do các
hoạt động khác.

Quốc Việt – biên soạn theo tài liệu nước ngoài

(
Trich nguon: temvn.net)