Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt
Tìm hiểu 54 Sắc tộc Việt Nam

Tổng quát:

Dân chúng sinh sống thường trực trong nước Việt Nam đều gọi là người Việt Nam (người ở  
không thường trực gọi là ngoại kiều). Tùy theo nguồn gốc, ngôn ngữ, văn hóa, kỹ thuật,
nghệ thuật, kinh tế và nhất là phong tục tập quán, ngày nay người Việt Nam được chia ra
làm 54  sắc tộc, trong đó dân tộc Việt (nguồn gốc Lạc Việt) chiếm đa số  (87%) và 53 sắc
tộc còn gọi là những dân tộc ít người (Sắc tộc thiểu số).
Căn cứ vào ngôn ngữ, 54 Sắc tộc Việt Nam được xếp thành 8 nhóm như sau (1):

1-
Nhóm Việt - Mường (4 sắc tộc Việt, Mường, Thổ, Chứt)
2-
Nhóm Tày – Thái (8 sắc tộc Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái)
3-
Nhóm H’Mông – Dao (3 sắc tộc Dao, H’Mông, Pà thẻn)
4- Nhóm Tạng - Miến (6 sắc tộc Cống, Hà Nhì, La hủ, Lô lô, Phù lá, Si la)
5-
Nhóm Hoa (3 sắc tộc Hoa, Ngái, Sán dìu)
6-
Nhóm Môn - Khờ  Me (21 sắc tộc Ba na, Brâu, Bru-Vân Kiều, Chơ-ro, Co, Cơ-ho,
Cơ-tu, Gié-triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ mú, Mạ, Mảng, M'Nông, Ơ -đu, Rơ-măm, Tà-
ôi, Xinh-mun, Xơ-đăng, Xtiêng)
7- Mã Lai – Đa đảo (Malayo-Polinesien) - Nam Đảo (5 sắc tộc Chăm, Chu-ru, Ê đê, Gia-
rai, Ra-glai
)
8-
Nhóm Kađai (Hỗn hợp Nam Á)  (4 sắc tộc Cơ lao, La chí, La ha, Pu péo).

Trong 8 nhóm kể trên, dân tộc ít người nhất có lẽ là Ơ Đu ở Nghệ An, chỉ có khoảng 301
người (1999) và dân tộc Brâu (ở làng Đăk Mế, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum) với 313
người (1999).
Dân tộc đông người nhất là dân tộc Việt, có mặt tại khắp nơi trên đất nước, từ vùng đồng
bằng đến vùng cao nguyên (nhất là Tây Nguyên), dân số khoảng 70 triệu. Ngoài ra còn
hơn 3 triệu người Việt tỵ nạn tại nhiều quốc gia trên thế giới. Đông dân thứ nhì sau dân tộc
Việt là các dân tộc  Mường, Tày, Thái và Khơ Me, mỗi dân tộc có khoảng 1 triệu người.  
Dân tộc ít người thường sinh sống ở vùng rừng núi trên cao (thượng du, cao nguyên) nên
còn gọi là người Thượng, trong khi đó dân tộc Việt thường sinh sống dưới miền xuôi, đồng
bằng (kinh thành, kinh đô) nên còn gọi là người Kinh. Như vậy tên gọi “Kinh”, “Thượng” là
để phân biệt người sống dưới kinh thành hay người sống trên thượng du. Có thể có sự
nhầm lẫn giữa người Kinh (Việt Nam) với dân tộc Kinh (Trung Quốc) (2). Theo cách gọi
trên, nước Việt Nam chỉ có người Thượng hoặc người Kinh, mà không có “dân  tộc
Thượng”, hoặc  “dân tộc Kinh” (3)

Tìm hiểu khái quát về  mỗi dân tộc Việt Nam (trích lược từ website Chim Viet Canh Nam)

1- Nhóm Việt Mường: Việt, Mường, Thổ, Chứt












Cô gái Việt

1-1- Việt: Nguồn gốc Lạc Việt, cùng chủng tính với người Bách Việt (4), theo truyền thuyết,
xưa sinh sống rải rác từ Động Đình Hồ phía nam nước Tàu (Lĩnh Nam) đến Hồ Tôn (nước
Chiêm Thành xưa), tập trung đông đảo nhất tại vùng đồng bằng sông Hồng, sông Thái
Bình, trồng lúa nước, định cư định canh, sống thành Làng Xã, có lũy tre xanh và Đình là nơi
sinh hoạt công cộng. Văn học, khoa học kỹ thuật, kinh tế đều phát triển. Dân tộc Việt thờ
cúng Tổ Tiên, chế độ hôn nhân một vợ một chồng, tục cưới vợ qua 3 giai đoạn: Chạm ngõ,
Ăn Hỏi và Cưới. Tang chế chủ yếu là chôn cất. Y phục cổ truyền nữ: Tứ thân, áo dài, yếm,
váy, nón lá, đầu quấn khăn mỏ quạ, đi hài, guốc, dép, nhuộm răng đen, ăn trầu. Nam
không nhuộm răng nhưng cũng ăn trầu). Đàn ông: Khố, áo dài, quần dài trắng, đầu đội
khăn xếp, đi giày hoặc guốc. Xưa đàn ông vẽ mình, cắt tóc ngắn, áo dài (nam, nữ) cài nút
bên trái ( tả nhậm). Dân tộc Việt có một lịch sử đấu tranh hào hùng chống ngoại xâm (nhất
là chống sự bành trướng của người Hán từ phương Bắc). Người Việt rất hãnh diện về
nguồn gốc dân tộc Việt của mình.

1-2- Mường: Dân số hơn 1 triệu (1999), được coi là người Việt cổ, tập trung tại Hòa Bình,
Thanh Hóa (miền núi), ít chịu ảnh hưởng Trung Hoa, sống định cư định canh và trồng lúa
như người Việt (lúa nếp nhiều hơn lúa tẻ), khai thác lâm thổ sản  (quế, nấm, mật ong, cánh
kiến…), đàn bà dệt vải.Chính trị,  theo chế độ Lang đạo cha truyền con nối (với các họ
Đinh, Quách, Bạch, Hà…). Cưới hỏi như người Việt.  Trẻ em 1 tuổi mới đặt tên. Thầy Mo
chủ tang lễ. Con trai chống gậy tre là bố chết, gậy gỗ là mẹ chết. Đứng đầu mỗi Mường là
lang cun, dưới là lang xóm. Y phục nữ: Áo cánh ngắn, thắt lưng, yếm, mảng hoa văn giữa
thân, váy kín mầu đen. Nam: Áo cánh ngắn phủ mông, quần lá tọa, cắt tóc ngắn hoặc đội
khăn trắng.
















1-3- Thổ (Kẹo, Xá Lá Vàng): Dân số 51.000, ở phía tây tỉnh Nghệ An, làm rẫy, trồng lúa và
gai, chọc lỗ để bỏ hạt hoặc vãi hạt và cầy bừa, săn, bẫy, lưới cá. Đất rừng là của chung.
Hôn nhân có tục “ngủ mái” (nam nữ ngủ chung trước khi cưới để tìm hiểu, nhưng phải đứng
đắn), Phụ  nữ  đội khăn vuông trắng. Tang ma: Quan tài độc mộc, khiêng chân đi trước.
Khăn tang mầu trắng dài. Không biết dệt vải.

1-4- Chứt (Sách): Dân số 3.829 (1999) tại Quảng Bình. Làm ruộng và làm rẫy. Hôn nhân
bền vững. Tang ma cúng 2-3 ngày, mang chôn sơ sài, không có nhà mồ. Sau 3 ngày, tộc
trưởng làm lễ gọi hồn về ngụ tại bàn thờ Tổ Tiên ở nhà tộc trưởng. Từ đó, ít lai vãng đến
ngôi mộ. Văn nghệ phong phú.

2- Nhóm Tày Thái: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái















2-1- Tày (còn gọi là Thổ): Dân số trên 1 triệu, lớn thứ nhì sau người Việt, ở ven thung lũng,
hoặc triền núi thấp các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Thái, Quảng Ninh…sống về nông
nghiệp, trồng lúa, ngô, khoai, rau, cây ăn trái... Văn nghệ phong phú: Thơ, ca, nhạc, múa,
tục ngữ  ca dao. Hôn nhân bền vững một vợ một chồng (xưa có tục ở rể). Cùng tuổi (đồng
niên)  kết nghĩa như anh chị em. Nhà sàn hoặc trệt. Y phục vải bông  chàm. Nam: Áo dài 5
thân, khăn đội đầu, quần và giày vải, áo cánh 4 thân xẻ ngực, cổ tròn cao, cài cúc vải. Nữ:
Áo dài năm thân, quần váy, thắt lưng, khăn mỏ quạ, hài vải, áo cánh là loại 4 thân xẻ ngực,
cổ tròn, có hai túi nhỏ phía dưới hai vạt trước, áo lót mầu trắng (áo trắng phân biệt với
những sắc tộc khác nên còn gọi người Thổ là slửa khao tức người áo trắng).

2-2- Thái (Tày, Tày Khao, Tày Đăm): Sống tập trung ở Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Nghệ
An. Làm ruộng, nương, trồng lúa nếp, hoa mầu, nuôi gia súc. Dệt vải thổ cẩm sặc sỡ, rất
đẹp. Tục ở rể, có con mới về bên chồng. Đám ma là lễ tiễn người chết về “:mường trời” để
“sống”. Văn hóa phong phú, có chữ riêng, thơ, ca dao, cổ tích…thích ca hát, ngâm thơ
(khắp) múa xòe, múa sập, hát lượn, ném còn. Nhà Thái trắng (Tày Khao) gần giống nhà
Tày - Nùng. Nhà Thái Đen (Tày Đăm) nóc hình mai rùa. Y phục nữ: Thái Trắng: Áo cánh
trắng, cổ hình chữ “V”, xẻ ngực, cài cúc bạc hình bướm ở giữa, khăn đội không thêu, váy
kín đen.  Phụ nữ chưa chồng búi tóc sau gáy, có chồng búi trên đỉnh đầu. Có nón rộng
vành. Thái Đen: Áo cánh mầu chàm hoặc đen, cổ tròn, khăn đội đầu thêu hoa, váy đen. búi
tóc giống Thái Trắng.















2-3- Nùng: Dân số khoảng 700 ngàn, tập trung tại Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái, Hà Bắc,
Tuyên Quang. Thời Pháp thuộc có khu Nùng Tự Trị (Territoire Nung) ở vùng Hải Ninh (Tiên
Yên,  Móng Cái), nói được tiếng Việt và  tiếng Quảng Đông, lối sống như người miền xuôi.
Sau 1954, người Nùng di cư vào Nam (khoảng 50 ngàn người), ở vùng Sông Mao (tỉnh
Bình Thuận).  Người Nùng nói chung, sống về nghề nông. Nghề dệt, rèn, mộc, gốm, đan lát
đều rành.  Văn hóa ẩm thực thích ăn thịt mỡ heo (khau nhục), có điệu hát giao duyên “sli”,
hát “then”, nổi tiếng với lễ hội “lùng tùng” vào tháng giêng (xuống đồng). Trang phục thích
mầu đen, đeo nhiều vòng, dây đeo cổ bằng bạc.

2-4- Bố Y (Buyei,  tự  coi là  người Tráng – Zhuang, 1,500 người tại Lào Cai, Yên Bái, Hà
Giang, Tuyên Quang),  làm nương rẫy, nuôi gia súc gia cầm, nuôi cá, làm mộc, rèn, gốm,
đục đá, chạm bạc,  dệt vải, may thêu quần áo,
Hôn nhân độc đáo, chàng rể không đi đón dâu.  Cô em gái của chàng rể dắt con ngựa
hồng đẹp mã để chị dâu cưỡi lúc về nhà chồng, Khi về nhà chồng, cô dâu mang theo một
chiếc kéo và một con gà mái nhỏ, đi đến giữa đường thì thả gà vào rừng.Tục đẻ ngồi. Khi
bố mẹ chết, con cái phải kiêng kỹ, nghiêm ngặt trong 90 ngày đối với tang mẹ, 120 ngày
đối với tang cha.

2-5- Giáy (Nhắng, Xạ) 38.000 người tại Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu và Cao Bằng),    .
Làm ruộng nước là chính, nuôi nhiều trâu, ngựa, lợn, gà, vịt, dùng ngựa để cưỡi, thồ, dùng
trâu kéo cày, kéo gỗ. Con cái lấy họ theo cha. Nhà trai chủ động việc cưới xin, sau lễ cưới
cô dâu về ở cùng gia đình nhà chồng. Tục ở rể, "kéo vợ" khi nhà trai không đủ tiền của để
cưới. Phụ nữ  đội khăn quấn thành nhiều kiểu khác nhau, cổ đeo vòng bạc. Nhóm Giáy Lao
Cai, Lai Châu mặc quần chàm ngắn đến mắt cá chân, ống rộng. Tóc vấn theo kiểu vành
khăn và thường đeo túi vải thêu hoa văn phổ biến ở đáy túi là hình răng chó. Phổ biến đi
loại giày vải thêu hoa văn nhiều loại.

2-6- Lào (Lào Bốc, Lào Nọi): ngôn ngữ Tày - Thái, 9.600 người ở Lai Châu, Sơn La,  Lào
Cai. đa số ở bên Lào.  Làm ruộng nước, dùng cày, bừa và làm thủy lợi. Nghề phụ: dệt, rèn,
gốm. Các họ Lò, Lường, Vi... Hôn nhân một vợ một chồng. Con cái  theo họ cha, ở rể vài
năm. Người chết được làm lễ và chôn cất. Những ông
Mo Lăm là lớp người giỏi chữ và biết
nhiều truyện cổ, dân ca. Có ảnh hưởng văn nghệ dân gian Thái. Sống định cư thành bản.
Nhà ở rộng, thoáng, dáng hình mai rùa. Y phục giống người Thái.  Nam  thường xăm hình
chữ "vạn" vào cổ tay và hình con vật vào đùi. Nữ váy đen quấn cao đến ngực, cánh ngắn
bó thân. Cô gái Lào chưa chồng thường búi tóc lệch về bên trái, khăn Piêu, thích cài nhiều
trâm bạc và búi tóc, đeo nhiều vòng ở cổ tay, xăm hình một loại cây rau ở mu bàn tay.
















2-7- Lự - (Lữ, Nhuồn, Duồn), 3.700 người. hai huyện Phong Thổ và Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu,
Làm ruộng từ lâu đời, biết dùng cày bừa, đào mương dẫn nước, gieo mạ, cấy lúa, nhưng
lại không làm cỏ, bón phân,  ăn cơm nếp là chính, thích ăn ớt, ưa uống nước chè và đàn
ông thường hút thuốc lào.  Nghề dệt phát triển nhất. Trang phục trực rỡ trên nền vải
nhuộm chàm, Hôn nhân tự do tìm hiểu, nhưng phải nhờ thầy số xem tuổi trước, nếu hợp
tuổi mới lấy nhau, ở rể vài ba năm rồi ra ở riêng. Con lấy họ theo cha. Tên con trai có chữ
đệm Bạ, tên con gái có chữ đệm Yý, ít ly dị ( bỏ nhau  bị phạt nặn). Người chết, tang gia
làm một nhà táng giấy có trang trí đẹp rồi bỏ vải, đệm, gối, thóc, tiền vào đó để làm lễ đưa
linh hồn người chết vào chùa. Hát dân ca "khăp", yêu thích vốn truyện cổ, thơ ca, tục ngữ,
các loại sáo, nhị, trống.  Nhà sàn, hai mái


2- 8- Sán Chay - (Cao Lan, Sán Chỉ, Mán Cao Lan, Hờn Bận): Ngôn ngữ Tày - Thái, ở
Tuyên Quang, Bắc Thái, Hà Bắc, rải rác ở các tỉnh: Quảng Ninh, Yên Bái, Lạng Sơn, Vĩnh
Phú. Làm ruộng nước. Hôn nhân, nhà trai tổ chức cưới vợ cho con nhưng sau cưới, cô dâu
lại về ở với cha mẹ đẻ, thỉnh thoảng mới về nhà chồng, cho đến khi mang thai mới về hẳn
với chồng.
Nhiều truyện cổ, thơ ca, hò, vè, tục ngữ, ngạn ngữ. Sinh ca là hình thức sinh
hoạt văn nghệ phong phú hấp dẫn. múa trống, múa xúc tép, múa chim gâu, múa đâm cá,
múa thắp đèn... Nhạc cụ thanh la, não bạt, trống, chuông, kèn...Chơi đánh quay, "trồng cây
chuối", "vặn rau cải", tung còn...Nhà sàn, vách che sát đất, xa trông tưởng là nhà đất.
Trang phục giống người Việt hoặc người Tày

3- Nhóm H’Mông – Dao : Dao, H’Mông, Pà thẻn



















3-1-  Dao (Mán): Nguồn gốc phía nam nước Tàu (Quảng Tây), di cư đến ở miền Thượng
du Bắc Việt tại các tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, dân số khoảng nửa triệu,
thờ Tổ Tiên là Bàn Hồ, tục ở rể, ở nhà sàn hoặc trệt, tục hỏa táng (người chết trên 12 tuổi).
Có chữ viết (dựa theo chữ Hán). Làm ruộng, nương, trồng lúa và hoa mầu. Nghề dệt vải,
rèn, mộc, làm giấy, ép dầu đều khéo léo. Theo cách trang phục, phân biệt: Dao đỏ (khăn,
áo mầu đỏ - ở Chapa), Mán Đại Bản (đội khăn lớn), Mán Cộc (tóc chải dựng đứng, gài 1
khung tre như cái sừng), Mán Sơn Đầu (đầu chải bóng nhẫy bằng nhựa cây), Mán Tiền
(trang sức bằng đồng tiền), Mán Chàm (áo mầu chàm), Mán quần trắng, Mán quần cộc…

3-2- H’Mông (Mèo, Miêu, Mông) thường sinh sống ở vùng núi cao (800 m – 1500 m) so
với các dân tộc khác. Dân tộc Mèo thuộc giống Miêu Tử ở Tứ Xuyên Trung Hoa (có lẽ là
giống Tam Miêu như sử gia Trần Trọng Kim nói đến trong Việt Nam Sử Lược?), tập trung ở
Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Nghệ An, sống
du canh, làm nương rẫy (bậc thang) trồng lúa, bắp, lúa mạch, nuôi gia súc, săn thú. Người
H’Mông coi họ hàng cùng Tổ Tiên, quây quần giúp đỡ nhau. Hôn nhân tự do kén chọn.
Cùng dòng họ không lấy nhau. Có tục “háy pù” vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn trai gái có
thể hẹn hò rồi dắt tay nhau về nhà chính thức làm vợ chồng. Người Mông ăn Tết vào tháng
12 dương lịch (3 ngày Tết không ăn rau xanh). Thanh niên thường thổi khèn hoặc đàn môi
gọi bạn tình. Nhà người Mông 3 gian trệt, không chái, gian giữa thờ Tổ Tiên. Chuồng gia
súc trước nhà. Váy được mang trên người với chiếc thắt lưng vải được thêu trang trí ở
đoạn giữa. Khi mặc váy, thường mang theo tạp dề.

3-3-  Pà Thẻn (Tống, 3.700 người tại Hà Giang, Tuyên Quang), làm nương rẫy, ở tập
trung ven suối. Dân tộc Pà Thẻn có nhiều dòng họ. Những người cùng họ coi nhau như
những người thân thích có chung một tổ tiên,
không được lấy nhau, tục ở rể tạm thời, nếu
gia đình không có con trai mới lấy rể về ở hẳn. Người ở rể phải thờ ma họ vợ, con cái một
nữa theo họ bố, một nữa theo họ mẹ. văn hóa dân gian, truyện cổ tích, các làn điệu dân
ca, hát ru, các điệu nhảy múa, các loại nhạc cụ (khèn bè, đàn tầy nhậy, sáo trúc...).

4- Nhóm Tạng Miến: Cống, Hà Nhì, La Hủ, Lô Lô, Phù Lá, Si La

4-1- Cống (Xắm Khống, Xá Xeng), 1.300 người tại Mường Tè, Lai Châu, ven sông Đà,
ngôn ngữ Tạng - Miến, làm nương rẫy, canh tác theo lối phát rừng, đốt, chọc lỗ tra hạt
giống. Mỗi họ của người Cống có một trưởng họ. Chồng, cha đứng đầu, khi cha chết con
trai cả thay thế. Hôn nhân: cùng họ cách nhau bảy đời mới được lấy nhau. Nhà trai chủ
động. Sau lễ hỏi, trai ở rể vài năm, gái búi tóc ngược lên đỉnh đầu (đã có chồng). Thường
sinh vài đứa con mới cưới. Nhà sàn. Nữ. Váy đen, khăn đen không trang trí.

4-2- Hà Nhì (Xá U Ní), 12.500 người tại Lai Châu Lào Cai,  ngôn ngữ Tạng - Miến. nay đã
định cư, làm ruộng, nương rẫy. Chăn nuôi, đan lát, dệt vải. Hôn nhân được tìm hiểu nhau
trước khi kết hôn. Qua hai lần cưới: 1- Cô dâu về nhà chồng đổi họ theo chồng. 2- Làm ăn  
khá và thường đã có con. trong nhà có người chết, phải dỡ bỏ tấm liếp (hay rút một vài
nan) của buồng người đó, phá bàn thờ tổ tiên, làm giường đặt tử thi ở bếp, chọn ngày giờ
tốt mới chôn. Người Hà Nhì không có nghĩa địa chung của bản, kiêng lấp đất lẫn cỏ tươi
xuống huyệt, không rào dậu hay dựng nhà mồ, chỉ xếp đá quanh chân mộ...Nhiều truyện
cổ, có cả truyện thơ dài. Nam nữ thanh niên có điệu múa riêng. Tỏ tình thường dùng các
loại khèn lá, đàn môi, sáo dọc. Các thiếu nữ thích thổi am-ba, mét-du, tuy-húy hay nát-xi
vào ban đêm. Con trai gảy đàn La Khư. Ngày lễ hội còn có trống, thanh la, chập cheng góp
vui.  Nhà thường ba gian. Váy đen, chỉ có mũ, khăn hai ống tay và nẹp áo phụ nữ có trang
trí.
























4-3- La Hủ (Xá Lá Vàng, 5.300 người tại Lai Châu), ngôn ngữ Tạng - Miến, làm rẫy và săn
bắn, hái lượm. Lúa nước và lúa nương, dùng trâu cày kéo, đan ghế, mâm, chiếu, nong nia,
v.v... bằng mây rất giỏi và đa số biết nghề rèn. Hôn nhân: Con trai mới được thừa hưởng
tài sản của cha mẹ. Tự do yêu nhau, chàng rể phải ở gia đình nhà vợ 2-3 năm. Sinh nở tại
buồng ngủ của mình. Sau 3 ngày đứa bé được đặt tên, nếu trong 3 ngày đó, nhà có khách
thì người khách này được mời đặt tên cho đứa bé. Người chết được chôn trong quan tài
độc mộc. Trên mộ không dựng nhà mồ, không có rào bảo vệ. có trên một chục điệu múa
khèn. Thanh niên thích thổi khèn bầu. lập bản trên sườn núi. Thực hiện định canh định cư.
bàn thờ tổ tiên và bếp bao giờ cũng đặt tại gian có chỗ ngủ của chủ gia đình. Phụ nữ mặc
quần, ngày thường mặc áo dài xuống tới cổ chân, ngày lễ tết mặc thêm áo ngắn,  ở cổ áo,
nẹp ngực, ống tay có thêu hoặc đáp vải các màu, có đính thêm xu bạc, xu nhôm và các
bông chỉ đỏ.

4-4-Lô Lô (Di),  3.000 người tại Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, ngôn ngữ Tạng - Miến.
Trồng ngô hoặc lúa nương.  Có nhiều dòng họ. Đứng đầu là Thầu chú lo việc cúng bái và
duy trì tục lệ. Hôn nhân một vợ một chồng, ở nhà chồng. Có trống đồng, chôn xuống đất,
sử dụng mới đào lên. Tộc trưởng của mỗi họ là người được giữ trống, chỉ dùng trong các
đám tang hoặc đánh để giữ nhịp cho các điệu nhảy múa. Văn hóa nhảy múa, hát ca, truyện
cổ. Khăn áo, váy, quần  hoa văn rất sặc sỡ. Chữ viết tượng hình  (nay không dùng nữa).
Lịch chia một năm thành 11 tháng, tương ứng với tên một con vật. Lập làng ở lưng chừng
núi, Nhà sàn, nhà đất. Nam áo xẻ nách năm thân dài tới gối, quần áo màu chàm. Nữ Lô lô
để tóc dài quấn ngang đầu, khăn nhiều lớp, hoa văn,  tua vải sặc sỡ. áo dài cổ vuông, tay
dài, chui đầu, hay áo cánh ngắn, xẻ ngực, cổ cao, tròn cài cúc. Có nhóm mặc quần, đi giày
vải.



















4-5- Phù Lá (Xá Phó, Bồ Khô Pạ) 6.500 người tại Lai Châu, ngôn ngữ Tạng - Miến, làm
nương và ruộng bậc thang. Chăn nuôi  trâu kéo cày, ngựa  thồ, gà, lợn lấy thịt, đan mây,
tre làm gùi. Sống thành bản riêng, già làng, trưởng bản điều hành. Hôn nhân không bị ép
buộc,  Bữa cơm thân mật coi như đã đính hôn. Cưới sau một, hai năm, cô dâu về ở nhà
chồng.  Nhà sàn và nhà đất. Nam, áo  xẻ ngực (may từ 6 miếng vải, cổ thấp, không cài cúc
nẹp ngực viền vải đỏ, ống tay hẹp, cổ tay thêu hoa văn như áo phụ nữ). Nữ chưa chồng
tóc dài quấn quanh đầu,  khăn vuông đen hoặc chàm, bốn góc và giữa khăn có đính hạt
cườm, mũ thêu ghép hoa, áo ngắn 5 thân, dài tay, cổ vuông, thấp, chui đầu, hoa văn. Vay
màu chàm đen, đầu và chân váy được trang trí hoa văn màu đỏ, trắng vàng.
















4-6- Si La : 600 người tại Sì Thâu Chải, Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Ngôn ngữ Tạng - Miến.
trồng lúa nương, ngô, săn bắn và hái lượm  Đời sống còn thấp kém,  nạn hữu sinh vô
dưỡng, tập tục lạc hậu, bệnh tật, kiêng ăn thịt mèo, ở nhà trệt, có bếp lửa đặt giữa nhà.
Trưởng họ, thầy mo có vai trò quan trọng. Lễ cưới 2  lần. Nhà trai phải có khoản tiền cưới
trao cho nhà gái mới được đón dâu về. Tang ma: dựng nhà mồ, Quan tài gỗ độc mộc, ca
hát, không khóc, con cái để tang cha mẹ 3 năm. Xưa, Nam nhuộm răng đỏ, Nữ nhuộm đen.
Nữ,  mảng ngực áo bằng vải khác màu với áo, gắn đặc xu bạc, xu nhôm. Khăn đội đầu theo
lứa tuổi. Các cô thường đeo chiếc túi bằng dây rừng, được trang trí những tơ chỉ đỏ sặc sỡ.

5- Nhóm ngôn ngữ Hoa: Hoa, Ngái, Sán dìu

5-1- Hoa (Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam, Hạ, Xạ Phang), 900.000
người ở nhiều nơi. àm nhiều nghề nghiệp khác nhau: nông nghiệp, thủ công nghiệp, công
nhân, viên chức, giáo viên, buôn bán, làm muối, đánh cá, v.v..  trồng lúa, ở, thành làng xóm
hoặc đường phố. Chồng (cha) là chủ hộ, chỉ con trai được thừa kế gia tài và con trai cả
luôn được phần hơn. Hôn nhân ở người Hoa do cha mẹ quyết định, nạn tảo hôn thường
xảy ra,  chú trọn  "môn đăng, hộ đối". Ma chay: lễ báo tang, lễ phát tang, lễ khâm liệm, lễ
mở đường cho hồn người chết, lễ chôn cất, lễ đưa hồn người chết đến cõi "Tây thiên Phật
quốc", lễ đoạn tang. Văn hóa  thích hát "sơn ca" (san cưa), Ca kịch, Nhạc cụ có kèn, sáo,
nhị, hồ, trống, thanh la, não bạt, đàn tỳ bà, tam thập lục..Kiểu nhà "hình cái ấn". Đàn bà
mặc quần, áo 5 thân cài cúc vài ở bên nách phải, dài trùm mông, áo cộc tay cũng 5 thân.
Các thầy cúng có y phục riêng khi làm lễ. Nón, mũ, ô là các đồ đội trên đầu


















5-2- Ngái (Sán Ngái, Hẹ, 1.154 người tại Quảng Ninh, Hà Bắc, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc
Thái, Sài Gòn), ngôn ngữ Hoa,  ruộng trồng lúa, đánh cá, dệt chiếu, làm mành trúc, rèn,
mộc, nung vôi, làm gạch ngói...Chồng quyết định mọi việc lớn, con trai được coi trọng, con
gái không được chia gia tài  về nhà chồng sau khi cưới. Lễ thành hôn và lễ nhập phòng.
Sau khi sinh con 60 ngày (con đầu), 40 ngày con thứ, người sản phụ mới được đến nhà
mẹ đẻ của mình. tổ chức đám ma chu đáo. Sau khi chôn cất cúng 21 ngày, 35 ngày, 42
ngày, 49 ngày, 63 ngày, 70 ngày, 3 năm thì làm lễ đoạn tang. Văn hóa: hát giao duyên nam
nữ, gọi là Sường cô.Hát đối nhau 5 đến 7 đêm   múa sư tử, múa gậy, chơi rồng rắn. ở sườn
đồi, thung lũng hoặc ven biển, trên đảo.ở sườn đồi,..Trang phục giống Hoa (Hán). Ngoài
quần áo, đồng bào còn đội mũ, nón các loại tự làm từ lá, mây tre, đồng thời đội khăn, che ô.

5-3-  Sán Dìu (Trại, Mán quần cộc, 95.000 người tại Quảng Ninh, Hải Hưng, Hà Bắc), ngôn
ngữ Hoa, àm ruộng nước, chăn nuôi, khai thác lâm sản, đánh bắt nuôi thả cá, làm gạch
ngói, rèn, đan lát... giải khát cháo loãng. Chồng (cha) là chủ gia đình, con theo họ cha, con
trai được thừa hưởng gia tài. Cha mẹ quyết định việc cưới, phải  xem số, so tuổi. sau 3
năm, người chết được bốc cốt - cải táng. Dùng thơ ca trong sinh hoạt hát đối nam nữ, Các
điệu nhảy múa xuất hiện trong đám ma. đi cà kheo, đánh khăng, đánh cầu lông kiểu Sán
Dìu, kéo co....Nhà đất. Phụ nữ  ăn trầu và thường mang theo mình chiếc túi vải đựng trầu
hình múi bưởi có thêu nhiều hoa văn sặc sỡ, và kèm theo là con dao bổ cau có bao bằng
gỗ được chạm khắc trang trí đẹp.

Các Sắc tộc Tây Nguyên: Tây Nguyên là một dẫy cao nguyên phía tây miền Trung Việt
Nam, trong đó 3 cao nguyên lớn nhất là Gia Lai - Kontum, Đắc Lắc và Lâm Đồng, thế đất
tương đối bằng phẳng, thoai thoải về phía tây và dựng đứng về phía đông, rộng khoảng 55
ngàn km2, nay chia ra 5 tỉnh: Kontum, Gia Lai (Pleiku), Đắc Lắc (Ban Mê Thuột, hay Buôn
Ma Thuột), Đắc Nông, Lâm Đồng, nơi cao nhất là Lâm Viên (Lang Biang 1,500m), thấp
nhất  là Kon Tum, Ban Mê Thuột (500m), đất đỏ Bazan mầu mỡ, mỏ quặng Bauxite lớn, xưa
là vùng núi lửa. Trước 1975, có khoảng 20 dân tộc sinh sống tại Tây Nguyên, chia thành 2
nhóm: Nhóm ngôn ngữ Môn - Khờ Me (Nam Á): ở phía bắc Tây Nguyên như: Ba Na , Brâu,  
Bru, Xơ Đăng, Cơ Tu, Dé Triêng, Rơ Mâm, …và  ở phía nam như: Mơ Nông, Kơ Ho, Mạ,
Sre, Stiêng…, Chen vào giữa là nhóm nói tiếng Malayo-Polinesien (Nam Đảo) như Gia Rai,
Ê Đê, Chu Rú, Rakglei. (tương tự  ngôn ngữ  Chàm).

6- Nhóm Môn Khờ Me: 21 nhóm:  Ba Na, Brâu, Bru-Vân Kiều, Chơ-ro, Co, Cơ-ho, Cơ-
tu, Gié-triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ mú, Mạ, Mảng, M'Nông, Ơ-đu, Rơ-măm, Tà-ôi,
Xinh-mun, Xơ-đăng, Xtiêng.

6-1 -  Ba Na: dân số 136.000, cư trú tại  Kontum, miền Tây Bình Định và Phú Yên, làm rẫy,
trồng lúa, ngô, hoa mầu, bông vải, nuôi trâu bò, gia súc…Yêu  quý  chó , không ăn thịt chó
. Phụ nữ dệt vải, đàn ông đan lát. Mua bán dùng vật đổi vật. Tự do kết hôn. Vợ chồng ở
nhà bên chồng hoặc bên vợ đồng đều một thời gian. khi có con làm nhà ở riêng. Trẻ em
được yêu chiều. Không đặt trùng tên nhau (nếu trùng tên, kết nghĩa). Con cái được chia
gia tài ngang nhau. Sống rất bình đẳng.


















Thiếu nữ Ba Na                     Thiếu nữ Brâu


6-2- Brâu: 200 người tại Huyện Ngọc hồi Kontum. Ngôn  ngữ Môn Khmer, du canh du cư,
đốt rừng làm rẫy, gậy chọc lỗ tra hạt. Tự do kết hôn. Nhà trai đi hỏi vợ,  nộp lễ vật cho nhà
gái tổ chức đám cưới tại nhà gái. Tục ở rể 2, 3 năm. Người chết để ngoài nhà mồ do dân
làng dựng cho. Thăm viếng gõ chiêng cồng rầm rĩ. Ngoài cồng chiêng, thiếu nữ thích chơi
krông pút. Tục xâm mặt, cà 4 răng cửa. Nam đóng khố ở trần, nữ xưa mặc váy và ở trần.

6-3- Bru-Vân Kiều (40.000 người ở miền núi Quảng Bình, Quảng Trị , Thừa Thiên-Huế).
Ngôn  ngữ Môn Khmer, làm rẫy, làm ruộng, săn bắn, đánh cá, nuôi gia súc, gia cầm. Tự do
yêu nhau, lễ cưới có một thanh kiếm nhà trai trao cho nhà gái. Nhiều nghi lễ phức tạp như
bắc bếp, rửa chân, ăn cơm chung với chồng. ông cậu có quyền quyết định nhiều việc. Yêu
văn nghệ, nhiều loại: trống, thanh la, chiêng núm, kèn, dân ca, "chà chấp" là lối vừa hát
vừa kể, "Sim" là hát đối nam nữ. Nhà sàn nhỏ (nay  nhà trệt), Nam búi tóc, ở trần, đóng
khố. Gái chưa chồng búi tóc về bên trái, sau khi lấy chồng búi tóc trên đỉnh đầu. Trước đây
phụ nữ ở trần, mặc váy

6-4- Chơ-ro (Đơ-Ro, Châu Ro, 15.000 người ở  Đồng Nai, Bình Thuận, Sông Bé), ngôn
ngữ Môn - Khmer, làm rẫy, Chăn nuôi, đánh cá, đan lát...nhà trai hỏi vợ cho con, nhưng lễ
cưới tổ chức tại nhà gái, chàng trai phải ở rể vài năm rồi vợ chồng làm nhà ở riêng. Chôn
người chết dùng quan tài độc mộc, đắp nắm mồ hình bán cầu. Sau 3 ngày lễ "mở cửa mả"..
văn nghệ phong phú. Nhạc cụ có bộ chiêng 7 chiếc, đàn ống tre, nhà sàn,,  nay nhà trệt.















.
6-5- Co (Cùa, Trầu, 22.600 người ở huyện Trà My Quảng Nam, Quảng Ngãi). ngôn ngữ
Môn - Khmer, làm rẫy, đặc sản cây quế Quảng. nam nữ Co được hiểu nhau trước khi kết
hôn. Việc cưới xin đơn giản, không tốn kém, cô dâu về ở nhà chồng. Thích chơi chiêng,
cồng, trống. Nhà sàn nối dài một nóc. Không dệt vải, mua nơi khác. Nam ở trần, đóng khố,
nữ quấn váy, mặc áo cộc tay, yếm. Trời lạnh mỗi người khoác tấm vải dài, rộn.  Thích vòng
cổ, vòng tay, hoa tai bằng đồng, bạc, nhất là hạt cườm. (quấn quanh eo lưng).

6-6- Cơ  Ho (người Srê, Chil, Lat, 100,000 người tại Đà Lạt Di Linh, ngôn ngữ  Môn -
Khmer, Thờ nhiều thần linh như thần. Người con gái chủ động, vợ chồng sống tại nhà vợ.
Thơ (Tampla), trữ tình. Vũ khúc cổ truyền trong lễ hội. Chiêng, trống da nai, khèn bầu,
khèn môi, đàn 6 dây...làm rẫy và lúa nước.





















6-7- Cơ Tu (người Phương, 37 ngàn tại Quảng Nam, Thừa Thiên), ngôn ngữ Môn -
Khmer, phát rừng (Trường Sơn) làm rẫy, chăn nuôi, dệt, đan lát, hái lượm, đánh cá, săn
bắn, chế độ phụ hệ, họ theo cha, chỉ con trai mới được thừa hưởng gia tài.  khi chết được
chôn cất bên nhau trong bãi mộ chung của làng. Làm nhà mồ, chung quanh mộ dựng
nhiều tượng gỗ, không có tục cúng giỗ, tảo mộ. Khi người họ này đã lấy vợ họ kia, thì
người họ kia không được lấy vợ họ này, mà phải tìm ở họ khác.chồng chết. Vợ có thể lấy
anh em chồng. Khi vợ chết, chồng có thể lấy em hay chị vợ.cô dâu đến ở nhà chồng. Nam
đóng khố, ở trần, đầu hoặc vấn khăn hoặc để tóc ngắn.Nữ để tóc dài búi ra sau gáy, hoặc
thả buông. Xưa để trần, váy ngắn đến đầu gối. Trang sức như vòng cổ, vòng tay đồng hồ
(mỗi người có khi mang tới 5,6 cái), khuyên tai bằng gỗ, xương, hay đồng xu, vòng cổ bằng
đồng, sắt cũng như các chuỗi hạt cườm, vỏ sò, mã não.

6-8- Gié Triêng (Triêng, Ca Tang 27 ngàn người tại cao nguyên Kontum, Quảng Nam, Đà
Nẵng, ngôn ngữ Môn - Khmer, làm rẫy, ngoài ra còn săn bắn, đánh cá, hái lượm các loại
rau rừng, hoa quả, nấm. nuôi trâu bò, lợn, gà chủ yếu dùng vào lễ hiến sinh, Con trai theo
họ bố, con gái theo họ mẹ. Trẻ em trai khoảng 10 tuổi bắt đầu ngủ đêm tại nhà rông,
khoảng 3-15 tuổi thì cà răng và sau đó vài ba năm sẽ lấy vợ. Con gái chủ động trong việc
hôn nhân. Người chết được chôn trong quan tài độc mộc, có đẽo tượng đầu trâu, huyệt
đào rất nông, đưa đám tang chỉ có vài người nhà và sau một thời gian thì làm lễ bỏ mả để
đoạn tang, ở nhà sàn dài, mái đầu hồi uốn khum hình mu rùa. Các nhà trong làng được xếp
thành hình tròn xung quanh nhà rông. Nam giới để tóc ngắn hoặc đội khăn chàm theo lối
chữ nhất trên đầu. Phụ nữ để tóc dài quấn sau gáy. Họ không mang áo mà mang loại váy
dài cao sát nách

6-9- Hrê (Chăm Rê, Lùy, 95.000 người ở  Quảng Ngãi, Bình Định),  ngôn ngữ
Môn - Khmer. Làm lúa nước từ lâu đời. Chăn nuôi phục vụ lễ cúng bái, chăn nuôi trước hết
nhằm phục vụ các lễ cúng bái. "Già làng" uy tín cao quan trọng. Lễ đâm trâu như phong tục
chung ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Thích sáng tác thơ ca, mê ca hát và chơi các loại nhạc
cụ, quí nhất là chiêng, cồng. Xưa ở nhà sàn dài, Nay không còn. đóng khố, mặc áo cánh
ngắn, cà răng. Nay cà răng đã dần dần được xóa bỏ. Thích đeo trang sức bằng đồng, bạc,
hạt cườm; nam nữ đều đeo vòng cổ, vòng tay, nữ có thêm vòng chân và hoa tai



















6-10- Kháng (Xá Khao, Xá Xúa, 4.000 người ở Sơn La, LaiChâu), ngôn ngữ Môn –
Khmer, làm rẫy, chọc lỗ tra hạt, trồng nhiều lúa nếp, nuôi trâu, heo gà, đan lát, trồng bông
đổi vải, Lễ cưới lần đầu cho chàng trai đi ở rể. Lễ cưới lần hai, đưa dâu về nhà chồng.
Người chết được chôn cất chu đáo, trên mộ có nhà mồ. Nhiều vật dụng được chôn theo.
Đầu mộ có cột cao 4-5 mét, trên đỉnh có con chim gỗ và treo chiếc áo của vợ hay chồng
người chết. Ở nhà sàn, trang phục giống Thái đen. Phụ nữ nhuộm răng đen, ăn trầu.

6-11 Khmer (Thổ, Việt gốc Miên, Khơ me Krôm), dân số 1.055.174  người ở Sóc Trăng,
Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Kiên Giang), ngôn ngữ Môn - Khmer, biết thâm canh lúa
nước từ lâu đời, làm thủy lợi, cải tạo đất, trồng nhiều dưa hấu, chăn nuôi trâu bò để cày
kéo, nuôi lợn, gà, vịt đàn, thả cá. dệt, gốm, làm đường từ cây thốt nốt. Thanh niên Khmer
trước khi trưởng thành đến chùa tu học (miền Nam VN có trên 400 chùa Khmer). Các ngày
lễ lớn là Chôn Chơ nam thơ mây (năm mới), lễ Phật đản, lễ Đôn ta (xá tội vong nhân). Đàn
ông  thường mặc bộ bà ba đen, quấn khăn rằn trên đầu. Trong dịp lễ, tết họ mặc áo bà ba
trắng, quần đen.  Nữ  váy hở, quấn quanh thân, áo dài giống người Chàm.

6-12- Khơ Mú (Xá Cẩu, Tày Hạy , 43.000 người ở Nghệ An, Lai Châu, Sơn La, Thanh
Hóa, Yên Bái), ngôn ngữ Môn - Khmer, làm rẫy, trồng ngô, khoai, sắn, nuôi gia súc, gia
cầm, không dệt vải, thường mua quần áo, váy của người Thái, thường mang tên một loài
thú, một loài chim hay một thứ cây. kiêng giết thịt và ăn thịt các loại này. Hôn nhân, vợ
chồng bình đẳng,  tục cưới rể một năm, sau đó mới đưa vợ về nhà. Khi ở nhà vợ, người
chồng đổi họ theo vợ, nếu có con thì con theo họ mẹ, trái lại khi về nhà chồng thì vợ phải
đổi họ theo chồng và các con lại mang họ bố. Con trai cô được lấy con gái cậu. Vai trò
người cậu rất quan trọng. Sống du canh, du cư. Mua quần áo, váy của người Thái để mặc.



















6-13- Mạ (26.000 người tại Lâm Đồng), ngôn ngữ Môn - Khmer, nương rẫy trồng lúa, ngô,
bầu, bí, thuốc lá, bông. Nuôi trâu, bò, gà, vịt, ngan... theo cách thả trâu, bò vào rừng sống
thành đàn, khi cần mới tìm bắt về. Phụ nữ Mạ nổi tiếng về nghề dệt vải truyền thống, Nghề
rèn sắt nổi tiếng, tự luyện quặng lấy sắt, làm thuyền độc mộc, đánh cá ... Người Mạ sống
thành từng
bon (làng), mỗi bon có từ 5 đến 10 nhà sàn. Hôn nhân: Nhà trai chủ động trong
hôn nhân, nhưng sau lễ cưới chú rể phải sang ở nhà vợ, đến khi nộp đủ đồ sính lễ cho nhà
gái mới được đưa vợ về ở hẳn nhà mình. Văn học:  nhiều truyện cổ, huyền thoại độc đáo.
Nhạc cụ có bộ chiêng, đồng, trống, khèn bầu, khèn sừng trâu, đàn lồ ô, sáo trúc 3 lỗ gắn
vào trái bầu khô. Nam để tóc dài búi sau gáy, ở trần, đóng khố. Phụ nữ để tóc dài búi sau
gáy. Xưa họ ở trần mặc váy, có bộ phận mặc áo chui đầu.  

6-14- Mảng (Mảng Ư , Xá Lá Vàng, 2.200 người ở  Lai Châu), ngôn ngữ Môn - Khmer,  
Làm nương rẫy, công cụ sản xuất thô sơ. Một số nơi làm ruộng bậc thang. Nghề thủ công
đan lát. Thờ  trời. Hôn nhân tự do; lúc đưa dâu có tục đánh nhau giả giữa họ nhà trai và
nhà gái để giành cô dâu. Cư trú theo dòng họ, riêng biệt, ở nhà sàn. Có trưởng bản cai
quản cùng hội đồng già làng. tục xăm cằm, lễ thành đinh. Nữ mặc váy dài, áo ngắn xẻ
ngực, choàng tấm vải trắng có trang trí hoa văn. Nam mặc quần, áo xẻ ngực.
















6-15- Mơ Nông (Bu-dâng, Nông): dân số 67.300, tập trung tại nam Đắc Lắc, một phần
tỉnh Lâm Đồng và Sông Bé, làm rẫy, ruộng nước ven sông.hồ, chăn nuôi gia súc, nuôi voi
(ở Bản Đôn người Mơ Nông có nghề săn voi và thuần giống voi). Đàn bà dệt vải, đàn ông
đan lát. Mỗi làng có vài chục nóc nhà, Trưởng làng lớn nhất. Ai cũng thích rượu. Chế độ
mẫu hệ, con cái theo họ mẹ, nhưng tôn trọng nhau. Sanh con sau 1 năm mới đặt tên chính
thức. Cha mẹ già thường về ở với con út. Tục cà răng khi trưởng thành. Tục ma chay: ca
hát gõ chiêng trống bên quan tài suốt ngày đêm tới khi hạ huyệt. Chôn sau 7 ngày hoặc 1
tháng làm lễ đoạn tang. Ở nhà sàn và nhà trệt. Nhà trệt mái gần chấm đất, cửa như tổ tò
vò. Nam đóng khố, ở trần. Nữ mặc váy quấn dài trên mắt cá chân, áo chui đầu, y phục màu
chàm, hoa văn đỏ.

6-16- Ơ Đu (Tày Hạt), 94 người ở Nghệ An, ngôn ngữ Môn - Khmer, nương rẫy, lúa, Hái
lượm và săn bắn vẫn quan trọng trong đời sống kinh tế của họ. nuôi bò, Gà, lợn (cúng bái),
có khách.  Tục ở rể,một thời gian.  Thông thạo tiếng Thái và tiếng Khơ Mú, hầu như đã mất
ngôn ngữ, có lịch tính năm riêng. Trang phục chịu ảnh hưởng Việt - Mường và Thái.

6-17- Rơ Măm (230 người tại huyện Sa Thầy Kontum), ngôn ngữ Môn - Khmer,  làm rẫy,
lúa nếp, gậy nhọn chọc lỗ, săn bắt và hái lượm, dệt vải (nay đã suy giảm), Làng (đê) Le
của người Rơ Măm nay chỉ còn khoảng 10 ngôi nhà ở, có cả nhà rông. Mỗi nhà có từ 10
đến 20 người gồm các thế hệ, có quan hệ thân thuộc với nhau. Hôn nhân: ăn hỏi và lễ
cưới. Sau lễ cưới vài ba ngày, vợ chồng có thể bỏ nhau, nhưng khi đã sống với nhau lâu
hơn thì họ không bỏ nhau. Ma chay: 1-2 ngày đưa đi mai táng. Nghĩa địa nằm về phía Tây
của làng. Tục "cà răng, căng tai". Đến tuổi trưởng thành, trai gái đều cưa cụt 4 hay 6 răng
cửa hàm trên. Nam cắt tóc ngắn ở trần, đóng khố. Nữ thường để tóc dài búi sau gáy, áo
cộc tay vai thẳng,  váy hở màu trắng, đeo hoa tai vòng to, nặng xệ xuống.




















6-18- Tà Ôi (Tôi Ôi, Pa Cô) , 26.000 người ở  A Lưới, Quảng Trị, làm rẫy, có vườn cây ăn
quả, đào ao thả cá. Nhà công cộng kiểu nhà rông dựng giữa làng, hoac  "nhà ma" dựng
ngoài rìa khu gia cư để dân làng  sinh hoạt chung. Con lấy họ cha, chỉ con trai được thừa
hưởng gia tài. Trưởng họ đóng vai trò quan trọng trong cả việc làng. Tự do kết hôn, Tục đi
"sim" tình tự nơi chòi rẫy, trao vật làm tin, rồi nhà trai nhờ người mai mối. Con trai cô với
con gái cậu được kết hôn.Tục cải táng sau vài năm, lúc này mới làm nhà mồ đẹp, trang trí
công phu và dựng tượng quanh bờ rào mồ, đặc biệt là điệu cha chấp trữ tình. Chiêng,
cồng, đàn, sáo, kèn, trống, khèn. ..Tục cà răng, căng tai, xăm mình, để tóc lá bài trước trán
đã phai nhạt đi. Nam đóng khố, mặc áo hoặc ở trần. Nữ:  áo, váy, có nơi dùng loại váy dài
kéo lên che ngực thay áo.

6-19- Xinh Mun (Puộc, Pụa, 10.000 người ở biên giới Việt - Lào thuộc hai tỉnh Sơn La, Lai
Châu). lngôn ngữ Môn - Khmer. Làm nương rẫy, Trước kia, nuôi trâu, dê, lợn... thả rông,
nay nhiều làm chuồng xa nhà, Hái lượm và săn bắn, đan lát khá phát triển, đồ đan đẹp và
bền, đa số mang họ Lò, họ Vi. Con theo họ cha. Con trai cả giữ vai trò quan trọng  Hôn
nhân, nhà trai phải đưa tiền cho nhà gái. Sau lễ dạm, lễ hỏi mới đến
lễ đi rể, thường sau
vài ba năm lúc cô dâu chú rể
đã có vài ba con, nhà trai mới tổ chức đón dâu về. Kể từ lễ
đi ở rể, đôi vợ chồng phải đổi tên riêng của mình, lấy chung một tên khác do cậu, bố mẹ vợ
hay thầy cúng đặt cho.Phụ nữ Xinh Mun thường đẻ tại nhà. Khi con gần đầy tháng, cha mẹ
nhờ thầy cúng đặt tên.(trich). Bắn súng báo tin khi có người chết, ở nhà sàn, mái hình mai
rùa,  hai thang. Trang phục Thái đen (giống người Kháng).



















6-20- Xơ Đăng (Mơ Nâm):  dân số khoảng 97.000, sống tập trung ở tỉnh Kon Tum và miền
núi tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam - Đà Nẵng. Làm rẫy, làm ruộng (nhóm Mơ Nâm), nhưng
chỉ biết dùng trâu và sức người dẵm nát đất. Chăn nuôi, săn bắn, hái lượm, đánh bắt cá,
đan lát, dệt, rèn. Nhóm Tơ-dra có nghề rèn quặng sắt phát triển. Mỗi làng có nhà Rông và  
bãi mộ (nghĩa địa), “Ông già  làng”  điều khiển mọi sinh hoạt. Người Xơ Đăng không có họ,
chỉ phân biệt nam là “A” (thí dụ A Nhong, nữ  là “Y” (thí dụ Y Hên ).  Hôn nhân tự do tìm
hiểu. Vợ chồng trẻ về ở nhà bên chồng hoặc bên vợ ít năm. Có tục cà răng (cưa răng), Lễ
Hội “đâm trâu”,  thích múa hát, chơi cồng chiêng.

6-21- Stiêng (người Xa Điêng 50.000, Sông Bé, Đồng Nai và Tây Ninh), ngôn ngữ Môn -
Khmer,  Nhóm Bù Đéc ở vùng thấp, biết làm ruộng nước và dùng trâu, bò kéo cày. Nhóm
Bù Lơ ở vùng cao, làm rẫy. Mức giàu được tính bằng tài sản như: trâu, bò, chiêng, cồng,
ché, vòng, trang sức.Hôn nhân: Sau lễ cưới cô dâu về nhà chồng,  Người Xtiêng ưa thích
âm nhạc, bộ chiêng 6 cái, cồng, khèn bầu. Nhà người Stiêng như cái chòi, mái được kéo
gần sát mặt đất. Cửa ra vào rất thấp.(rất cổ). Trang phục: đàn bà mặc váy, đàn ông đóng
khố, xăm mình, thích đeo các loại vòng. Trẻ em còn nhỏ đeo lục lạc ở hai cổ chân.

7- Nhóm Mã Lai – Đa đảo  - (Nam Đảo): Chăm, Chu-ru, Ê đê, Gia-rai, Rakglai.




















7-1- Chăm (Chàm, Chiêm Thành, Hroi, Hời): Ngôn ngữ Nam Đảo, dân số gần 100 ngàn
tập trung tại Ninh Thuận và Bình Thuận. Một số nơi khác như An Giang, Tây Ninh, Đồng
Nai, ở đồng bằng, trồng lúa, buôn bán, làm đồ gốm, dệt vải, không trồng cây trong làng.
Dân cư sinh sống trong những ô vuông hay chữ nhật. Chế độ mẫu hệ, con gái theo họ mẹ,
nhà gái cưới chồng cho con, con trai (cũng mặc váy), ở rể, con gái út nuôi cha mẹ già nên
được chia gia tài nhiều hơn. Người Chăm đa số theo đạo Hồi nên khăn và lễ phục mầu
trắng.

7-2- Chu  Ru: 15 ngàn người tại Lâm Đồng, số ít tại Ninh Thuận, Gia Lai, Thờ cúng tổ tiên
và chỉ cúng ngoài nghĩa địa. Thờ nhiều thần liên quan đến các nghi lễ nông nghiệp. Sống
định canh định cư. Một gia đình gồm 3-4 thế hệ. Hôn nhân một vợ, một chồng, con gái chủ
động cưới, người chồng ở rể. Ðứng đầu là trưởng làng (Pô plây), sau là thầy cúng. Có vốn
dân ca , ca dao, tục ngữ phong phú. Nghề làm ruộng lâu đời. Trồng dâu, nuôi tằm, chăn
nuôi. Nghề thủ công: đan lát, rèn và làm gốm. Nghề phụ: săn bắn, hái lượm.

















7-3- Ê Đê (Ra Đê):  Ngôn ngữ Nam Đảo, dân số 195.000, tập trung ở  Đắc Lắc, nam Gia
Lai và phía tây hai tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên. Đàn ông Ê Đê khá cao, mặt hơi dài (thuộc loại
sọ dài), tóc nâu gợn sóng, mắt nâu, mũi nhỏ, miệng loe, môi hơi dày (5). Người Ê Đê làm
rẫy (nhóm Bích làm ruộng nước, dùng trâu giẵm đất), chăn nuôi, săn bắn, hái lượm, đánh
cá, đan dệt. Chế độ mẫu hệ, con cái theo họ mẹ, con trai không được hưởng gia tài, ở nhà
vợ. Về văn hóa có sử thi gọi là “khan” (khan Đam San nổi tiếng), truyện thần thoại, ca dao
tục ngữ. Thích ca hát, tấu nhạc với chiêng cồng, trống, sáo, khèn, đàn đinh. Ở nhà sàn dài
(gia đình mẫu hệ), cầu thang là khúc gỗ liền đục bậc thang. Mỗi đầu nhà có một sân, trước
là  sân khách. Nhà giàu, sân khách rộng, khang trang. Y phục nam: quấn khăn chàm nhiều
vòng trên đầu, đóng khố, áo cộc thêu thành hình chữ nhật trước ngực (mầu đỏ). Y phục
nữ: Mặc váy mở (quấn xà rông), áo ngắn dài tay, chui đầu, mầu nâu và đen, sọc đỏ vàng,
thân áo dài tới mông, bỏ ngoài váy trang trí hoa văn. Xưa để tóc búi tó, nay tóc dài buộc
sau gáy. Trang sức vòng bạc, đồng. Vòng tay từng đôi kêu leng keng.

7-4- Gia Lai (Gia Rai, Giơ Rai, Chơ Rai): Ngôn ngữ Nam Đảo, dân số 240 ngàn, tập trung
ở Gia Lai, một phần Kontum và phía bắc Đắc Lắc. Trồng nương rẫy, lúa tẻ. Nông cụ: Dao
chặt cây phát rừng, cuốc, gậy chọc lỗ tra hạt. Nuôi gia súc, ngựa và voi. Đàn ông đan lát,
săn bắn, hái lượm, đánh cá. Đàn bà dệt vải. Mỗi làng có một nhà rông. Trưởng làng điều
khiển làng. Chế độ mẫu hệ, đàn bà “cưới” chồng. Đàn ông về nhà vợ, không được chia gia
tài.  Ngoài xã hội đàn ông quan trọng hơn. Con gái lấy chồng ra ở riêng và được chia một
phần gia tài.  Văn hóa có nhiều trường ca, chơi chiêng cồng, đàn Trưng, Tưng Nưng,  
Krôngpút, thích múa hát từ nhỏ. Ở nhà sàn. Trang phục nam: Quấn khăn nhiều vòng, hoặc
như khăn xếp mầu chàm. Khố mầu chàm, ở trần hoặc áo chui đầu. Nữ: Tóc dài búi sau gáy
hoặc quấn gọn trên đỉnh đầu. Áo ngắn chui đầu, cổ hình thuyền., váy mở quấn quanh
người. Áo váy đều trang trí hoa văn.

7-5- Rakglai (La Vang 70.000 người  tại nam Khánh Hòa, Ninh Thuận). ngôn ngữ
Malayô - Pôlinêxia, du canh nương rẫy, trồng lúa ngô, Săn bắn, hái lượm và các nghề thủ
công (rèn và đan lát). Sống thành từng pa-lây (làng) trên khu đất cao, bằng phẳng và gần
nguồn nước. Đứng đầu pa-lây là pô pa-lây (trưởng làng), Chế độ
mẫu hệ, lễ cưới chồng,
có nhiều dòng họ, trường ca, truyện thần thoại, truyện cổ tích mang giá trị lịch sử, nghệ
thuật và có tính giáo dục sâu sắc. Ngoài chiêng, cồng còn có đàn bầu, kèn môi, đàn ống
tre... thịt trâu, bò, lợn để tạ ơn Giàng (thần) và ăn mừng lúa mới. Nhà sàn,

8- Nhóm Kađai (Hỗn hợp Nam Á):  Cơ lao, La chí, La ha, Pu péo

8-1- Cơ Lao (Ke Lao) 1.500 người ở  h. Đồng Văn, t. Hà Giang, làm nương, trồng ngô ở
hốc núi đá,  trồng lúa, đan lát và làm đồ gỗ.  Hôn nhân con trai cô được lấy con gái cậu,
con đều theo họ cha, khi mang thai thường kiêng cữ cẩn thận, đốt nhau thành than  bỏ vào
hốc đá, lễ đặt tên cho con sau 3 ngày 3 đêm (trai), 2 ngày 3 đêm (gái). chết chôn cất, xếp
đá thành từng vòng quanh mộ (mỗi vòng 10 tuổi của người chết), rồi lấp đất kín những
vòng đá ấy. Nhà đất, vách đan bằng nứa. Nam mặc quần. Nữ  mặc quần, áo dài 5 thân cài
nách, dài quá đầu gối, được trang trí bằng nhiều miếng vải khác màu khâu đáp lên ngực áo
từ giữa ngực sang nách phải, theo mép xẻ.
















8-2- La Chí (Cù Tê, La Quả), 8.000 người ở  Hà Giang, Lào Cai, ngôn ngữ Ka đai, ruộng
bậc thang trồng lúa nước, nuôi trâu, ngựa, dê, lợn, gà, vịt, cá,không nuôi bò, Nghề dệt vải
bông và nhuộm chàm âu đời. Mỗi dòng họ có riêng trống chiêng dùng vào việc cúng bái,  
ông trưởng họ là người biết cúng. Con cái  theo họ cha. Cưới xin, nhà trai phải nộp khoản
"tiền công nuôi con gái". Nhiều truyện cổ, Trai gái  thường hát ni ca. có trống, Chiêng, đàn
tính 3 dây, đàn môi bằng lá cây..Lễ hội chơi ném còn, đánh quay, đu quay, đu dây, v.v...
nơi bãi rộng cho đông người tham gia. Sống định canh định cư thành từng bản, có nhà sàn
(3 gian, một cầu thang) để ở và nhà đất liền kề để làm bếp. bàn thờ tổ tiên đặt tại gian nhà
sàn to nhất.  Nam áo 5 thân dài tới ngang bắp chân. Nữ mặc áo dài tứ thân, có dây thắt
lưng, yếm, đội khăn dài, mặc quần hay váy tùy người. Nữ  quen đeo địu, Nam đeo gùi
























8-3-  La Ha (Xá Khắc, Khlá), 1.400 người ở  Sơn La, Lào Cai,  ngôn ngữ Ka đai. làm rẫy
theo lối du canh, hái lượm, săn bắn và đánh cá, Chăn nuôi.  Hôn nhântự do tìm hiểu nhau,
cưới gả phải được cha mẹ ưng thuận. ở rể từ 4 đến 8 năm. Hết hạn đó, lễ cưới mới được
tiến hành, cô dâu được về ở nhà chồng. Vợ phải đổi họ theo chồng. Người chết được chôn
theo cả tiền và thóc. Nhà sàn với 2 thang lên xuống tại hai đầu. Người La Ha không dệt vải,
chỉ trồng bông và đem bông trao đổi với người Thái lấy vải mặc, nên mặc giống người Thái
đen.

8-4- Pu Péo (Ka Beo, Pen ti lô lô), 400 người ở Đồng Văn, Hà Giang, lngôn ngữ Ka đai
làm nương và ruộng bậc thang, trồng ngô, lúa, mạch ba góc, đậu. Bữa ăn  bột ngô đồ chín.
Nếu con trai họ này đã lấy con gái họ kia, thì mãi mãi con trai họ kia không được lấy vợ
người họ này. Nhà trai cưới vợ cho con, sau lễ cưới con gái về nhà chồng. Con cái lấy họ
theo cha và người cha, người chồng là chủ nhà. Tang lể gồm lễ làm ma và lễ chay. Nhà
đất, có gác xép. Còn sử dụng
trống đồng trong ngày lễ chay với “trống đực”, “trống cái”
quay vào nhau, dùng củ chuối gõ. nam  Nam  áo cánh ngắn loại xẻ ngực, màu chàm. Quần
là loại lá tọa cùng màu. Trong dịp lễ, tết nam giới thường đội khăn chàm quấn theo lối chữ
nhân, mặc áo dài xẻ nách phải, màu chàm hoặc trắng. Nữ để tóc dài quấn quanh đầu, cài
bằng lược gỗ, hoặc đội khăn vuông. Thường mặc hai áo: áo trong là chiếc áo ngắn cài cúc
nách phải, màu chàm, áo ngoài là loại xẻ ngực, cổ và nẹp trước liền nhau, không cài cúc

Kết luận:  
Theo định nghĩa,
Người Thuợng là người sinh sống trên miền thượng du hoặc trung du
(miền rừng núi, cao nguyên, mạn ngược, vùng cao) và
Người Kinh là người sinh sống
dưới
kinh thành, kinh đô, (miền đồng bằng, miền suôi, dưới tỉnh, dưới phố). Như vậy,
không có dân tộc Thượng hoặc dân tộc Kinh ở Việt Nam. Chỉ có dân tộc Kinh ở bên
Tàu là một dân tộc thiểu số (khoảng 15 ngàn người, nguồn gốc dân tộc Việt, sinh sống tại
3 hòn đảo nhỏ
Vạn Vĩ, Vu Đầu và Sơn Tâm thuộc tỉnh Quảng Tây, gần biên giới Hoa Việt),  
một trong 56 dân tộc Trung Quốc.  
Dân tộc Việt chiếm đa số trong 54
Sắc tộc Việt Nam, thống nhất về ngôn ngữ, phong
tục tập quán và rất hãnh diện về nguồn gốc Lạc Việt của mình, với một lịch sử oai
hùng chống ngoại xâm của tổ tiên. Dân tộc Việt thích hợp với đời sống dưới đồng
bằng, luôn luôn học hỏi tiến bộ văn minh, làm cho nước mạnh dân giàu.
Dân tộc ít người thích hợp với đời  sống trên cao nguyên, nơi rừng núi thường là
biên giới với các nước lân cận, có khả năng bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ rừng để tránh
lụt lội dưới miền xuôi và giữ được môi trường thiên nhiên không khí trong lành.  
Mỗi dân tộc có một sắc thái riêng, nhưng tất cả đều là con dân của nước Việt Nam,
tựa như trăm hoa cùng đua nở trong một vườn hoa Tổ Quốc.  Khi đất nước thanh
bình giàu mạnh và độc lập, tất cả các dân tộc đều được no ấm, tư do. Khi đất nước
bị đô hộ, tất cả cùng phải chịu cảnh lầm than, khổ cực về vật chất lẫn tinh thần.
Như vậy những  dân tộc Việt Nam phải thương yêu nhau, gìn giữ từng tấc núi
sông, biển đảo, cùng  rút kinh nghiệm quá khứ để cải thiện đời sống hiện tại và
phát triển đời sống tương lai.
Song Thuận

(Trích lược nguồn tài liệu “Chim Việt Cành Nam”)


Chú thích: Hình ảnh trích từ  "Chim Việt Cành Nam"
(1)        Theo tài liệu của “Chim Việt Cành Nam” trên internet: http://chimviet.free.
fr/dangnet/54dantoc/dtv00001.htm).
Việc phân chia này chỉ mang tính tương đối vì có nhiều dân tộc được “đặt tên”,
nhưng người trong dân tộc đó không đồng ý.
(2)         Tham khảo tài liệu trên internet: nguồn:http://www.temvn.
net/News/thegioitem/2005/06/225.aspx):
(3)        Xin xem bài “Dân tộc Kinh là gì?”  http://www.hungsuviet.
us/lichsu/Dantockinhlagi.html
(4)        Xin xem bài “Nguồn gốc dân tộc Việt Nam”:  http://www.hungsuviet.
us/vanhoa/TimhieunguongocdantocViet.html
(5)        Theo Nguyễn Khắc Ngữ - Địa Lý Việt Nam.

Tham khảo:
1-        Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim
2-        Địa lý Việt Nam - Nguyễn Khắc Ngữ, Phạm Đình Tiếu.
3-        Đất nước Việt Nam qua các đời – Đào Duy Anh
4-        Sử Trung Quốc - Nguyễn Hiến Lê
5-        Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – NXB - KHXH
6-        Thủy Kinh Chú Sớ - Bản dịch của Nguyễn Bá Mão.



Phụ bản 1-
DÂN TỘC KINH TẠI TRUNG QUỐC
(Quốc Việt – biên soạn theo tài liệu nước ng

Nguồn:  temvn.net

Phụ bản  2:
Bản Thống Kê  Dân Số của Tổng Cục Thống Kê VN

Nguồn: (http://cema.gov.vn/modules.php?
name=Content&op=viewcat&mcid=124&page=3#ixzz0LIv4S1l6&D)
Cô gái Mường
Dân tộc Dao
Cơ Ho
Dân tộc Cơ Tu
Gié - Triêng
Hrê
Khmer
Kháng
Khơ Mú
Người Rơ Măm
Tà Ôi
Xinh Mun
Xơ Đăng
Stiêng
Hà Nhì
Nam, N Chu-ru
Rakglai
Lô Lô
La Hủ
Si La
Dân tộc Nùng
Người Hoa
Sán Dìu
La Chí
Sắc tộc La Ha
Sắc tộc Pu Péo
Sán Chay
Lự
Lào