Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt
VIETCH-PAF
                                        Nhóm Thực Hiện Từ Điển Việt Nam Tại Hải Ngoại  






                                                                         ĐỀ NGHỊ   
                                                    
 THỐNG NHẤT CÁCH VIẾT  
                                         CHỮ QUỐC NGỮ







                                                                      HÙNG SỬ VIỆT  
                                                                     
  Xuất bản 2013




Thư ngỏ

Nhóm Thực Hiện Từ Điển Việt Nam Tại Hải Ngoại là tập hợp  một số người cùng quan tâm
đến việc bảo tồn và phát triển Việt Ngữ của dân tộc Việt Nam chúng ta.
Việt Ngữ là một phần rất quan trọng của nền văn hóa dân tộc: Đó là một sinh ngữ - có nghĩa
rằng nó vẫn còn đang được thêm hay bớt theo thời gian. Ngôn ngữ, nói chung, tùy vào môi
trường và thành phần dân chúng sử dụng sẽ khác biệt nhau.  Thí dụ: Ngôn ngữ dùng trên
đường phố hoặc giữa những thành phần băng đảng mà ta thường thấy trong những phim
ảnh xã hội, khác biệt với ngôn ngữ của các nhà  truyền thông hay những nhà  trí thức trong
văn học.

Vì vậy, mối quan tâm của Nhóm Thực Hiện Từ Điển Việt Nam Tại Hải Ngoại là cố gắng tìm
cách phát triển ngôn ngữ Việt theo chiều hướng lành mạnh và trong sáng bằng cách
khuyến khích không sử dụng ngôn từ đường phố quá thô thiển vào văn học, truyền thông,
chính trị hay văn nghệ như đang xảy ra tại Việt Nam.  

Trong chiều hướng nêu trên, Nhóm Thực Hiện Từ Điển Việt Nam Tại Hải Ngoại phát hành
tập sách “Đề Nghị Thống Nhất Cách Viết Chữ Quốc Ngữ” để góp phần vào việc truyền bá
Việt Ngữ trên khắp năm châu, đồng thời  dùng để hướng dẫn việc thực hiện một cuốn “Từ
Điển Ngữ Vựng Việt Nam Tại Hải Ngoại”, sẽ được phát hành vào thời gian sắp tới.
Với khả năng, kiến thức và thời gian giới hạn, quyển “Đề Nghị Thống Nhất Cách Viết Chữ
Quốc Ngữ” và “Từ Điển Ngữ Vựng Việt Nam Tại Hải Ngoại” có thể còn nhiều thiếu sót.
Chúng tôi ước mong được sự góp ý của quý vị độc giả quan tâm đến nền Việt Ngữ của dân
tộc Việt Nam chúng ta. Chúng tôi cũng mong rằng chúng ta cùng đồng ý với nhau về một số
nguyên tắc, ngõ hầu tiếng Việt được phát triển theo chiều hướng của một nền văn hóa
hoàn hảo.

Nhóm Thực Hiện Từ Điển Việt Nam Tại Hải Ngoại
Nam California, tháng 9 năm 2013


Lời Tựa

Nước Việt Nam chưa có một Hàn Lâm Viện để quy định những chuẩn mực cho việc sử dụng
chữ quốc ngữ. Trong Đại Hội Giáo Dục toàn quốc của nước Việt Nam Cộng Hoà được Bộ
Quốc Gia Giáo Dục triệu tập vào năm 1958, Tiểu Ban Quốc Văn đã đề nghị dùng cuốn Việt
Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức làm khuôn thước cho chính tả học đường, tuy tiểu
ban nhìn nhận rằng cuốn tự điển này vẫn còn khiếm khuyết. Từ ngày đó tới nay, đã có biết
bao tự điển xuất bản ở trong nước và hải ngoại. Tuy nhiên vẫn chưa có cuốn tự điển nào có
đủ tầm vóc để thay thế cuốn Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức (2/5/1919-
24/9/1945) xuất bản từ năm 1931 tại Hà Nội. Tính đến nay, tuổi thọ của cuốn Việt Nam Tự
Điển đã được 82 năm. Sở dĩ Việt Nam Tự Điển được cả nước dùng trong một thời gian dài
như vậy là bởi đây là một cuốn tự điển có giá trị, được soạn thảo bởi các nhà cổ học lẫn tân
học rất có uy tín. Ban Biên Soạn gồm có: Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Bùi Kỷ, Trần
Trọng Kim, Nguyễn Văn Luận, Dương Bá Trạc, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, Phạm
Huy Lục, Đỗ Thận. Sách dầy 663 trang. Nhà xuất bản Trung Bắc Tân Văn đã chia sách ra
và in làm 4 tập, mỗi tập dầy khoảng 160 trang dễ cho độc giả góp ý sửa chữa hoàn chỉnh
rồi mới cho in toàn tập.
                                 
Từ 1931 tới nay, đất nước đã trải qua biết bao biến thiên về chính trị cũng như về văn học.
Hết Pháp đến Nhật, hết Nhật đến Tàu Tưởng (từ vĩ tuyến 16 trở ra), Anh, Ấn (từ vĩ tuyến 16
trở vào). Rồi Pháp trở lại thay Tàu, Anh, Ấn đưa Việt Nam vào khói lửa chiến tranh ròng rã 8
năm trời. Hội Nghị Geneva kết thúc, chiến tranh đã qua phân đất nước đưa một triệu người
miền Bắc tỵ Tần vào Nam. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Bắc hoàn tất cuộc xâm lăng
miền Nam, đẩy cả mấy trăm ngàn người rời bỏ quê hương đi tìm tự do. Văn học Việt Nam
cũng chịu ảnh hưởng nặng nề của những diễn biến chính trị. Sau Tự Lực Văn Đoàn, chính
quyền Việt Minh nhập cảng những tư tưởng ngoại lai với Văn Học Khái Luận của Đặng Thái
Mai, với Đề Cương Văn Hoá Việt Nam, Chủ Nghĩa Mác và Văn Hoá Việt Nam của Trường
Chinh. Nhiều từ ngữ mới và khái niệm mới xuất hiện như: Trung với nước, hiếu với dân,
trường kỳ kháng chiến, tam vô nhị các, tính chiến đấu, tính giai cấp, tính dân tộc, tính hiện
thực, tính nghệ thuật, tính đảng, nhất trí, khẩn trương, tố gian, tố điêu. Cuộc cải cách ruộng
đất, phong trào Nhân văn Giai phẩm ở miền Bắc, phong trào Tố Cộng ở miền Nam cũng đã
ảnh hưởng sâu xa tới văn học Việt Nam. Sự phát triển khoa ngữ học, kỹ nghệ sản xuất máy
vi tính, sự bùng nổ thông tin đã làm giàu cho văn học Việt Nam vào cuối thế kỷ XX và đầu
thế kỷ XXI vô kể. Cùng với sự tiếp thu cả về tư tưởng lẫn ngữ vựng vô tổ chức và chưa kịp
tiêu hoá đó, người Việt Nam hơn bao giờ hết cần phải thống nhất chữ nghĩa, về nghĩa cũng
như về chữ viết.    
                             
Vô hình trung mà chúng ta gặp lại điều khẩn cấp thứ tư (Chỉnh Đốn Học Pháp) trong Tế
Cấp Bát Điều mà học giả Nguyễn Trường Tộ (1827?-1871) đã điều trần lên vua Tự Đức.
Nhà học giả này đề nghị bỏ cái học từ chương, chuộng cái học kỹ thuật thực dụng. Nguyễn
Trường Tộ cũng đề nghị dùng quốc âm, lấy chữ Hán đọc ra quốc âm. Từ đó, ông đề nghị
phải thống nhất chữ viết, phải có tự điển làm chuẩn mực cho chữ quốc âm.

Cuốn sách quý vị cầm trên tay không có tham vọng áp đặt mọi người phải theo những
chuẩn mực đề nghị để thống nhất cách viết chữ quốc ngữ. Đây chỉ là những gợi ý, những
thâu lượm, những đề nghị về một số quy tắc để dùng làm căn bản thảo luận hầu đi đến mục
đích trên. Công cuộc này đòi hỏi sự tiếp tay góp sức của nhiều người Vịệt Nam thành tâm
thiện chí khắp nơi trên thế giới. Chúng tôi với tấm lòng thành thiết nghĩ rằng thà thắp một
ngọn nến nhỏ, còn hơn là ngồi trong bóng tối mà nguyền rủa, nên đã không quản tài sơ trí
thiển mạo muội soạn tập sách này, mong được quý bậc cao minh chỉ dậy, hướng dẫn, để
lần tái bản được hoàn mỹ hơn, chúng tôi xin tri ân quý vị.
                                                
Ngày 10 tháng 11 năm 2013.
                                      
Lưu Trung Khảo.                                                   
Chủ tịch Hội Ái Hữu Cựu Giáo Chức Việt Nam tại Hải Ngoại


Introduction

      One could comment that a book of this type is way long overdue for an expatriate
community, like that of the Vietnamese refugees living in the United States since the late
seventies. Nevertheless, in the spirit of “better late than never”, congratulations are in order
for a project pioneering in an attempt to systematize Vietnamese orthography, to be used as
a source of reference by those who speak or learn the language outside Vietnam.

      This book, conceptually a prelude to a much bigger, upcoming project—The
Vietnamese Vocabulary Dictionary—is the collective work by a group of Vietnamese
professionals, scholars and writers in the Unites States. Entitled Unifying How to Write
Vietnamese—Suggestions for Five Spelling Conventions, the book is a detailed, elaborate
compilation of spelling rules and additional information about the Vietnamese language. The
core of the book is a set of suggestions for spelling rules based on frequent usage by
Vietnamese teachers and writers living abroad. Specifically, the five spelling conventions
suggested by the authors include the following major topics: (i) the pronunciation of vowel
and consonant letters and the method of synthetic phonics; (ii) the rules of placing accent
marks in words; (iii) the rules of capitalization of proper nouns and phonetic transcription of
foreign names; (iv) the rules of using y and i; and (v) the rules of using punctuations and the
methods of distinguishing tone marks and syllable structures. Each of these topics is further
divided into subcategories, accompanied by specific examples.

      Of no less importance, however, are the sections of appendices and additional reading
materials that provide linguistic, historic, pragmatic and cultural information about the
Vietnamese language. The appendices include definitions of Vietnamese grammatical terms,
common figures of speech, definitions and usage of everyday vocabulary, and a list of
words that usually cause common spelling mistakes. The additional materials, taken from
various sources of reference, consist of a table of alphabetized standard and regional
spellings; a discussion of misuse—or abuse—of words by careless speakers and writers in
modern Vietnamese; a contrastive table of alphabetized vocabulary used in Vietnam and
abroad; an article on the Southern Script, its formation and usage in old literature; and an
article on a form of old Vietnamese writings and their arguable origin.    

       As its title clearly indicates, this book is to be used primarily as a source of reference.
The conventional rules suggested in it may not necessarily be agreed upon by every
Vietnamese speaker, scholar or writer. At any rate, this type of work can still be utilized as a
helpful tool for reference and/or future research. Any disputable point presented in the book
is nothing but eloquent evidence to the three fundamental characteristics of orthography in
any language of the world: arbitrariness, conventionality and imperfection.

                                      
Tri C. Tran, Ph.D.
University of  California, Irvine  



              .                                               
Cám ơn

Trân trọng cám ơn:
Quý vị Mạnh Thường quân bảo trợ in sách & Hội Đoàn:
- BS Đinh Thái Sơn, Kỹ Sư Đinh Văn Oanh, Nguyễn Anh Tài (Nhà Giáo), BS Nguyễn Song
Anh Tú, Ông Bà Nguyễn Ngọc Sơn, GS Ngọc Loan.

- Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ, Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, Câu Lạc Bộ Hùng Sử
Việt, Hội Ái Hữu CHS Bưởi - Chu Văn An, Hội Ái Hữu CNS Gia Long, Hội Ái Hữu CNS Trưng
Vương, Hội CHS Petrus Ký, Hội CNS Lê Văn Duyệt, Hội CHS Nguyễn Trãi, Hội Dược Khoa
VN.

- Viết lời tựa, giới thiệu sách, đóng góp bài vở và tổ chức buổi RMS (Ra Mắt Sách): GS Lưu
Trung Khảo, GS Trần Chấn Trí, GS Trần Huy Bích, GS Nguyễn Đình Cường, Nhà Giáo
Nguyễn Quốc Định, KS Trần Văn Giang, KS Trần Việt Bắc, TS Phạm Kim Long, TS Thy
Dung, TS Âu Vĩnh Hiền, GS Dương Ngọc Sum, KS Cao Sinh Cường, Nhà Giáo Nguyễn Văn
Khoa, Nhà Giáo Đặng Ngọc Sinh, Nhà Văn Bích Huyền, Nhà Văn Lê Anh Dũng, KS Phạm
Ngọc Lân, Bửu Trâm, Phương Lê, Ngọc Vân, Quỳnh Hoa, Trần Kim Ánh, DS Nguyễn Đức
Năng, DS Thu Cúc, DS Nguyễn Mạnh Hiền (B), KS Bùi Đức Uyên, Nhà văn Cao Nguyên,
Nhà Giáo Nguyễn Minh, Phạm Gia Đại, Hà Phương Hoài, KS Phạm Triệu, Đặng Quỳnh, Nhà
Nghiên Cứu Trang Đài…  và toàn thể quý vị cùng quý anh chị trong Nhóm Thực Hiện Từ
Điển Việt Nam tại Hải Ngoại và Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt, đã đóng góp công sức và ý kiến
qua nhiều buổi họp Từ Điển, cũng như tổ chức buổi RMS: tập tài liệu “Đề Nghị Thống Nhất
Cách Viết Chữ Quốc Ngữ”.

Tập tài liệu này sẽ được biếu tặng quý thầy cô giáo dạy Việt Ngữ, các Thư Viện, các cơ
quan truyền thông, báo chí, truyền thanh, truyền hình và quý vị thức giả thường xuyên  
quan tâm  đến nền Văn Hóa Việt Nam tại hải ngoại.

Trân trọng,
TM. Nhóm Thực Hiện Từ Điển Việt Nam Tại Hải Ngoại
Song Thuận
(Ngày 15 tháng 8 năm 2013)

Mục Lục

Thư Ngỏ
Lời Tựa
Introduction
Cám ơn
Mục Lục
Tổng quát.............................................................................. 3
Quy ước I-  Cách phát âm và đánh vần................................. 5
Quy  ước II-  Cách đánh dấu.................................................7
Quy ước III Cách viết hoa và  phiên âm tên người.............. .9
Quy ước IV Cách viết y dài và i ngắn................................. 11
Quy ước V  Vị trí các dấu câu..............................................13
Phụ bản 1: Định nghĩa cơ bản và chữ viết tắt...................... 21
Phụ bản 2: Mỹ từ pháp........................................................ 25
Phụ bản 3: Định nghĩa một số chữ mới............................... 27
Phụ bản 4  Phân biệt TR và CH........................................... 33
Phụ bản 5: Phân biệt S và X................................................ 39
Phụ bản 6: Phân biệt d, gi và r............................................. 47
Tài liệu đọc thêm 1:
Bảng chính tả và biến âm hoặc địa phương......................... 59
Tài liệu đọc thêm 2:
Tiếng Việt Cùn....................................................................111
Tài liệu đọc thêm 3:
Bảng Đối Chiếu Từ Ngữ.....................................................173
Tài liệu đọc thêm 4:
Quốc Văn Giáo Khoa Thư - Lớp Đồng Ấu........................ 181

Đề nghị 5 quy ước viết chữ Quốc Ngữ

Tổng quát:

Tiếng Việt ký âm bằng "chữ cái" La Tinh, gọi là chữ Quốc Ngữ, được sáng chế cách nay
hơn ba trăm năm, do công trình của nhiều vị giáo sĩ Công Giáo và một số người Việt Nam
phụ giúp. Trong số những giáo sĩ người ngoại quốc, Linh Mục Alexandre de Rhodes có
công nhất. Trong số những học giả Việt Nam có công truyền bá chữ Quốc Ngữ, ta phải kể
tới quý ông Huỳnh Tịnh Của (1834-1907), Trương Vĩnh Ký (1837-1898), Phan Kế Bính
(1875-1921), Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), Trần Trọng Kim (1883-1953), Phạm Quỳnh
(1892-1945), Dương Quảng Hàm (1898-1946)...

Sau khi các kỳ thi bằng chữ Hán cuối cùng bị hủy bỏ vào năm 1919, chữ Quốc Ngữ càng
ngày càng phát triển mạnh mẽ, để trở thành chữ viết duy nhất của người Việt Nam ngày nay.

Nhiều bằng chứng cho thấy người Lạc Việt cổ ở Quảng Tây đã có chữ viết riêng trước khi bị
người Tần, Hán đô hộ.  

Sau gần một ngàn năm học chữ Hán (chữ Nho), người Việt đã sáng tạo ra chữ Nôm. Vì chữ
Nôm phụ thuộc vào chữ Hán, khó học nên ngày nay ít người biết đến.
Như vậy, tiếng Việt đã được ký âm bằng nhiều thứ chữ, ít ra là hai: Chữ Nôm và chữ Quốc
Ngữ.

Từ trước đến nay, học chữ Quốc Ngữ thường căn cứ vào sách giáo khoa và sự giảng dạy
của Thầy Cô. Nước ta chưa có Viện Hàn Lâm về Ngôn Ngữ, nên chưa có những quy luật rõ
ràng về cách viết chữ Quốc Ngữ.

Vì vậy, "vấn đề thống nhất cách viết chữ Quốc Ngữ" đã trở thành quan trọng, thôi thúc
nhiều người quan tâm đến cách viết chữ Quốc Ngữ, cố gắng suy nghĩ và đề nghị cách giải
quyết.

Bản "đề nghị 5 quy ước viết chữ Quốc Ngữ" sau đây, chính là một trong những đề nghị giải
quyết kể trên (1).

Như thường lệ, kính xin quý vị độc giả lượng thứ cho  những điều sai sót.

Gia Định báo, tờ báo tiếng Việt đầu tiên
dùng chữ Quốc ngữ, ra mắt năm 1865.
Học Giả Huỳnh Tịnh Của (1834-1907) làm chủ bút
(Hình trích trên Internet)

5 quy ước căn bản

Quy ước I-  Cách phát âm và đánh vần:  

1a- Cách phát âm những nguyên âm: A/a (a), Ă/ă (á), Â/â (ớ), E/e (e), Ê/ê (ê), I/i (i – i
ngắn), O/o (o). Ô/ô (ô), Ơ/ơ (ơ), U/u (u), Ư/ư (ư). Y/y (y-gờ-rếch – y dài)

1b- Cách phát âm những phụ âm đơn và phụ âm ghép: (Phát âm theo thứ tự kiểu cũ và
kiểu mới): B/b (bê – bờ), C/c (xê – cờ), D/d  (dê – dờ), Đ/đ (đê – đờ), G/g (giê – gờ), H/h
(hát – hờ), K/k (ca – cờ), L/l (e-lờ – lờ), M/m (em-mờ – mờ), N/n (en-nờ – nờ), P/p (pê – pờ),
Q/q (cu – cờ), R/r (e-rờ – rờ), S/s (ét-s – sờ), T/t (tê – tờ), V/v (vê – vờ), X/x (ích-xì – xờ);  
CH/ch (xê-hát – chờ), GH/gh (giê-hát – gờ), GI/gi (giê-i – giờ), KH/kh (ca -hát – khờ), NG/ng
(en- giê – ngờ), NGH/ngh (en-giê-hát – ngờ), NH/nh (en-hát – nhờ), PH/ph (pê-hát – phờ),
QU/qu (q-u – quờ), TH/th (tê-hát – thờ), TR/tr (tê-e-rờ – trờ).

1c- Cách đánh vần:
- Đánh vần theo kiểu cũ: Thí dụ chữ "Chân": C-h-â-n-nờ  = chân. (Xê-hát-ớ-chớ-en-nờ-chân
= chân)
- Đánh vần theo kiểu mới: Chờ-ân = chân.
(Chờ-ớ-chớ-en-nờ-chân = chân).

1d- Bảng chữ cái Quốc Ngữ:
(1) a, (2) ă, (3) â, (4) b, (5) c, (6) ch, (7) d, (8) đ, (9) e, (10) ê, (11) g, (12) gi, (13) gh, (14)
h, (15) i, (16) k, (17) kh, (18) l, (19) m, (20) n, (21) ng, (22) ngh, (23) nh, (24) o, 25) ô, (26)
ơ, (27) p, (28) ph, (29) q, (30) qu,  (31) r, (32) s, (33) t, (34) th, (35) tr, (36) u, (37) ư. (48)
v. (39) x, (40) y.

1e- Các dấu chữ Quốc Ngữ:
sắc (ʹ), huyền (`), hỏi (ˀ), ngã (~), nặng (.).

Ghi chú:

- Cách đánh vần theo kiểu mới thích hợp hơn đối với người lớn hay người ngoại quốc học
tiếng Việt.

- Phụ âm (kể cả phụ âm ghép) khi đứng một mình sẽ phát âm theo lối cũ (bê, xê, dê, đê…).
Chỉ khi nào ghép vần (với nguyên âm) mới phát âm theo lối mới. Thí dụ: Hãng GMC phát âm
là hãng Giê-Em-mờ-Xê (không phát âm là Gờ Mờ Cờ).
                                                                                                                                                 
- Trước các nguyên âm "i, e, ê", chữ "c" đổi thành "k" và "ng" đổi thành "ngh". Thí dụ: "ki,
ke, kê" (không viết "ci, ce, cê"), "nghi, nghe, nghê" (không viết "ngi, nge, ngê"). Chữ  "g"
đứng trước "e, ê" đổi thành "gh". Thí dụ: "ghe, ghê" (không viết "ge, gê").                        



Quy ước II -  Cách đánh dấu:

Chữ Quốc Ngữ có 5 dấu:  sắc (ʹ ), huyền (`), hỏi (ˀ), ngã (~), nặng (.).


2a- Dấu chỉ được đánh trên nguyên âm:
Thí dụ: Chán, chỉnh.

Những vần "qu" (quờ) trong chữ “quý”, vần "gi" (giờ)  trong chữ “già” được coi là phụ âm
ghép, nên chỉ đánh dấu trên nguyên âm "y" (quý) và "a" (già) mà thôi.

2b- Trường hợp có trên 2 nguyên âm:
Vì lý do mỹ thuật, dấu được đánh trên nguyên âm ở vị trí cân đối nhất. Thí dụ: Thường,
chướng, chọe, hủy, súy (không viết thừơng, chứơng, choẹ, huỷ, suý).

2c- Trường hợp có 3 nguyên âm:
Đánh dấu trên nguyên âm đứng giữa. Thí dụ: Soài, hoài (không viết sòai, hòai, soaì, hoaì).

Chú ý:
- Sáu giọng bao gồm một giọng (ngang) không dấu và 5 giọng có dấu. Thí dụ:     a     á     
à     ả     ã     ạ
- Hai nguyên âm "ă" và "â" không đứng một mình và không theo sau phụ âm một mình.  Thí
dụ: "ă" viết là "á": cá, "â" viết là "ớ": cớ (Theo Trần Trọng Kim).


Quy ước III-
Cách viết hoa và phiên âm tên người:

3a- Viết hoa theo quy tắc trong văn phạm Mỹ (capitalization)
những tên riêng như tên
người, quốc gia, đường phố, hội đoàn, cơ sở, tên ngày thứ tự trong tuần lễ, ngày tháng
năm… Thí dụ: Lý Thường Kiệt; nước Mỹ; đường Đinh Tiên Hoàng; Hội Ái Hữu Cựu Nữ Sinh
Trưng Vương Nam California; hãng Toyota; Thứ Hai, Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Sáu,
Thứ Bảy, Chủ Nhật; Tháng Giêng, Tháng Hai, Tháng Ba… Tháng Mười Một hay Tháng Một,
tháng Mười Hai hay Tháng Chạp; năm Nhâm Thìn, năm Quý Tỵ...

3b-  Phiên âm tên người:

- Viết tên họ người Tàu: Tên họ người Tàu đôi khi lẫn lộn với tên họ người Việt, do đó nên
dùng phương pháp Pinyin (bính âm) để phiên âm tên người Tàu bằng chữ cái La Tinh
trước, sau đó viết tên người Tàu theo phiên âm Hán Việt trong dấu ngoặc đơn. Thí dụ: Sun-
Yat-Sen: (Tôn Dật Tiên)..

- Viết tên người, tên quốc gia, tên tỉnh và tên nước ngoài: Có thể  phiên âm theo tiếng Việt,
nhưng viết tên gốc trong dấu ngoặc đơn. Thí dụ: Cu-ba (Cuba). Trường hợp đã quen với
cách phiên âm theo gốc tiếng Hán Việt, nên giữ nguyên và cũng viết nguyên văn tên người,
tên quốc gia hay tên tỉnh nước ngoài trong ngoặc đơn. Thí dụ: Nã-Phá-Luân (Napoléon),
Pháp (France), Ba-Lê (Paris).



Quy ước IV- Cách viết y dài và i ngắn:

Đây là cách viết gây nhiều tranh cãi nhất kể từ khi ở trong nước có quy định thay thế y dài
bằng i ngắn trong cách viết chữ Quốc Ngữ.* Chúng tôi đồng thuận với những nhà giáo tại
Việt Nam trước 1975 và tại hải ngoại sau 1975 về 3 quy ước sau:

4a- Viết y dài khi đứng một mình và có nguồn gốc Hán Việt:  y phục, y tế, y chang, y
hệt.

4b- Viết y dài đối với tên riêng (ngoại trừ tên người đã được viết bằng i ngắn): Lý
Thường Kiệt, nước Mỹ, Mỹ Tho…

4c- Viết y dài những từ ngữ gốc Hán Việt sau các chữ H, M, L, K, T, Qu.  (Mẹo ghi nhớ
theo một trường dạy Việt Ngữ tại Texas:
Học Mau Lên Kẻo Ta Quên). Thí dụ: Hy vọng,
mỹ thuật, lý thuyết, kỷ yếu, tỷ lệ, quý vị.
(Những từ ngữ bé tí, tỉ mỉ, í ới …viết i ngắn vì không có gốc Hán) (2).

Tham khảo:

* Bộ Giáo Dục ở Việt Nam năm 1983.


Quy ước V- Vị trí các dấu câu:

1- Vị trí các dấu câu như dấu ngoặc đơn, ngoặc kép, chấm hỏi, chấm than, hai chấm, chấm
phẩy, phẩy, chấm lửng (…) đều viết sát kế bên chữ cuối của câu (không có khoảng cách).  
Đây chỉ là cách viết chữ theo văn phạm Mỹ. Thí dụ: (1789), “Xuân Quý Tỵ”, anh là ai?  Than
ôi! Tôi không ngờ…

2- Phân biệt cách dùng dấu gạch ngang (dash) và dấu gạch nối (hyphen):

- Phân biệt các dấu gạch ngang giữa (-), dấu gạch ngang dưới (_), dấu gạch dưới (u) và
dấu gạch nối (-):

- Theo định nghĩa, dấu gạch ngang dài hơn dấu gạch nối. Tuy nhiên, trên bàn phím đánh
máy điện toán (keyboard), hai dấu này là một (đối với một số máy).
- Dấu gạch ngang ở đầu dòng dùng trong thể văn kể truyện.
- Dấu gạch ngang ở giữa dòng dùng để chú thích thêm cho rõ nghĩa hay rõ nơi chốn của
mệnh đề trước nó. Thí dụ: Trường Cao Học Chính Trị Kinh Doanh Sài Gòn - Viện Đại Học
Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt – đã đào tạo được nhiều chuyên viên có bằng Cao học ở Việt
Nam.

- Dấu gạch ngang dưới ít dùng.
Thí dụ:  Nguyen_038@yahoo.com.
- Dấu gạch dưới dùng để nhấn mạnh (từ ngữ hoặc câu văn). Thí dụ: Sài Gòn trước kia là
thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày nay ít dùng (hoặc không dùng) dấu gạch nối đối với  những chữ ghép (tiếng Việt và
Hán Việt), nhưng lại thường dùng cho các chữ phiên âm tiếng các nước khác.
Thí dụ: a-ti-sô, a-xít, a-men, áo măng-tô...
Nhưng không dùng gạch nối như: á khẩu, a hoàn, anh thư.

3- Đơn vị số: Theo cách viết trong văn phạm Mỹ. Thí dụ: 1,000.00; 10,000.00.

4- Ngày tháng: Viết theo văn phạm Mỹ hoặc theo ta (âm lịch). Thí dụ: 7/22/2012 hoặc 7-22-
2012. Theo ta: Ngày 22 tháng 7 năm 2012.

5- Phân biệt dấu hỏi (ˀ), ngã (~):
- Đối với chữ ghép, một chữ mang dấu huyền hay dấu nặng thì chữ kia mang dấu ngã
(huyền, nặng = ngã). Thí dụ: Dòng dõi, lộng lẫy, ầm ĩ, lặng lẽ. Ngoại lệ: Hoàn hảo, mòn mỏi,
học hỏi, phản bội.
- Đối với chữ ghép, một chữ không dấu (ngang) hay dấu sắc, thì chữ kia mang dấu hỏi
(ngang, sắc = hỏi). Thí dụ: Liêm sỉ, ám ảnh, dai dẳng, bóng bẩy.  Ngoại lệ: Than vãn, quá
vãng, ve vãn, thoáng đãng.

Mẹo để nhớ (theo tài liệu trên Internet):
"Cô Huyền mang nặng, ngã đau, cậu Ngang sắc mắc hỏi sao thế này?" (sắc mắc có nghĩa
là hay soi mói, bắt bẻ).

Những cách phân biệt kể trên còn nhiều ngoại lệ, nên chưa thể gọi là quy tắc hay luật lệ.
Điều cốt yếu để viết đúng dấu hỏi, ngã  là học ngữ vựng và tập phát âm theo đúng dấu của
ngữ vựng.

6- Phân biệt các vần ay, ây, au, âu:
- “ay” (không có dấu mũ) và “ây” (có dấu mũ). Thí dụ: Đi cày - con cầy; số bảy - đòn bẩy,  
trình bày - một bầy (heo),  thày lay - thầy giáo, lông mày - chúng mầy (tụi bay), màu (màu
áo, màu bột, màu cỏ úa, màu da,  màu mè, màu mỡ, màu sắc) - mầu (mầu nhiệm, thị mầu).

Chú ý:

- Một số chữ thường viết sai dấu hỏi, ngã: đã (việc đã qua) - đả (đả đảo),  nghĩ (suy nghĩ) -
nghỉ (nghỉ ngơi), sẽ (mai sẽ đi) - sẻ (con chim sẻ), cũng (cũng vậy) - củng (đồ đạc lủng
củng), vẫn (vẫn thế) - vẩn (vẩn đục), dẫu (dẫu sao đi nữa) - dẩu  (dẩu mỏ chìa môi ra), mãi
(mãi mãi) - mải (mê mải), hỗ (hỗ trợ) - hổ (xấu hổ, con hổ), quỹ (ngân quỹ) - quỷ (ma quỷ)  

- Lẫn lộn chữ “c” với chữ “t”. Thí  dụ: Lời bạt (lời tác giả viết thêm về ý nghĩa của nội dung,
thường ở cuối sách), viết thành lời bạc, rừng sác thành rừng sát...
- Hiểu sai nghĩa chữ có gốc Hán (HV.): mãi (HV. nghĩa là mua) trái ngược với  mại (HV. nghĩa
là bán),  mãn (HV. nghĩa là đầy đủ)   và mạn (HV. màn cửa, khoan chậm, phóng khoáng,
rộng rãi không giới hạn).
Thí dụ: Mãn hạn kỳ (đầy đủ thời gian ấn định) -  Bệnh mạn tính (bệnh phát ra chậm chạp
nhưng lâu dài, khó chữa).  

7- Phân biệt những chữ viết “có g” và “không có g” . Ví dụ: luôn (luôn luôn, luôn miệng, luôn
thể, luôn tiện) và luông tuồng (bừa bãi); bàn hoàn (nghĩ quanh quẩn) và bàng hoàng (tâm
hồn bất định, chưa kịp ổn định), vãng lai (vãng: Đi đến, đã qua, đã cũ, đi đi lại lại: Khách
vãng lai), viết thành vãn lai (vãn: chiều, muộn)…

8- Phân biệt tr và ch: Phân biệt truyện (tác phẩm) và chuyện (câu chuyện vớ vẩn). (Xem
Phụ bản 4).

9- Phân biệt s và x.  Thí dụ: Sinh sản, nữ sinh và xinh đẹp, xinh xắn. (Xem phụ bản 5). :

10- Phân biệt d, gi, và r.  Thí dụ: dành (để dành, dành dụm, dành chỗ, dành phần, dành
riêng) và giành (giành lại, giành giật) hay rành (rành mạch, rành rành, rành rẽ, rành rọt).
(Xem phụ bản 6).
Phân biệt những chữ đồng âm cũng tương tự như phân biệt dấu hỏi ngã:  Có một số mẹo
luật, nhưng việc áp dụng không phải dễ, nhất là có nhiều ngoại lệ. Điều quan trọng là phải
tra cứu Từ Điển Ngữ Vựng mỗi khi gặp sự nghi ngờ.

11- Chấp nhận cách viết chữ Quốc Ngữ:

11a- Chấp nhận một số chữ có gốc Hán đã được “Việt hóa” do nhiều người “nói sai” hay
“viết sai”. Thí dụ: “chung cư” (viết đúng theo tiếng Hán Việt là “chúng cư”), “khoái trá” (Hán
Việt là khoái chá)…

11b- Chấp nhận cả hai cách viết chữ đồng âm:
- Đối với những chữ ghép, đồng âm "x" với "s", hoặc "d" với "gi" mà nghĩa không đổi, có thể
tạm chấp nhận cả 2 cách viết. Thí dụ: Sum suê và xum xuê; trau giồi và trau  dồi.

- Một số chữ phát âm “ày, ầy”; “àu, ầu” mà không đổi nghĩa cũng tạm thời chấp nhận cả hai
cách viết. Thí dụ: tày trời - tầy trời; tày đình - tầy đình; bánh tày - bánh tầy; học thầy không
tày học bạn - học thầy không tầy học bạn; cây lớn tày ôm - cây lớn tầy ôm; người Tàu -
người Tầu; tàu thủy - tầu thủy; giàu có - giầu có; sắc màu - sắc mầu (?);  thuộc làu - thuộc
lầu; này - nầy

Kết luận

Chúng ta cùng quan niệm rằng: Nước Việt Nam là của chung cho 90 triệu đồng bào sinh
sống trong và ngoài nước, không phải của riêng một tổ chức hay đảng phái nào. Cũng vậy,
tiếng Việt là tiếng nói của người Việt không phân biệt Bắc, Trung, Nam, miền thượng hay
miền xuôi, trong hoặc ngoài nước.

Hiện nay tiếng Việt được ký âm bằng chữ Quốc Ngữ, là chữ viết chính thức của 90 triệu
đồng bào Việt Nam. Tiếng Việt là một sinh ngữ, nghĩa là có thể phát sinh tiếng mới, có tiến
triển và nếu chữ nào quá cũ, sẽ không được ai dùng nữa. “Nói sao cho mọi người cùng
hiểu; viết sao cho những thế hệ hậu sinh lãnh hội được ý tưởng trong sáng của tiền nhân”,
đó chính là mục đích của một “bản quy luật viết chữ Quốc Ngữ”. Bản quy luật này phải do
một Viện Hàn Lâm về ngôn ngữ quyết định. Tuy nhiên, nước Việt Nam từ trước và cho tới
ngày nay chưa có một Viện Hàn Lâm về ngôn ngữ, do đó tiếng nói, chữ viết chưa được tiêu
chuẩn hóa và đang ở vào tình trạng “ai muốn nói gì thì nói, ai muốn viết gì thì viết”.
“5 quy ước viết chữ quốc ngữ” không phải là những quy tắc hay quy luật bắt mọi người phải
theo, mà chỉ là “cách thức” viết chữ quốc ngữ được nhiều thầy cô giáo và người cầm bút ở
hải ngoại quen dùng.  
                                    .  
Mục đích của những người cầm bút là gì, nếu không phải là muốn điều chỉnh những câu văn
nghe chướng tai, những chữ viết làm gai mắt? Vậy thì tại sao chúng ta không ngồi lại cùng
nhau xem  xét,  đề  nghị  và   đồng   thuận,   trong   một  tinh thần tự do, dân chủ mở  rộng,  
để  điều  chỉnh những câu văn, chữ viết tiếng Việt sao cho được rõ nghĩa và trong sáng?
Mong lắm thay!

Song Thuận

Tham khảo
- Hán Việt Từ Điển – Đào Duy Anh - Trường Thi XB (1957).
- Việt Anh – Anh Việt Từ Điển - Nguyễn Văn Khôn – Khai Trí.
- Từ Điển online - Hội Khai Trí Tiến Đức.
- Webster’s New World – College Dictionary – Fourth Edition.
- Việt Nam Văn Học Sử Trích Yếu - Hạo Nhiên Nghiêm Toản – NXB Sống
Mới.                            
- Văn Học Việt Nam - Dương Quảng Hàm - Xuân Thu xb.
- Sách Giáo Khoa - Việt Tộc Thiếu Niên Cấp 11; số 2. “Cách viết chữ Quốc Ngữ” - Paris 08-
03-2000.
- Việt Nam Từ Điển - Lê Văn Đức.
- Từ Điển Tiếng Việt – Ngôn Ngữ VN – Lê Thị Huyền -  Minh Trí – Nhà XB Thanh Niên.  
- Đại Từ Điển Tiếng Việt - Nguyễn Như Ý ch ủ biên- nhà xb  Văn Hóa Thông
Tin.                             
- Từ Điển Từ và Ngữ Việt Nam – GS Nguyễn Lân.
- Tài liệu của Giáo Sư Tiến Sĩ Lê Kim Ngân.
- Tiếng Nói Nôm Na – Lê Gia.
- Luận Việt Văn – GS trường Gia Long Lê Ngọc Loan & GS Lê Thị Hồng
Mận.                                                 
- Từ Điển Chính Tả Tiếng Việt Phổ Thông - Nguyễn Văn Khang - Nhà XB Khoa Học Xã Hội.
- Văn Phạm Việt Nam – Bùi Đức Tịnh – Nhà XB Miền Nam.
- Bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư - Trần Trọng Kim,  Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc,
Đỗ Thận.
- Bản Đối Chiếu Từ Ngữ - Trần Văn Giang.
- Tài liệu Wikipedia, & Đào Văn Bình -http://daovanbinh.cattien.us).
- Tài liệu trên nhiều diễn đàn Internet.


-----------------------------


Chú thích

(1)  Bản đề nghị 5 quy ước viết chữ Quốc Ngữ được tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu khác
nhau do nhiều tác giả biên soạn và góp ý, cũng như sẽ được hiệu đính bởi nhiều vị giáo sư,
thầy cô giáo, nhà văn, nhà báo, quý vị làm truyền thông, truyền thanh, truyền hình cùng
những quý vị am tường và quan tâm đến Tiếng Việt. Đây chính là một tập hợp ý kiến của
đông đảo người Việt tham gia.

Bản quy ước này chỉ mang tính cách hướng dẫn mà không phải là những quy tắc hay quy
luật chặt chẽ cần phải noi theo.

Bản quy ước này sẽ phù hợp với một cuốn Từ Điển Ngữ Vựng và Từ Điển Tiếng Việt Phổ
Thông là dự án kế tiếp, do nhiều tác giả đang gắng sức thực hiện.

Bản quy ước viết chữ Quốc Ngữ cũng sẽ được điều chỉnh lại cho hợp thời do kết quả từ các
buổi hội họp hoặc do những ý kiến xác đáng của những vị học giả về tiếng Việt đề nghị sửa
chữa.

"Nhóm Thực Hiện Từ Điển Việt Nam Tại Hải Ngoại" sẽ phối hợp với Câu Lạc Bộ Hùng Sử
Việt để phổ biến rộng rãi tài liệu này.
(2) Cách dùng "i" hoặc "y" kiểu cũ thì thường căn cứ vào Hán Việt Từ điển của Đào Duy Anh
(1931). Theo đó thì "y" được dùng thay "i" với những từ gốc Hán Việt nếu đứng sau các phụ
âm h, k, l, m, t, và q (qu). Vì vậy nên có "ngựa hí", "tì tay" (gốc Nôm) nhưng "song hỷ", "tỵ
nạn" (gốc Hán Việt). Những phụ âm khác thì vẫn dùng "i" như "tăng ni" chứ không có ny.
Người Việt ở hải ngoại dạy tiếng Việt cho trẻ em dùng mẹo để nhớ sáu phụ âm trên bằng
câu "học mau lên kẻo ta quên". (Trích trên Internet - Wikipedia)
----------------------------