Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt
Phong tục về  ngày Tết Nguyên Đán

1-        Tổng Quát về Dương Lịch và Âm Lịch

Năm Mới Dương Lịch hay Tết Dương Lịch, “Tết Tây” bắt đầu vào ngày 1 tháng 1 Dương
Lịch. Đó là ngày đầu năm tính theo lịch Gregorian Calendar - do BS Aloysius Lilius nước Ý đề
nghị từ sự cải cách lịch  Julian Calendar. Lịch Gregorian Calendar  được sử dụng rộng rãi tại
nhiều quốc gia trên thế giới ngày nay, ngoại trừ Do Thái vẫn sử dụng lịch Julian Calendar,
ngày Tết sẽ rơi vào 14 tháng 1 Dương Lịch (theo lịch Gregorian Calendar).  Cũng nên biết
thêm lịch Julian Calendar là cải cách của lịch La Mã. Những năm sau thời gian này được ghi
chú bằng chữ AD (anno Domini) hay CE (Common Era - tiếng Việt dịch là Công Nguyên - CN).
Những năm trước thời gian này ghi là BC (Before Christ) hoặc BCE (Before the Common Era).
Những ghi chú này thường gặp trong sách Lịch Sử.

Khoảng 4000 năm trước (2000 năm trước Công Nguyên - BC), người Babylon cổ mừng ngày
đầu năm theo mặt trăng, tức là ngày bắt đầu “Trăng Mới”  (the first New Moon - thường vào
ngày đầu tiên thấy xuất hiện vành trăng non hình lưỡi liềm – đó là ngày đầu tiên của mùa
Xuân – Tương tự người Việt và người Tàu thường Cung Chúc Tân Xuân). Đây chính là ngày
bắt đầu mùa Xuân, ngày vạn vật hồi sinh sau những ngày đông tháng giá,  cây cối dâm chồi,
nẩy lộc, nở hoa…ngày bắt đầu vụ mùa trong năm.

Như vậy ngày Tết Dương Lịch không liên quan gì đến Thiên Văn Học hoặc mùa màng. Đó chỉ
là cách tính toán số học cho tròn 365 ngày hoặc 366 ngày trong một năm (Theo mặt trời nên
gọi là dương lịch, tính trung bình một cách chính xác, một năm có 365 ngày, 5 giờ, 49 phút, 12
giây).  Cũng theo lịch này, một năm chia ra 12 tháng với số ngày khác nhau như sau: Các
tháng 1,3,5,7, 8, 10, 12 có 31 ngày, còn tháng 4, 6, 9, 11 có 30 ngày. Đặc biệt tháng 2 có 28
ngày mà thôi và cứ sau 4 năm thì tháng 2 lại có 29 ngày, đó là “tháng nhuần” (vì 1 năm tính
tròn là 365 ngày, sẽ dư ra 6 giờ, cứ 4 năm thì dư ra 24 giờ tức là 1 ngày, do đó có tháng 2
nhuần để trang trải số giờ dư thừa đó.)

Đối với dân tộc Việt Nam (tương tự người Tàu), ăn Tết theo âm lịch, nên ngày đầu năm (Năm
Mới hay ngày “Tết” Nguyên Đán do chữ “Tiết” Nguyên Đán - Nguyên là đầu tiên, Đán là sáng
sớm) khác với Tết Dương lịch (thường trong khoảng 21 tháng 1 đến 21 tháng 2 Dương Lịch -
Mồng 1 Tết Kỷ Sửu rơi vào ngày 26 tháng 1 – 2009) và mỗi năm mang tên một con thú. Thí
dụ năm 2008 là Tết con Chuột (Mậu Tí), năm 2009 là Tết con Trâu (Kỷ Sửu)... (cách tính
ghép 10 Can với 12 Chi thành tên một năm:
Thập Thiên CanGiáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ
, Canh, Tân, Nhâm, Quý
với Thập Nhị Địa Chi12 con giáp: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ,
Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Theo cách ghép này, cứ  hết
1 vòng là 60 năm. Đối với
Dương Lịch, ngày và đêm cộng chung là 24 giờ. Nhưng đối với âm lịch, lại phân biệt “
đêm 5
canh, ngày 6 khắc”
(Đêm bắt đầu từ 7 giờ tối đến 5 giờ sáng tức là 10 tiếng đồng hồ. vậy
mỗi canh là 2 tiếng đồng hồ. Còn ngày bắt đầu từ 5 giờ sáng đến 7 giờ tối, tức là 14 tiếng.
Vậy mỗi khắc là 2 giờ 20 phút.)

Giờ  Tí  là  nửa  đêm “Nủa đêm giờ Tí canh ba”. Chính Ngọ là 12 giờ trưa.

Năm canh:

“Canh Một (7:00 PM-9:00 PM) dọn cửa dọn nhà
Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm
Canh tư bước sang canh năm
Trình anh dậy học thôi nằm mà chi
Một mai chúa mở khoa thi
Bảng vàng chói lọi kia đề tên anh…
Bõ công cha mẹ sắm sanh,
Sắm nghiên sắm bút cho anh học hành”. (ca dao)

Tuy rằng ta theo lịch Tàu và chịu ảnh hưởng văn hóa Tàu rất nặng nề, nhưng Triều Đình VN
xưa cũng có tòa Khâm Thiên Giám xem thiên văn làm lịch riêng, không phải hoàn toàn chép
theo lịch Tàu. Cũng vì thế, 12 con giáp của ta khác Tàu như: năm Mão hay mẹo là năm con
mèo (Tàu là năm con thỏ), Năm mùi là con dê khác Tàu (con cừu), năm sửu là con trâu, khác
Tàu (con bò). Các quan trong tòa Khâm Thiên Giám quan sát sao Bắc Đẩu, lấy khởi điểm ở
tháng Dần làm tháng Giêng, lúc chuôi sao Bắc Đẩu chỉ về hướng Dần, cho đến tháng 12,
chuôi sao Bắc Đẩu chỉ về hướng Sửu. Tết Ta và Tết Tàu khác nhau vào các năm 1985 (Tết
Ta vào 21 Jan., Tết Tàu vào 20 Feb.), năm 2007 (Tết ta vào 17 Feb. Tết Tàu vào 18 Feb.),
năm 2030 (Tết Ta sẽ vào 2 Feb. Tết Tàu sẽ vào 3 Feb.)…

Người Thái Lan ăn Tết (Songkran) theo Phật lịch, mồng 1 Tết vào ngày 15 tháng tư là ngày
Đức Phật đản sinh (ăn Tết từ 13-15 tháng tư AL và có tục tắm Phật và té nước vào nhau lấy
hên). Một số nước như Iran hoặc theo đạo Hindu ăn Tết vào tháng 3 DL. Năm Mới đối với
người theo đạo Hồi (ngày 1 Muharram theo lịch Hồi giáo)  thường sớm hơn Tết Dương Lịch
11 ngày.

Ngày Tết Dương Lịch thường tổ chức đốt pháo vào nửa đêm New Year's Eve (tương tự đêm
Giao Thừa Tết VN gây tiếng động đuổi tà ma) và tổ chức diễn hành vào sáng mồng một Tết
(Diễn hành Hoa Hồng  - Roses Parade tại Pasadena, California hàng năm. Cộng Đồng Việt
Hải Ngoại cũng tổ chức diễn hành tại khu Bolsa, thành phố Westminster). Ngoài ra, buổi sáng
mồng một Tết DL, mọi người thường chúc tụng nhau “Happy New Year”, uống rượu mừng
năm mới (uống rượu không được lái xe). Trong thời gian Lễ Giáng Sinh và ngày Tết DL dân
chúng thường đi “shopping” vì có nhiều hàng “sale”có khi tới “ 75% off” trong dịp này.

Ngoài phong tục đốt pháo mừng năm mới, còn có tục “countdown”, đếm ngược số từ 10 đến
1 trước giờ bước sang năm Mới, mở rượu “champagne” chúc mừng nhau.

•        Ngày Tết Dương Lịch tại Anh và Scotland có chơi football.
•        Tại Mỹ có Rose Bowl football game và Roses Parade tại Pasadena
•        Tại nước Áo (Austria) có hoà nhạc
•        Polar Bear Clubs có tục lệ tắm nước giá băng vào ngày Tết Dương Lịch (từ 1903).
•        Người theo đạo Hindu ăn Tết bằng cách tôn kính cha mẹ và người lớn tuổi.
•        Dân tộc H’Mông có cách tính lịch riêng (theo người Di Trung Quốc), ngày Tết là cuối
tháng 11, đầu tháng 12 âm lịch. Người H’Mông không đón Giao Thừa, nhưng đón Năm Mới
bắt đầu từ tiếng gà gáy đầu tiên sáng mồng một Tết. Nửa đêm 30, người H’mông cúng Ma
Nhà (Tổ Tiên) bằng heo sống, gà sống (gà trống còn tơ), sau đó mới giết thịt nấu ăn, uống
rượu, chờ gà gáy mừng năm mới.

Các món ăn của người H’Mông trong ngày Tết là: Thịt, rượu, bánh ngô (bắp).

2- Tết Nguyên Đán

a- Sửa soạn Tết

Mua Sắm Tết: Tết Nguyên Đán là ngày rất trọng đại nên người VN chuẩn bị ăn Têt rất kỹ
lưỡng, thường hàng tháng trước, có khi hàng năm trước (nhất là tại thôn quê), như:
-  Lá, lạt gói
bánh chưng (bánh tét trong Nam)
-  Nuôi
heo, gà đến Tết mổ thịt (nhà nghèo có thể chung nhau nhiều nhà một con heo gọi là
đụng thịt), vì thế,  ngày Tết nhà nào cũng có thịt heo, gà trong nhà:
“Số ông không giàu thì nghèo”
“Đêm ba mươi Tết thịt treo trong nhà”
Hay câu đối:
“Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ”
“Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”. (trong Nam thay dưa hành bằng dưa món và
thường có món thịt kho hột vịt, cá thu kho, bánh tét…
- Có nơi đi chợ Tết thường
mua 2 cây mía về để bên bàn thờ để làm gậy ông vải ...
-  Mua
vàng hương cúng Tết.
-  
Chợ Hoa: Mua hoa trưng Tết tại Chợ Hoa (Bắc hoa đào, Nam hoa Mai), hoa Thủy Tiên,
hoa Lan, Cúc Vạn Thọ Đại Đóa, chậu quít hay kim quất, Lay Ơn…tại chợ hoa như tại chợ hoa
Nguyễn Huệ ở Sài Gòn hay chợ Hoa gần khu Phúc Lộc Thọ tại Little Sài Gòn.
-  Mua sắm quần áo mới nhất là cho trẻ em
-  Mua tranh Tết như Tranh Đông Hồ, pháo, câu đối Tết do ông Đồ biết chữ Nho viết (xưa):

Ông Ð

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tầu giấy đỏ
Bên phố đông người qua.
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay!
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu!
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay.
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ? (Vũ Đình Liên -1936).

Câu đối Tết:

“Chiều ba mươi, nợ réo tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa”
“Sáng mồng một, rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.” (Nguyễn Công Trứ)

Tết tha hương, hương tàn khói lạnh, chạnh phút hoài hương
Xuân cố quốc, quốc phá gia vong, mong ngày phục quốc (Vương Sinh)


-
Mua thực phẩm đủ dùng cho 3 ngày Tết (hay nhiều hơn vì chợ và cửa hàng đều đóng
cửa có khi cả tuần lễ, sau khi chọn được này tốt mới mở cửa lại).
Cũng vì thế, chợ Tết rất đông:
đông như chợ Tết.

- Dọn dẹp sạch sẽ cửa nhà, bàn thờ, đánh bóng đỉnh đồng…

-
Dựng nêu (ở thôn quê, trên ngọn nêu buộc vàng mã, khánh bằng đất nung…) trễ nhất vào
30 Tết, rắc vôi bột, vẽ cung tên, bàn cờ  để đuổi tà ma, xác định nhà có chủ…

-
23 tháng chạp (tháng 12 âm lịch) lễ tiễn Ông Táo về Trời để tâu trình việc gia chủ, việc
thế gian...(Sự tích Táo quân hai ông một bà…Xưa có 2 vợ chồng nhà kia, vì người chồng phải
đi xa làm ăn, mãi không về. Người vợ tưởng chồng đã chết nên tái giá. Một hôm người chồng
cũ đi ăn xin qua nhà. Người vợ biết được, rất thương sót, lấy cơm cho ăn và quần áo cho
mặc. Chẳng may người chồng mới trở về. Người vợ sợ bị hiểu lầm nên dấu người chồng cũ
vào đống rơm rạ ngoài sân. Người chồng mới vô tình đốt rơm để làm phân bón. Người chồng
cũ chết cháy. Người vợ thương tâm nhẩy vào đống rơm cứu và bị chết. Người chồng mới
cũng nhẩy vào đống lửa cứu vợ và cũng bị chết cháy. Ngọc Hoàng biết chuyện 3 người có
nghĩa và chung thủy nên cho làm Vua Bếp hay Táo Quân)

-
Biếu Tết: Biếu Tết ông bà, cha mẹ, Thầy dạy học, Thày thuốc…“sêu” Tết nhà vợ chưa
cưới, biếu quà cho ân nhân hay người giúp việc (tương tự bên Mỹ thường tặng quà cho
Mailman…nhân dịp Giáng Sinh hay Tết Dương Lịch).

b- Đêm Giao Thừa, Lễ Trừ Tịch: Trừ là trao lại chức quan, tịch là ban đêm. Dân chúng tin
tưởng mỗi năm có một vị thần Hành Khiển và một phụ tá là Phán Quan trông coi việc thế gian,
và bàn giao công việc vào lúc nửa đêm giao thừa, sau 12 năm mới trở lại (có thần hiền và
thần ác, cúng lễ giao thừa thường bày ngoài sân.)

Người ta đi lễ rất đông (lễ giao thừa hoặc sáng mồng một Tết) tại Chùa ,
tại Lăng Ông  Sài
Gòn (
Lăng Tả quân Lê Văn Duyệt). Tại Little Sài Gòn, Orange County, người Mỹ gốc Việt
cũng có tục đi lễ Chùa, Nhà Thờ… Sau khi đi lễ Chùa về có tục hái lộc lấy hên đầu năm.

Có bao nhiêu ngày Tết trong  năm?

Dân tộc VN xưa kia đa số sống về nghề Nông, nên chỉ bận rộn cực nhọc trong những ngày
làm ruộng, làm vườn. Thường một năm có 2 vụ lúa đó là vụ Chiêm và vụ Mùa . Lúa Chiêm:
hay hoa màu gieo cấy ở miền BắcViệt Nam vào đầu mùa lạnh, khô (tháng mười, tháng mười
một) và thu hoạch vào đầu mùa nóng, mưa nhiều (tháng tư, tháng năm).  Lúa Mùa gieo trồng
vào mùa mưa từ tháng 5 và gặt vào tháng mười. Cũng vì thế, xưa ta ăn Tết hơi nhiều, nhất là
chịu ảnh hưởng văn hóa Tàu, chúng ta ăn Tết vừa theo phong tục ta, vừa theo phong tục
Tàu (ngày nay thêm phong tục Âu Tây?).

Tiết là tiếng Hán, có nghĩa là thời tiết, Lễ Tết, ta quen gọi là Tết. Như vậy những ngày lễ hội
đặc biệt trong năm có tụ họp ăn uống, lễ lạc đông người đều có thể gọi là “Tết”. Vậy ngoài
Tết Nguyên Đán vào ngày 1 tháng  giêng âm lịch, ta còn có nhiều ngày Tết khác trong một
năm.
Ngày nay người Việt đã bỏ nhiều ngày Tết theo Tàu, hoặc “Việt Nam Hoá” một số ngày Tết,
thí dụ ta không ăn Tết Khai Hạ, Tết Trùng Cửu, Tết Trùng Thập…và Tết Nguyên Tiêu thì gọi
là “Lễ Rằm Tháng Giêng”, Tết Đoan Ngọ gọi là ngày “giết Sâu Bọ”, Tết Trung Nguyên là
“Cúng Rằm tháng Bảy”, Tết Trung Thu là “Tết Nhi Đồng”… Tất nhiên ta không cần biết sự
tích của những ngày Tết đó (thí dụ sự tích về ông Khuất Nguyên tự tử ở sông Mịch La trong
ngày mồng 5 tháng 5, hoặc Giới Tử Thôi, hay vua Đường Minh Hoàng là ai…).

1- Tết Khai hạ:
(7 tháng giêng âm lịch)

Khai có nghĩa là mở, hạ là chúc tụng, cũng có nghĩa là rơi xuống, hạ xuống hay mùa hạ. Tết
khai Hạ vào ngày mồng 7 tháng giêng âm lịch, là ngày hạ cây nêu, cũng bắt đầu cho cuộc
chơi vui xuân thoải mái sau những thủ tục “bó buộc” theo phong tục ngày Tết. Xưa nước ta
đa số sống bằng nghề nông, nên 3 tháng đầu năm thường rảnh rỗi, chưa làm mùa chính:

Tháng giêng ăn Tết ở nhà
Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè”

Thật ra tháng hai nông dân còn trồng hoa mầu phụ như đậu, khoai, cà...

“Tháng Giêng là tháng ăn chơi
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà
Tháng ba thì đậu đã già
Ta đi mang hái về nhà phơi khô...”

Và phải bắt đầu tới tháng tư (tháng thứ 4), vào mùa hạ (cũng sắp bắt đầu vào mùa mưa ở
nước ta – mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10), lúc đó mới
bận rộn sửa soạn làm mùa tháng 5.

Tháng tư đi tậu trâu bò
Để ta sắp sửa làm mùa tháng năm
Sáng ngày đem lúa ra ngâm
Bao giờ mọc mầm ta sẽ vớt ra
Gánh đi ta ném ruộng ta
Đến khi lên mạ thì ta nhổ về
Sắp tiền mượn kẻ cấy thuê
Cấy xong rồi mới trở về nghỉ ngơi

Nghề nông vất vả lắm.  Cấy lúa xong mới chỉ là giai đoạn đầu. Còn phải lo làm cỏ, tát nước
vào ruộng…và gặt hái, phơi khô…

Cỏ lúa dọn đã sạch rồi
Nước ruộng vơi mười còn độ một hai
Ruộng cao đóng một gàu giai (gàu có dây cầm, 2 người tát)
Ruộng thấp thì phải đóng hai gàu sòng (buộc vào 3 cọc, một người tát)
Chờ cho lúa có đòng đòng
Bấy giờ ta sẽ trả công cho người
Bao giờ cho đến tháng mười
Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng ta
Gặt hái ta đem về nhà
Phơi khô quạt sạch ấy là xong công.

Như vậy: Tết khai hạ có nghĩa là Tết mở đầu một ngày vui để chào đón ngày xuân mới:
“Người giàu khai hạ, tớ khai bị
Hết rượu cho nên mới ngủ khì” (khuyết danh)
Hạ cây nêu là hết Tết, tuy nhiên nhà nông  lại bắt đầu mở hội hè đình đám từ ngày hạ cây
nêu để “chơi tiếp” cho tới hết tháng ba.

2- Tết Nguyên Tiêu (Rằm tháng giêng, Tết Thượng Nguyên)

" Đi Lễ quanh năm không bằng ngày rằm tháng giêng". Đó là ngày trăng tròn đầu tiên của
năm mới. Tết rằm tháng giêng hay Tết Thượng Nguyên được tổ chức tại chùa vì đó  cũng là
ngày vía Phật tổ Adiđà. Trong ngày này, thiện nam, tín nữ đi lễ rất đông.

3. Tết Hàn Thực
(Mồng ba tháng ba)

Hàn thực có nghĩa là đồ ăn nguội. Tết này từ bên Tàu truyền sang.
Thời Xuân Thu,  Vua Văn Công nhà Tấn khi còn hoạn nạn, đã được Giới Từ Thôi ủng hộ hết
mình. Khi vua đói quá, Giới Tử Thôi bèn cắt thịt đùi mình nấu cháo vua ăn. Sau 19 năm, Văn
Công về làm vua nước Tấn, đã ban thưởng cho mọi người từng giúp ông lấy lại nước, ngoại
trừ Giới Tử Thôi vua quên mất, lúc đó đang cùng mẹ cày cuốc trong núi Điền. Khi vua Tấn
nhớ ra, cho người vào mời, nhưng Giới Tử Thôi không chịu về cung. Vua ra lệnh đốt rừng, hy
vọng Giới Tử  Thôi sẽ ra. Nhưng ông đã cùng mẹ già chịu chết cháy. Vua vô cùng thương xót,
cho lập đền thờ trên núi. Mỗi năm vào ngày mồng ba tháng ba dân chúng lại tổ chức cúng
giỗ. Ngày hôm đó kiêng đốt lửa, nên ăn đồ nguội đã nấu sẵn từ hôm trước.
Từ đời nhà Lý, ta đã ăn Tết này với bánh trôi, bánh chay, thay cho đồ nguội và cúng Gia tiên
là chính. Ít người biết chuyện ông Giới Tử Thôi.

4. Tết Thanh Minh
(Mồng chín tháng ba)

Thanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh. (Nguyễn Du)

Thanh minh có nghĩa trời mát mẻ quang đãng. Vào dịp này, rất đông người đi thăm mồ mả
ông bà, Tổ Tiên, tạo ra cảnh sinh hoạt tấp nập ngoài nghĩa địa. Tết Thanh Minh là lễ tảo mộ,
phát quang bụi rậm, làm sạch cỏ, đắp đất mộ và thắp hương cúng vái ngoài mộ và ở nhà.

5. Tết Đoan Ngọ
(Mồng năm tháng năm)

Còn gọi là Tết Đoan Dương cho nên mới có câu thơ.
“Chưa ăn bánh Tết Đoan Dương
Áo bông chẳng dám khinh thường cởi ra.”
Theo âm lịch,  5 tháng 5 là ngày hết xuân sang hạ. Đây là thời gian thay đổi khí hậu nên dễ
mắc bệnh thời khí (Ta tin là có loài sâu bọ nhỏ bé hoành hành gây bệnh vào thời điểm này).
Ngày 5 tháng 5 theo truyền thuyết Trung Hoa là ngày giỗ của Khuất Nguyên - một thi sĩ danh
tiếng thời cổ,  cũng là một trung thần.
Khuất Nguyên (340 TCN – 278) khi còn làm quan đã can ngăn Sở Hoài Vương . Nhưng Hoài
Vương không nghe lại còn bỏ rơi ông. Đến đời vua sau, ông bị đày đi Giang Nam, đã phẫn
chí gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn. Dân Trung Hoa làm giỗ ông vào ngày 5 tháng 5 và
cúng bằng cách ném các loại bánh bao, bánh ngọt cuốn chỉ ngũ sắc xuống sông.
Bên ta ít người biết ông Khuất Nguyên, chỉ coi đây là Tết "giết sâu bọ" để phòng ngừa bệnh
tật (ăn rượu nếp, trứng luộc, bánh tro, cháo kê, bánh đa và trái cây chua..)  Ngoài ra còn
nhuộm đỏ móng tay bằng lá ngón (cây móng tay), bôi thuốc hồng hoàng cho trẻ sơ sinh, kết
lá ngải cứu hình rồng rắn để ngoài cửa…. Tết Đoan Ngọ đối với ta vừa có nghĩa là Tết giữa
năm, phòng bệnh trừ tà vừa là Tết “tưởng nhớ tổ tiên”.

6. Tết Trung Nguyên
(Rằm tháng bảy)

“Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt
Toát hơi may lạnh buốt xương khô” (Nguyễn Du)
Tết rằm tháng bảy có tên khác là Tết Trung Nguyên, c òn gọi là ngày "xá tội vong nhân". Do
đó, tại các Chùa thường tổ chức lễ Vu Lan. Còn tại các nhà thường dân thường bày cỗ cúng
gia tiên, đốt vàng mã và các đồ dùng bằng vàng mã.
Tại Hải Ngoại ngày nay, lễ Vu Lan còn là ngày nhớ Mẹ, một ngày Hiền Mẫu tương tự Mother’s
day của Mỹ. Trong ngày lễ Vu Lan, tại chùa có làm lễ tụng kinh và tổ chức “bông hồng cài áo”
gợi lòng biết ơn mẹ (Ai còn mẹ thì đeo bông hồng đỏ. Ai không còn mẹ, đeo bông hồng trắng).

7. Tết Trung Thu
(Rằm tháng tám)

Trung thu là ngày trăng tròn và sáng nhất trong năm. Đây là dịp để các em nhỏ vui chơi, nên
còn gọi là Tết Nhi Đồng hay Tết của trẻ em. Trong dịp này, người lớn cũng vui chơi, gọi là
“trông trăng” hay “thưởng nguyệt”.
Buổi tối Tết Trung Thu, các em rủ nhau mang đèn giấy thắp sáng đi rước khắp đường làng
thôn quê hay khắp phố phường…

“Tết Trung Thu rước đèn đi chơi
Em rước đèn đi khắp phố phường
Đèn ngôi sao với đèn cá chép…”

Vài nơi các em còn tổ chức “lên đồng” ở ngoài đường phố dưới ánh trăng với bài hát đồng
dao rất dễ thương.
Ngoài ra, các em  được cha mẹ bày cỗ gồm có ông Tiến Sĩ giấy, bánh Trung Thu (bánh
nướng hay bánh dẻo hình tròn), trái cây bóc sẵn như bưởi (nhuộm xanh đỏ), hồng…”Phá cỗ”
là trò chơi thú vị nhất trước khi cuộc vui tàn. Các em được ăn bánh, ăn trái cây…và các bậc
phụ huynh thì họp nhau ăn bánh uống trà thưởng trăng, chơi đèn kéo quân, nghe hát trống
quân hay xem múa lân…
Tết Trung Thu theo tích Tàu “Đường Minh Hoàng du nguyệt điện”, tức vua Huyền Tôn nhà  
Đường (mê nàng Dương Quí Phi) nằm mơ thấy được lên cung trăng thăm chị Hằng và bầy
Tiên Nữ múa hát… Khi tỉnh mộng, ông truyền lệnh cho dân gian làm bánh hình mặt trăng để
thưởng trăng mỗi năm, kỷ niệm giấc mơ “du nguyệt điện” của ông.
Tại Hải Ngoại, Tết Nhi Đồng được tổ chức hàng năm rất trọng thể tại nơi công cộng, có phát
quà bánh cho các em, tổ chức thi đèn đẹp và rước đèn, ca vũ thật vui.

8. Tết Trùng Cửu
(Mồng chín tháng chín)

Dân ta ít người biết tới Tết Trùng Cửu. Đây là ngày Tết bên Tàu từ thời đạo Lão còn thịnh
hành. Theo truyền thuyết, có người tên Hoàn Cảnh lên núi học phép tu tiên. Học mãi, đến một
hôm được Thầy dạy dặn dò rằng, về nhà mỗi người may một cái túi đựng đầy hoa cúc rồi lên
núi cao mà ẩn náu.
Quả nhiên ngày mồng 9 tháng 9 có mưa lớn, mặt đất bị ngập lụt, người chết rất nhiều. Riêng
gia đình Hoàn Cảnh được bình yên.
Nho sỉ nước ta (thời Lý Trần) theo tích đó, cũng đã tổ chức leo núi và uống rượu hoa cúc vào
ngày 9 tháng 9 gọi là thưởng Tết Trùng Cửu hay Trùng Dương.

9. Tết Trùng Thập (hay Song Thập là ngày lễ Quốc Khánh của THDQ – Đài Loan)
(Mồng mười tháng mười)

Song Thập là ngày lễ Quốc Khánh của nước Trung Hoa xưa (Trung Hoa Dân Quốc, ngày nay
còn tồn tại ở đảo Đài Loan…) Ngày 10 tháng 10 theo sách cổ Dược lễ, là ngày tụ được khí
âm dương, kết được sắc tứ thời Xuân Hạ Thu Đông, nên luyện thuốc rất tốt. Những thày
thuốc Đông Y thường ăn Tết Trùng Thập rất lớn.
Xưa ở nông thôn, vào thời gian này ta có lúa mới, gọi là Tết cơm mới, có bánh dày, chè kho,
gà luộc dùng cúng Tổ Tiên để mừng được mùa lúa.

10. Tết ông Táo
(Tết hai mươi ba tháng chạp)

Ca dao cổ có câu:
Thế gian một vợ một chồng
Chẳng như vua bếp hai ông một bà.

Hăm ba ông Táo dạo chơi xuân
Đội mũ mang hia chẳng mặc quần
Thượng đế hỏi rằng sao chướng vậy
Tâu rằng: Hạ giới nó duy tân.
(Trích từ Internet)

Về sự tích ông Táo, đã trình bày ở trên.