Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Phong Tục Việt Nam Xưa và Nay
Mở đầu
Phong tục là thói quen diễn ra hàng ngày của một dân tộc. Thói quen có thể do bắt chước
nhau, lâu ngày mà thành, hoặc do hoàn cảnh địa dư, chế độ kinh tế chính trị hay chế độ
giáo dục mà thành. Thói quen cũng có thể do ảnh hưởng của những nền văn hóa nước
ngoài du nhập vào, được nhiều người tiêm nhiễm lâu ngày mà thành.
Phong tục hay thói quen có thể hay hoặc dở tùy theo thời gian. Tuy nhiên những thói quen
thuộc về đạo đức, cách đối xử nhân đạo và chan chứa tình người thường tồn tại mãi mãi. Ta
gọi đó là quốc hồn, quốc túy.
Phong tục của mỗi dân tộc trong một nước hay ở các nước khác, có nhiều điểm giống nhau,
cũng có nhiều điểm khác nhau. Ngoại trừ những thói quen phản đạo lý, gây phương hại đến
nền trật tự xã hội, tất cả phong tục tập quán của một một dân tộc đều có lý do riêng để tồn
tại.
“Muốn biết tục nào hay, tục nào dở thì phải xét tự gốc tích cái tục đó” (Phan Kế Bính).
Chúng ta tị nạn tại xứ người đã trên 30 năm. Văn hóa Đông Tây đã gặp nhau và đã có cơ
hội hòa nhập hay bác khước. Tìm hiểu về sự thay đổi thói quen của người Việt Hải Ngoại sau
hơn ba thập niên, là một thời gian không sớm lắm, cũng chưa trễ lắm.
Sau đây là những câu chuyện về thói quen thường xẩy ra ngoài xã hội và trong Cộng Đồng
Việt Nam tại Hải Ngoại, từ đó chúng ta cùng tìm hiểu thêm về phong tục tập quán của dân tộc
Việt Nam ngày xưa. “Thấy chuyện mới, ôn chuyện cũ” âu cũng là một việc làm hữu ích vậy.
“Phong Tục Việt Nam Xưa và Nay” là một chương trình nói chuyện trên Đài VAN – TV băng
tần 18.7 (đài địa phương) OC, LA và phụ cận.
Để các tiết mục thảo luận được hấp dẫn và thực tế, chúng tôi sẽ chia chương trình nói
chuyện ra thành nhiều tiết mục, bắt đầu là sinh hoạt ngoài Xã Hội, sau đến sinh hoạt trong
Cộng Đồng và cuối cùng là sinh hoạt trong Gia Đình.
Những lời bình luận của chúng tôi nếu có, chỉ là thiển ý. Chúng tôi mong được những nhà trí
thức, biết nhiều hiểu rộng bổ túc và chỉ giáo cho.
Song Thuận
Chủng tính tổng quát của người Việt:
- Sách Lộ sử ở đời Tống chép rằng: Việt Thường, Lạc Việt, Âu Việt, ...Tây Âu, ...gọi là
Bách Việt (1).
- Sách Hậu Hán thư, Địa lý chí chép rằng: “Từ Giao Chỉ đến Cối Kê trên bảy tám nghìn
dậm, người Bách Việt ở xen kẽ nhau đều có chủng tính.” (1)
- Theo sách An Nam Chí Lược của Lê Tắc: Đàn ông Việt lo làm ruộng, đi buôn (xa), Đàn
bà Việt lo nuôi tằm, dêt vải (đi buôn gần – buôn thúng bán mẹt, hàng rong). Tính tình hiền
hòa, hiếu khách, rộng rãi, có mưu trí, ham học, thật thà. có tục vẽ mình (Lã Tư Hậu có câu
thơ “Cộng lai Bách Việt văn thân địa” (cùng đi tới đất Bách Việt là xứ người vẽ mình). Ưa tắm
sông, chèo thuyền, bơi lội rất giỏi, thường không đội mũ, đứng vòng hai tay, ngồi xếp vòng
tròn (hoặc ngồi xổm). tiếp kiến bậc tôn trưởng quỳ xuống lạy 3 lạy. Tiếp khách đãi trầu cau.
Ưa ăn dưa, mắm và đồ biển. hay uống rượu (người gầy gò). Người già 50 tuổi được miễn
sưu dịch.
- Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim: Người Việt Nam thuộc loài (giống) da
vàng (làm lụng da ngăm đen, ở nhà da trắng ngà). Người tương đối thấp nhỏ, lăn lẳn, không
to béo, mặt xương xương hơi bèn bẹt, trán cao rộng, mắt đen hơi xếch, gò má cao, mũi hơi
tẹt, môi hơi dày, răng to (xưa đàn bà nhuộm đen), râu thưa, tóc đen, nhiều, hơi cứng và dài.
Dáng đi đứng nhẹ nhàng nhưng vững vàng chắc chắn. Áo quần dài rộng, đàn ông búi tóc,
khăn đống, áo mặc dài quá đầu gối, tay áo chật, ống quần rộng. Đàn bà (Bắc & Trung) đội
khăn, ở thành thị mặc quần, thôn quê mặc váy. Nam Trung Việt và Nam Việt, đàn bà mặc
quần, búi tóc. Trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo tay, sáng dạ, nhớ lâu, hiếu học, lễ
phép, đạo đức (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín là 5 điều đạo đức). Tuy nhiên đôi khi: Tinh (khôn) vặt,
quỉ quyệt, bài bác chế nhạo, nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn sự hòa bình (nuốn được yên
thân). Khi đi trận lại rất can đảm và giữ kỷ luật. Tâm địa nông nổi, làm liều, không kiên nhẫn,
hay khoe khoang, ưa trương-hoàng (khoa trương) bề ngoài, hiếu danh, thích chơi bời (ăn
chơi), mê cờ bạc, hay tin ma quỉ, sùng lễ bái, không nhiệt tình tôn giáo, kiêu ngạo, hay nói
khoác, có lòng nhân, thương người và nhớ ơn. Đàn bà hay làm lụng, đảm đang, khéo tay,
(chịu khó), trọng việc gia đạo, chiều chồng, nuôi con, giữ được tính nết tốt: tiết, nghĩa, cần,
kiệm. Phong tục thống nhất.
Mười điểm khác nhau về phong tục tập quán giữa người Việt và người Tàu:
Xưa, trước thời nhà Tần xâm lăng Bách Việt (214 Trước tây Lịch), nước Tàu chia thành 2
vùng Bắc – Nam theo tình trạng địa lý và khí hậu:
- Miền Bắc nước Tàu từ bờ phía bắc sông Dương Tử (Trường Giang) về phương bắc,
có giống Hán (bao gồm các nước Tần, Tấn, Tề, Vệ, Lỗ, Tống...), giống Mông Cổ, Mãn
Thanh, Tây Tạng...sinh sống. Khí hậu miền Bắc “lạnh lẽo, khô khan, cây cỏ thưa thớt,
phong cảnh tiêu điều, sản vật hiếm hoi”, đa phần là sa mạc và đồng cỏ, dân sống về nghề
chăn nuôi gia súc (du mục), trồng lúa miến và các loại nông phẩm chịu khô và lạnh, săn bắn,
cưỡi ngựa, dùng ngựa, lừa, lạc đà, trâu bò... và xe cộ (bánh xe tròn) làm phương tiện
chuyên chở.
- Miền Nam nước Tàu từ bờ phía nam sông Dương Tử về phương nam do các giống
dân Việt sinh sống (như Ngô Việt, Sở Việt, Bách Việt, Lạc Việt...), “khí hậu ấm áp, cây cỏ
xanh tươi, phong cảnh tốt đẹp, sản vật phong phú...”, nhiều núi, sông, hồ, trồng lúa nước,
đánh cá và hải sản, bơi thuyền, dùng thuyền và đòn gánh làm phương tiện chuyên chở.
Do sự khác biệt về địa lý và khí hậu, người Việt (phương nam) và người Tàu (phương bắc),
xưa có 10 điểm về phong tục khác nhau rõ rệt:
1- Người Việt cắt tóc ngắn, để đầu trần, đi chân đất (khí hậu nóng bức, đi trên đất bùn
trơn, bơi lội dễ dàng) - Người Tàu để tóc dài (theo đạo Khổng, tóc do cha mẹ sinh ra, không
được hủy hoại), đội mũ (nón), đi dày dép.
2- Người Việt nhuộm răng đen (thói quen) - Người Tàu để răng trắng.
3- Người Việt vẽ (xâm) mình (để tránh thuồng luồng giết hại) - Người Tàu không.
4- Phụ nữ Việt mặc váy (cái thúng mà lủng 2 đầu, bên Ta thì có, bên Tàu thì không)-
Phụ nữ Tàu mặc quần.
5- Người Việt mặc áo rộng và dài quá đầu gối - Người Tàu mặc áo bó sát và ngắn trên
đầu gối (giống áo cộc, áo bà ba).
6- Áo dài người Việt cài nút bên trái (tả nhậm) – Áo dài người Tàu cài nút bên phải (hữu
nhậm).
7- Người Việt thích ăn mắm (các loại mắm, chấm nước mắm) - Người Tàu không ăn mắm
(chấm xì dầu).
8- Người Việt thích ăn trầu (miếng trầu đầu câu truyện) - Người Tàu không.
9- Người Việt thường di chuyển bằng thuyền (ghe, tàu) - Người Tàu thường di chuyển
bằng ngựa và xe cộ.
10- Người Việt thích ngồi xếp vòng tròn, ngồi xổm (chồm hổm) - Người Tàu không (thích
ngồi ghế, buông thõng hai chân)
Ngày nay, người Việt sinh sống tại Hải Ngoại đa số đã mang theo một số phong tục tập quán
từ quê nhà sang. Tuy nhiên vì lối sống ở Mỹ , nhất là về phương diện pháp luật, có vài điểm
khác biệt, nên lúc ban đầu đã xẩy ra những sự hiểu lầm đáng tiếc:
- Phong tục tại VN về giáo dục trẻ em thường áp dụng kỷ luật “Yêu cho roi cho vọt”.
Điều này là phạm pháp tại Mỹ.
- Người Việt có thói quen “cạo gió”, nhất là đối với phụ nữ. Điều này gây hiểu lầm đàn
bà, trẻ em VN đã bị hành hạ (abused).
- Người Việt có thói quen ăn mắm tôm, cá mắm, nên tại một số chung cư, người Việt đã
bi dân địa phương khiếu nại.
- Người Việt bị mang tiếng (do lời đồn đãi lúc ban đầu mới định cư) là thích ăn thịt chó
mèo, nên hàng xóm khiếu nại, mỗi khi thất lạc chó mèo.
Ngày nay không còn những chuyện tương tự xẩy ra, vì người Việt Hải Ngoại có nếp sống
văn minh không thua kém gì cư dân địa phương.
Cách sinh sống của người Việt Nam xưa và nay:
Ngày xưa ở trong nước:
- Người Việt cổ thích sống gần ao hồ, bên dòng sông, làm nghề đánh bắt hải sản và
trồng lúa nước (ở dọc theo các dòng sông: phía nam sông Dương Tử (Bách Việt), dọc theo
sông Hồng, sông Thái Bình(Lạc Việt)....
- Thói quen sống quây quần thành làng xóm của người Việt
- Thói quen lập thành phường nghề (phường chèo, phường hát...)
- Thói quen lập thành phố buôn, phố nghề
Hà Nội 36 phố phường (ca dao Thăng Long thành)
Rủ nhau chơi khắp Long Thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai
Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai
Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Bài, Hàng Khay,
Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giầy
Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn,
Phố mới Phúc Kiến, Hàng Ngang,
Hàng Mã, Hàng Mắm, Hàng Than, Hàng Đồng.
Hàng Muối, Hàng Nón, Cầu Đông,
Hàng Hòm, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng Bè.
Hàng Thùng, Hàng Bát, Hàng Tre,
Hàng Vôi, Hàng Giấy, Hàng The, Hàng Gà
Qua đi tới phố Hàng Da
Trải xem phường phố thật là cũng xinh
Phồn hoa thứ nhất Long Thành
Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ.
Ngày nay tại Hải ngoại:
- Thói quen sống quây quần thành những Cộng đồng Việt Nam
- Thói quen nghe nhạc Việt và nói tiếng Việt
- Thói quen buôn bán cùng một loại hàng trên cùng một địa điểm: Hàng vàng, Nữ trang,
quần áo, quán ăn...trên phố Bolsa và trong Thương xá Phúc Lộc Thọ...
Lịch sử thành lậpLittle Sài Gòn
- Phỏng vấn Nha Sĩ Phạm Đình Tuân, người đã cư ngụ tại OC từ 1976 và có Phòng mạch
Dentistry tại khu phố Bolsa từ khi mới thành lập khu thương mại Phố Việt.
Bài vè Little Sai Gon:
“Bolsa, người Việt bán buôn
Lập thành khu phố Lít-tơn Sài Gòn.
Thủ đô Tị nạn đàng hoàng
Xen kẽ 10 tỉnh, cờ vàng tung bay
Oét-minh-tưa khởi từ đây
Săng-ta-ana, Gác-đân-gô này đủ ba
Hân-tinh-tân-bích, Cốt-ta-mê-sa
Phao-tân va-lây với Ơ-vai là bẩy nơi
Phu-lơ-tân, tỉnh xa xôi
A-na-hai, Sì-ten-tân kết một đôi thành mười!
Về đây nắng ấm ai ơi
Cali đến dễ, đi thời chẳng xong!
Trai có vợ, gái có chồng
Quê hương mới đó: Lít-tơn Sài Gòn.”