Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt
Vinh Danh Nguyễn An
Kiến Trúc Sư trưởng  người Việt đã xây dựng Tử Cấm Thánh Bắc Kinh Trung
Quốc
, được  UNESCO công nhận là Di Sản Thế Giới, và xếp vào loại quần thể cổ
bằng gỗ lớn nhất thế giới

Tử Cấm Thành Bắc Kinh
(Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

Tử Cấm Thành (紫禁城) Bắc Kinh, Trung Quốc hay Cố Cung (故宮) (theo cách gọi
ngày nay), nằm ngay giữa trung tâm thành phố Bắc Kinh trước đây, là cung điện của
các triều đại từ giữa nhà Minh đến cuối nhà Thanh Trung Quốc. Viện bảo tàng nằm
trong Cố Cung được gọi là Viện bảo tàng Cố Cung (故宫博物院, Cố cung bác vật viện).
Diện tích Tử Cấm Thành là 720.000 m², gồm 800 cung và 8.886 phòng. Do đó, UNESCO
đã xếp Cố Cung vào loại quần thể cổ bằng gỗ lớn nhất thế giới và được công nhận là Di
sản thế giới tại Trung Quốc vào năm 1987 với tên gọi là Cung điện triều Minh và triều
Thanh tại Bắc Kinh và Thẩm Dương (tiếng Anh: Imperial Palace of the Ming and Qing
Dynasties in Beijing and Shenyang). Khu Tử Cấm Thành tọa lạc tại chính nam của
Quảng trường Thiên An Môn. Có thể đi vào Cố Cung qua Thiên An Môn. Tử Cấm Thành
được hoàng thành bao bọc xung quanh.

Tử Cấm Thành được khởi công xây dựng vào năm 1406 dưới thời Vĩnh Lạc. Sau đó
được Càn Long và Gia Khánh tu sửa lại. Các số liệu thực tế:

Diện tích: 250.000 m²
Số công trình: 800
Số phòng: 8.886
Số nhân lực ước tính: 1.000.000

Tử Cấm Thành được thiết kế bởi nhiều kiến trúc sư và nhà thiết kế.
Kiến trúc sư
trưởng là Cai Xin[1][2] và thái giám Nguyễn An,[3] một người Việt Nam,
còn tổng
công trình sư là Kuai Xiang và Lu Xiang.[1]

Chú thích:
^ a b “Vatican City and the Forbidden City; St. Peter's Square and Tiananmen Square: A
Comparative Analysis. Page 5” (PDF). Asian Perspectives and the University of San
Francisco.
^ Stefan Czernecki and reviewed by Dave Jenkinson. “The Cricket's Cage”. CM
Magazine. University of Manitoba.
^ Tsai, Shih. “Perpetual Happiness: The Ming Emperor Yongle”. Seattle : University of
Washington Press, c2001, p126.


Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh do kiến trúc sư Nguyễn An -
Một tù binh Việt Nam thực hiện

(KIẾN TRÚC VIỆT-Những chặng đường kiến trúc Việt - http://my.opera.com/doanducthanh/blog/tu-cam)
(Friday, 3. July 2009, 12:43:02)

Tư liệu

Đài truyền hình ZDF Dokukanal của Đức quốc đã cho chiếu 2 tập phim tài liệu "China
Verbotene Stadt - Das Vermachtnis des Despoten" (Trung Hoa Tử Cấm Thành - Bản di
chúc của những bạo chúa), trong đó xác quyết công trình kiến trúc này do một tù binh
Việt Nam thực hiện, đó là kiến trúc sư Nguyễn An (Ruan An).

Giáo sư Nguyễn Văn Nhiệm, tác giả "Đường vào Triết học Việt Nam", hiện định cư tại
Đức đã thu lại toàn bộ 2 tập phim tài liệu này và tóm lược nội dung cuốn phim như sau:
"Lịch sử Tử Cấm Thành bắt đầu bằng sự tranh chấp cướp ngôi vua đẫm máu.
Hoàng tử Chu Đệ (Zhudi) là con thứ tư không được truyền ngôi của Minh Thái Tổ Chu
Nguyên Chương, dấy binh cướp ngôi vua của cháu mình rồi lên ngôi vào năm 1402,
xưng là Vĩnh Lạc (Yongle), có nghĩa là Niềm vui vĩnh cửu. Vĩnh Lạc là người đa mưu, túc
trí. Lúc mới lên chín tuổi mà Hoàng tử trẻ đã một mình, không cần người tùy tùng, có thể
tự mưu sinh đươc trong rừng núi thâm sâu, hẻo lánh.

Với bản chất tàn bạo, cho nên vừa lên ngôi, Vĩnh Lạc ra lệnh giết hết tất cả triều thần cũ
để trừ hậu hoạn, nhưng lại trọng dụng đám Thái giám vì họ đã có công làm nội ứng
trong cuộc tranh chấp cướp ngôi vua, mà trong đó có
Nguyễn An, một tù binh Việt Nam
(Vietnamesischer Kriegsgefangene),
có thể do Trương Phụ bắt đem về Tàu từ đời
nhà Hồ.

Vĩnh Lạc dời đô về Bắc Kinh và cho xây dựng cung điện vĩ đại ở đó gọi là Tử Cấm
Thành. Công trình kiến trúc quy mô này đươc giao cho
Nguyễn An chịu trách nhiệm
phác họa sơ đồ, cũng như đôn đốc nhân công."

Xưa nay người Tàu ưa khoe công trình kiến trúc Tử Cấm Thành. Mới đây, trong kỳ tổ
chức Thế Vận Hội Olympic năm 2008, một lần nữa người Tàu khoe cái đẹp của Tử Cấm
Thành, nhưng từ cổ chí kim người Tàu không bao giờ nhắc đến công trình tim óc của
kiến trúc sư Nguyễn An, là người Việt Nam, đã vẽ kiểu và xây Tử Cấm Thành này.

Tại Hoa Kỳ, Đại học Cambridge đã kể rõ công trình của kiến trúc sư trưởng Nguyễn An
trong phần sử về nhà Minh của Tàu, tựa đề cuốn sử: "The Cambridge History of China,
Volume 7, The Ming Dynasty, 1368 - 1644, Part 1".

Mới đây, vào tháng 9 năm 2008, trong tác phẩm "Việt Nam: Suối nguồn văn minh
phương Đông", tác giả Du Miên Lê Thanh Hoa cũng đề cập đến việc này một cách
chi tiết. Trong tác phẩm này, tác giả còn trưng tài liệu từ Sử ký của Tư Mã Thiên,
Kinh Thư và Kinh Thi của Khổng Tử để chứng minh người Tàu đã học văn hóa
của người Việt từ 3.000 năm trước, sau khi người Tàu bắt đầu dừng vó ngựa du
mục, vào đầu triều đại nhà Chu.
Được biết tác phẩm Việt Nam: Suối nguồn văn minh phương Đông đang được dịch
sang Anh ngữ, phổ biến khắp các thư viện Hoa Kỳ và thế giới. Đặc biệt, theo lời
tác giả, để phổ biến đến các bạn trẻ không đọc được tiếng Việt./.

Mở đầu bộ phim  “Tử Cấm Thành Bắc Kinh…" như sau:
“Tử Cấm Thành giữa trung tâm Bắc Kinh, một thời là nơi ngự triều của những hoàng đế
Trung Hoa hùng mạnh, ngày nay vẫn là cung điện lớn nhất trên thế giới. Lịch sử của nó
gắn với hoài bão của một con người. Tên ông ta là: Chu Đệ.

“Chu Đệ là một kẻ tiếm ngôi, ông đã dùng bạo lực để dành quyền thống trị Trung Hoa.
Chu Đệ đày đọa tất cả những ai cản trở tham vọng quyền lực tuyệt đối của mình. Biểu
tượng quyền lực của vị hoàng đế này là Tử Cấm Thành, một thế giới đầy bí ẩn với
những nghi lễ duy trì từ đời này sang đời khác.

“Viên thái giám Nguyễn An là kiến trúc sư trưởng của công trình này. Thiết kế bậc thầy
của ông dựa trên những chuẩn mực lâu đời. Không có chi tiết nào được phát thảo một
cách ngẫu nhiên, mà tất cả đều mang một ý nghĩa biểu trưng nào đó.

“Làm thế nào mà Nguyễn An lại có thể xây dựng một cung điện đồ sộ như thế chỉ trong
có 3 năm?

“Tham vọng xây dựng một cung điện sánh ngang với đất trời của Chu Đệ đã trở thành
hiện thực. Tuy nhiên công trình để đời của ông lại chứa đựng sẵn trong nó mầm mống
của sự suy tàn...”

Thế mà suốt trong 600 năm liền, người Tàu dấu nhẹm tác giả công trình xây dựng Tử
Cấm Thành, niềm hãnh diện của dân tộc và đất nước Trung Hoa. Nay thì đã có các
công trình soi sáng lịch sử, đưa sự thật ra công luận.

Đầu tiên là đại học Cambridge, Hoa Kỳ, vào năm 1986, ghi thuật chi tiết việc kiến trúc
Tử Cấm Thành vào thời Minh Thành Tổ, do kiến trúc sư Nguyễn An, người Việt Nam
đảm trách.

Tháng 9 năm 2008, Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt Nam tại Little Saigon,
California, cho xuất bản tác phẩm Việt Nam: Suối Nguồn Văn Minh Phương Đông
của tác giả Du Miên. Đề tài người Việt Nam vẽ kiểu và xây Tử Cấm Thành Bắc Kinh
chiếm ¼ nội dung tác phẩm.

Tháng 11 năm 2008, đài truyền hình ZDF Dokukanal (Germany) thực hiện bộ phim Tử
Cấm Thành Bắc Kinh: Bản Di Chúc Của Một Bạo Chúa, một lần nữa làm sáng tỏ thêm
về tác giả công trình kiến trúc đồ sộ bậc nhất thế giới này: Nguyễn An, một tù binh Việt
Nam.
Video Tử Cấm Thành Bắc Kinh
Thực hiện: đài truyền hình Đức
Phụ đề Việt ngữ: Phương Thùy (Finland), Xuân Trường và Cẩm Vân (Germany).  
Tử Cấm Thành - Bản di chúc của một bạo chúa - Phần 1/6
Tử Cấm Thành - Bản di chúc của một bạo chúa - Phần 2/6 (mới)
Tử Cấm Thành - Bản di chúc của một bạo chúa - Phần 3/6 (mới)
Tử Cấm Thành - Bản di chúc của một bạo chúa - Phần 4/6 (mới)
Tử Cấm Thành - Bản di chúc của một bạo chúa - Phần 5/6 (mới)
Tử Cấm Thành - Bản di chúc của một bạo chúa - Phần 6/6 (mới)
Lê Quí Đôn đi sứ nước Thanh

Hoàng Xuân Hãn

Nếu ai xét lịch sử Nam tiến của dân tộc Trung Quốc, thì không thể không ngạc nhiên trước
sự ngày nay còn có nước Việt Nam tự chủ trong khi các bộ lạc "Man-di" đã bị thôn tính từ
triền sông Dương Tử đến sơn tuyến từ Ấn Độ sang Đông Hải nước ta. Các nước ở phương
Nam đã không bị quận huyện, chính nhờ sơn tuyến ấy, chỉ trừ đất Lạc Việt thì có năm đường
thủy lục từ biên giới Bắc, châu vào trung nguyên triền sông Nhị, lớn chỉ bằng một phủ của
Trung Quốc mà thôi. Sự tồn tại ấy đã nhờ vào các đức tính thông minh, bền bỉ, tự hào của
con cháu Lạc dân; biết học tập văn hóa người mà không để thâu hóa; biết lợi dụng hình thế,
thời tiết, khí hậu nước mình; biết thừa cơ thế yếu tạm thời của Trung Quốc mà giải phóng
nước mình; biết khống chế Nam thùy không để Trung Quốc lừa gạt liên minh để phân tán
thế lực ta; biết thâu hóa những dân tộc hoặc cá nhân dị chủng, kể cả những người đến đô
hộ mình; và biết nhún nhường, hòa hảo đối với Trung Quốc khi họ không tỏ ý xâm lăng. Với
ý thức ấy, các triều đại nước ta đã nhận quan điểm
Thiên Triều và Phiên Quốc, cũng như
Triều Tiên, Lưu Cẫu, Miến Điện, vân vân ; nghĩa là coi đất mình là Hoàng Đế
Thiên Triều
phong cho, để làm phên giậu ngăn cản ngoại xâm cho Trung thổ. Vậy muốn làm vua "chính
thức" ở
Phiên Quốc, phải được Thiên Triều thừa nhận bằng cách ban sắc phong và ấn; khi
mất thì kẻ quyền nối phải
cáo ai và phải cầu phong. Đáng lí mỗi năm phải tới Thiên Triều ra
mắt một lần, nhưng cũng có thể sai phái bộ thay mình mang phẩm vật tới cống, ấy là lễ
tuế
cống
. Nước ta ở xa, cho nên lễ ấy được giảm dần: lễ vật ít, thời kì ba năm một lễ và đưa tới
sáu năm một lần. Với những điển lễ không phiền hà và tốn kém bao nhiêu, mà Bắc thùy
được yên, và khi có nội loạn hoặc ngoại xâm, vua mình có chỗ cầu cứu. Vì vậy, ngày xưa khi
chưa có luật lệ ngoại giao quốc tế, những hình thức phụ thuộc này được coi là dĩ nhiên.


Những người cầm đầu sứ bộ đều chọn trong đám Triều quan trong ngoài năm mươi tuổi, đời
Lê ít ra cũng đậu tiến sĩ giỏi văn từ, mẫn tiệp, hoạt bát. Người được chọn coi sự ấy là một
danh dự rất cao. Ngoài những lợi lộc như thăng thưởng phẩm hàm, cung cấp bổng lộc, còn
là dịp độc nhất được du lịch nước ngoài, nhất là nước mà họ đã chịu văn hoá hoàn toàn,
viếng những xứ, thăm những chùa đền thờ những vị tên tuổi rất quen qua sử sách; lại có dịp
ngâm vịnh những cảnh cũng rất quen qua các thi hào, được tiếp xúc với các văn nhân
Trung Quốc hoặc Triều Tiên. Lúc về, cũng có thể đem về một số sách và đồ dùng hiếm lạ.
Sự sáu năm chỉ mới có ba người được hân hạnh ấy, làm cho cái danh "phụng sứ" được đề
cao hơn hết các phẩm tước của vua ban. Khi về, phần lớn góp những sự kiến văn có ghi
chép, những thi văn thù ứng và đề vịnh, thành sách để lại cho con cháu và bạn hữu.


Gần cuối triều Lê, đời Cảnh Hưng, hai lễ tuế cống năm 1756 và 1759 cử hành từ kinh đô
Thăng Long vào đầu năm 1760. Vả chăng ở nước ta, trước đó 20 năm, đã có chuyện đổi
vua mà giấu Thiên Triều. Nguyên là, năm 1735, khi vua
Long Đức (Thuần Tông) mất, chúa
Trịnh Giang lập em vua lên ngôi với niên hiệu
Vĩnh Hựu. Vua Thanh cũng chịu sắc phong.
Nhưng đến năm 1740, có phe đảng lập kế truất Trịnh Giang để lập Trịnh Doanh và nhân đó
bỏ vua Vĩnh Hựu mà lập con vua trước, với niên hiệu Cảnh Hưng. Việc này tất nhiên không
để vua Thanh biết. Vậy thì vua Cảnh Hưng ở ngôi trong 20 năm mà không có sắc phong của
vua Thanh. Đối với Thanh, ta vẫn phải lấy tên vua Vĩnh Hựu để giao thiệp, và đối nội thì vua
này được tôn làm Thái Thượng Hoàng. Trong khi đang sửa soạn việc tuế cống này, Thái
Thượng Hoàng mất (8-6 Kỉ Mão 1759). Triều đình ta nhân dịp, xin phó thêm sứ vụ: việc cáo
ai và cầu phong.


Sứ bộ gồm : chánh sứ
Trần Huy Mật 45 tuổi, người huyện Đông Sơn xứ Thanh Hóa, đậu
tiến sĩ năm 1736; giáp phó sứ (phó sứ số 1)
Lê Quí Đôn 33 tuổi, người huyện Diên Hà xứ Hải
Dương, đậu bảng nhãn khoa 1752; và ất phó sứ (phó sứ số 2) là
Trịnh Xuân Chú 55 tuổi,
người huyện Đông Ngạn xứ Kinh Bắc, đậu tiến sĩ khoa 1748. Công chức phụ tá gọi là
hành
nhân,
có 9 người, 3 thông sự (phiên dịch), 2 trung thư (thư kí), 2 y viện (y sĩ) và 2 người
thường vụ. Các sứ lại được chọn một số
tùy nhân để giúp việc riêng, số là 11 người; và có
thể đem theo một người bà con thân cận gọi là môn tử. Lần này với 2
môn tử, sứ bộ gồm tất
cả 25 người.


Ngày 28 tháng giêng năm Canh Thìn 1760, sứ bộ qua sông Nhị, đi đường bộ tiến lên
Lạng
Sơn, rồi tới Ninh Minh là bến đò đầu tỉnh Quảng Tây. Từ đó xuống thuyền, định theo đường
sông
đến Bắc Kinh, qua Nam Minh, Ngô Châu, Quế Lâm; vượt các cống Linh Cừ nối sông
Quế với sông Tương, rồi xuôi dòng đến
hồ Động Đình, xuôi sông Dương Tử đến Nam Kinh;
chuyển sang sông đào
Vận Hà thẳng lên Bắc, vượt Hoàng Hà rồi tới vùng Bắc Kinh. Đến
đây đã mùa đông, sông bị giá đóng, sứ bộ phải lên bộ. Ngày mồng 8 tháng 12 mới tới Bắc
Kinh. Sứ bộ lưu ngụ Bắc Kinh gần ba tháng, làm trọn các nhiệm vụ sứ thần: hành các lễ
Tiến Biểu (dâng tờ trình tuế cống) và
Cáo Ai (10-12), lễ Triều Kiến (chào Vua Càn Long, 15-
12), lễ Triều Hạ (mừng năm mới 1-1 năm Tân Tị 1761), lễ
Yết Văn Miếu (cốt để điều-tra các
lệ nghi và tự-khí, 10-l)


Sứ bộ muốn xin về gấp để đón các sứ thần vua Càn Long sai sang phong vương cho vua
Cảnh Hưng. Nhưng phải đợi đến ngày mồng 1 tháng 3 mới xuống thuyền về. Lại bị những kẻ
tiễn về, lợi dụng sự hộ tống Nam Sứ để buôn bán lậu muối dọc đường, cho nên ngày 24
tháng 12 mới về đến
Thái Bình gần bến đổ bộ để về nước. Lệ xưa, quá ngày 23 tháng chạp,
thì các việc quan đều đình. Cho nên sứ bộ phải lưu lại trong những ngày tết, và có lẽ phải
đợi đến ngày 28 tháng giêng mới qua
cửa Nam Quan về nước.


Trong vụ đi sứ lần này, Lê Quí Đôn đã soạn một sách chép hết sức tường tận mọi sự việc,
mọi văn từ và đề là
BẮC SỨ THÔNG LỤC gồm 4 quyển: Quyển 1 chép tất cả mọi việc và
mọi công văn có liên quan đến sứ vụ trong thời kì trù bị (20-l0 Mậu Dần 1758 - 20-12 Kí Mão
1759). Quyển 2 và quyển 3 chép hành trình đi đến Bắc Kinh, các việc làm dọc đường và lúc
ở Bắc Kinh; rồi chép hành trình đi về đến quá Nam Kinh. Chẳng may hai quyển nầy có lẽ đã
mất. Quyển 4 kể hành trình khi về, từ
Sa Châu, trên sông Dương Tử đến Thái Bình trên
sông Tả Giang (từ ngày 26-6 Tân Tị 1761 đến quá 7-1 Nhâm Ngọ 1762). Trong quyển nầy,
tác giả chép nhật kí, ghi rõ tên đất, tên người, độ đường, câu chuyện vân vân. Qua đó ta
thấy rằng quả thật Lê Quí Đôn là một nhà học giả lỗi lạc, có óc khoa học, thiết thực, cụ thể,
đủ mọi tài về văn chương, biết làm thơ, biết kể chuyện, biết kí tải, biết giao thiệp. Không
những về lí học, mà cả về sử học, lúc mới hơn 33 tuổi mà đã tinh tường. Ông có trí nhớ lạ
thường. Chính ông kể lại, trong khi tham quan mọi nơi, ông đọc các câu đối các biển, lúc về
thuyền nhẩm lại đều nhớ hết. Tục truyền rằng ông đọc sách gì một lần đủ nhớ luôn, kể cả
những sổ bạ. Người ta lại kể chuyện rằng có lúc ông đọc một bia bị nước lũ dâng chóng
ngập chân, ông đã đọc ngang từ dưới lên trên, mà khi về ông cũng chép lại bài bia được. Ví
với ngày nay những kẻ có thể đánh cờ trầm mấy chục ván một lần, hay những người tính
nhẩm những phép nhân chia hàng chục con số, thì ta thấy rằng những chuyện kể về trí nhớ
của ông không ngoa.. Từ thủa nhỏ, ông đã nổi tiếng thần đồng. Thi đậu tam khôi (ba lần
đầu: ở tỉnh, ở kinh và ở cung điện) trong khi cha, là
Lê Phú (sau đổi ra Viết) Thứ đang làm
quan Triều và cũng xuất thân Tiến Sĩ. Tuy vậy, ông cũng không đậu đại khoa sớm như hai
thần đồng đời Trần: Nguyễn Hiền (13 tuổi) và Nguyễn Trung Ngạn (16 tuổi). Nhờ vậy, ông
đã có thời giờ đọc và viết sách nhiều trước lúc ra làm quan. Khoa Nhâm Dần 1752 chỉ có 6
tên trên bảng ; ông đứng đầu với bực Bảng Nhãn (năm bực là : Trạng Nguyên, Bảng Nhãn,
Thám Hoa, Hoàng Giáp và Tiến Sĩ). Tuy bực rất cao, nhưng ai cũng cầm chắc ông đáng bực
Trạng Nguyên, nhưng trong bài thi có câu hỏi một chuyện chính trị đời Đường Thái Tông mà
Đường Thư không chép và chỉ có ghi trong sách
Trinh Quan Chính Yếu. Riêng ông, ông rất
tiếc vì tủ sách nhà vốn có sách ấy nhưng có người mượn mất.


Chuyện ông được đi sứ, thì cũng lẽ tất nhiên. Trong bài Đề Từ sách
Bắc Sứ Thông Lục, ông
kể chuyện rằng : « Khi ta mới tám chín tuổi, học sách Luận Ngữ (Khổng Tử) với cha, đến
câu « Làm việc biết điều đáng thẹn, đi sứ bốn phương mà không làm nhục mệnh Vua, như
thế có thể gọi là kẻ Sĩ » cha tôi hỏi : « Mầy có thể làm như vậy không ? » Tôi đáp : « Chỉ biết
thẹn là khó mà thôi. Còn đi sứ làm vẻ vang Nước nhà, làm trọng mệnh Vua, thì có khó gì ? »
Cha tôi cười mà bảo: « thằng bé này có hào khí ! » và dạy rằng: « Ý khí thì cố nhiên nên
hào, nhưng không nên quá. Nên không nhún, không rời phẩm cách, nhưng phải nhã nhẵn,
nhẹ nhàng, đừng để lộ ra một chút thô suất » Tôi thưa : « vâng.»


Trong tựa sách trên, tựa viết năm 1763, ông lại kể rằng:


« Ở nước Nam ta, tiền bối đi sứ có để lại nhiều tập thơ nhưng chưa ai kể lại các sự việc.
Năm Vĩnh Hưu Đinh Tị (1737). T
ổn Trai tiên sinh họ (Lê Hữu Kiều, người huyện Đường
Hào, đậu Tiến Sĩ khoa 1715) được sung phó sứ đi mừng vua Càn Long lên ngôi, có chép
việc sử, nhật trình, đường đi, thơ văn thù ứng, vấn đáp và các sự tích, phong tục nghe thấy,
viết thành sách đề là
Sử Bắc Kí Sự. Khi ta chưa đậu, ông từng đưa cho ta xem và bảo : «
Đây là sách ta lược biên để có thể mang theo trong túi áo. Cậu ngày sau chắc sẽ được chọn
đi sứ. Cậu nên sẽ tiếp tục chép nhiều thêm để cho được nhiều sự trạng và lời văn vẻ hơn ».


Theo các chuyện trên, nhiều người đoán trước rằng ông sẽ phụng sứ. Năm 1758, ông được
triều đình đề cử trong số sáu người đưa chúa Trịnh Doanh lựa chọn. Trong bài
Đề Từ, ông
kể rằng: " Chúa thật không muốn ta đi xa. Mùa thu năm Kỉ mão (1759) Chúa bảo Cổn quận
công rằng muốn lưu ta ở lại để hầu chính sự; rồi hỏi ý ta. Ta quì tâu: « Cám ơn Thánh
Thượng muốn tài bồi cho. Tôi, trên luyến Vua, dưới nhớ cha, há lại không muốn xin ở lại.
Nhưng tôi nghĩ rằng từ xưa làm quan, ất nên lịch duyệt cho đủ. Ba năm đi về cũng không
phải là lâu. Vậy xin vẫn được đi sang xem chính trị của Thượng Quốc ra sao, nhân vật họ ra
sao ? » Chúa bằng lòng ".


Vì còn ít tuổi, chức tước chưa cao, cho nên ông chỉ được sung phó sứ số một, nhưng kì thật
thì trong các cuộc ứng đối, ông đứng hàng đầu. Trong phần nhỏ sách kí sự của ông còn lại,
ta cũng thấy người Trung Quốc để ý đến ông hơn chánh sứ nhiều. Lời ông viết nối trong
Đề
Từ:
" Từ trước đến nay, văn thần được tuyển đi sứ là trên dưới 50 tuổi. Mà tôi vâng mệnh đi
lần này, tuổi mới hơn 30, bề ngoài còn hăng hái sỗ sàng. Tự vui thích chơi bời bay nhảy,
cảm tình với xưa, tò mò với nay. Đến đâu cũng đề vịnh (xướng họa với chánh sứ đến vài
trăm bài). Đến những chỗ công sảnh, nhà quan, hễ thấy đối liễn, thơ đề trên quạt, ta đều
nhẩm ghi để khi về thuyền sao lại . Ta lại được các bậc cao sĩ phu Trung Châu đem thi từ
thân tặng. Cho nên trong lúc này có ghi nhiều văn từ thấy ở các công thự, ở phong cảnh núi
sông, những lời hỏi đáp với các quan liêu ".


Sự thành tựu của sứ vụ, thì ông tự phê bình trong
Đề Từ : " Ta vừa qua Nam Quan, liền gặp
quan Tuần Kiêm họ Tra đưa thơ thách họa. Dọc đường gặp các quan liêu, bậc cả, sĩ phu
đặt những câu hỏi hóc búa, họ bắt bẻ tranh luận như là kẻ địch. Lại có sứ Triều Tiên, quan
Khâm Sai bạn tống đều là những bậc văn hào. Họ đã không coi mình là người nước ngoài
mà khinh, đã tiếp chuyện nhiều lần. Tôi may nhờ hồng phúc, dùng văn tự nói chuyện, may
khỏi bị khinh khi, mà còn được tán khen. Các sách
Quần Thư Khảo BiệnThánh Mô Hiền
Phạm Lục
là những sách tôi soạn trước 30 tuổi, được các người thích và giữ như của quí.
Vậy mới biết lòng người không khác nhau. Lấy lòng thành thật chính trực đãi nhau, lấy văn
tự làm quen nhau thì người bốn bể đều là anh em cả .... Vả chăng nếu mình rụt rè, tự coi
mình là người nơi xa vắng, ít giao tiếp, ít nói năng thì bị người ta khinh bạc, mà dùng tiếng
Di
Ngôn Di Sứ
(lời mọi, sứ mọi) mà chỉ chúng ta ".


Chính vấn đề các viên chức Thanh ở biên giới vẫn luôn luôn dùng tiếng DI (mọi) để trỏ
người mình, kể cả sứ thần, là một điều mỗi lúc sứ ta sang, đều phải tranh biện phản đối và
đòi cải cách. Khi đi về đến Quế Lâm, sứ bộ gửi tờ trình cho viên Tuần phủ Quảng Tây xin
cho các viên chức sắp gặp sứ bộ, thôi dùng chữ DI. Đại ý tờ trình như sau : Trong các công
văn và khi tiếp đón sứ thần mọi nơi đều gọi hai tiếng An Nam . " Thế mà ngày chúng tôi đến
cửa Quan, quan đạo Tả Giang tới mở khóa, sứ thần vào lạy Long Đình, thì lễ sinh xướng lễ
chỉ hô :
Di quan, Di mục, trỏ rõ sự nghiêm ngặt, làm chúng tôi hổ thẹn rất sâu. Đến khi tới
Nam Ninh, yết quan Đạo Đài, đến Ngô Châu yết quan Hiệp, giữa đám đông người mà vẫn
dùng chữ DI ". Sứ thần xin theo lệ đời Ủng Chính thứ 9 (173l) giới thiệu các sứ thần bằng
chức danh. Viên Bố Chánh biện luận một cách khôn khéo rồi nhận lời, như ta sẽ thấy trong
tờ trình của sứ bộ gửi về chúa Trịnh Doanh.


Tờ trình nầy rất quí, vì được làm bằng tiếng Việt, có lẽ để người Thanh không đọc được, nếu
chúng tò mò. Tuy cả ba sứ thần cùng kí tờ nầy, nhưng tôi tôi tin rằng chính Lê Quí Đôn đã
thảo. Cũng như trong các văn kiện bằng nôm thời xưa, bài trình nầy thường dùng Hán văn
xen vào trong câu Việt ngữ. Tôi sẽ viết những phần ấy bằng chữ nghiêng và kèm lời tôi diễn
nôm ở sau trong vòng đơn. Sau đây tôi sẽ trích một vài đoạn (Toàn bài đã được in với chử
nôm trong Tập san Sử địa số 6, Sàigòn 1967) :


" Tháng 10 ( năm Tân Mão 1761) ngày mồng 7, chúng tôi đến Quảng Tây tỉnh thành (Quế
Lâm) ... Ngày mồng 9, quan phủ Quế Lâm xuống khám thuyền (xét đồ quốc cấm đem về
nước). Kì trước, chúng tôi tiến quan (qua cửa Nam Quan) với vào chí kiến (chào) quan Nam
Ninh, thì nó cũng chiếu cựu lệ, nó xướng rằng : « Di quan kiến » (quan mọi chào). Kì nầy
chúng tôi cũng có đầu văn (nộp thư) nơi quan vũ viện đạo đạt tình diêu xin hành văn đạo,
phủ, hễ nghi chú văn thư, đình DI QUAN tự (đến quan Tuần Vũ, kể rõ thắc mắc, xin gửi tờ
sức cho các đạo, các phủ, bảo: phàm trong nghi lễ, văn thư, sẽ thôi dùng chữ di quan, nghĩa
là Quan mọi). Tối hôm ấy, quan Bố Chánh họ Diệp (tên Tồn Nhân) truyền hai quan bạn tống
(quan Thanh đi kèm sứ bộ) với thông sự (phiên dịch) lên Công đường; trước hỏi: « Ủy vấn
Cống sứ nhất lộ tân khổ ? » (thăm hỏi các Cống sứ, dọc đường khó nhọc không). Sau lấy
trình văn bảo rằng: « Nghiện cá thậm hảo, thuyết đắc hoạt lí. Đạn cổ ngữ văn : THUẤN sinh
ư Gia phùng, đông di chi nhân dã; Văn vương sinh ư Kì chu, tây di chi nhân dã. DI tự
nguyên phi khinh mạn Quí quốc. Kim Sứ thần dĩ thử vi ngôn, dĩ mông Vũ đài chuẩn doãn,
hành nhất giác công văn, truyền Tả giang đạo cấp các phủ, tự hậu đình hô DI tự xưng AN
NAM quốc sứ ...» (Văn này rất hay, nói rất đúng lí. Nhưng lời xưa đã nói : vua Thuận sinh đất
Gia phùng, là người mọi phía đông; vua Văn vương sinh đất Kì Chu, là người Mọi phía Tây.
Dùng chữ Di vốn không phải để kinh nhờn Quí quốc. Nay sứ thần đã đem sự nầy bày tỏ nên
lời thì đã được nhờ ơn quan Tuần vũ bằng lòng nghe. Đã gửi một ống công văn truyền cho
đạo Tả giang và các phu, dặn từ rày về sau đừng hô chữ DI nữa, và gọi là Cống sứ nước
AN NAM. Sứ có thể về nước thưa với Quốc vương được rõ. . .)


" Vả tiết nầy, chúng tôi trộm xem quan Trung Quốc có lòng kính trọng Bản quốc, dĩ cập kì sứ
(vì đó trọng cả sứ ta). Từ ngày chúng tôi tiến Kinh, Hồ Nam, Hồ Bắc, An Huy, Giang Nam,
Sơn Đông, ngũ tỉnh ấy, quan Tổng đốc, Tuần vũ đều đặc ủy thuộc liêu, quan viên hộ tống.
Khi khởi lục, thì duyên đồ châu huyện bôn tẩu cung ứng, trương mạc kết thể (khi lên bộ thì
dọc đường các quan châu huyện chạy cung cấp đồ ăn đồ dùng, trương màn kết vải màu để
đón rước). Khi vào triều hạ (chầu mừng vua Càn Long) thì quan Nội các, Lục bộ đại-thần
đều tựu vấn, hữu lời tưởng lao (tới hỏi thăm, có lời khen lao). Mấy (với) như cống sứ Cao Li
cống sinh nước Lưu Cầu, gặp chúng tôi cũng hỏi han thư từ vãng phục. Kẻ thì rằng lập chí
trung hậu, kẻ thì rằng Văn vật chi thịnh. Chúng tôi đều tùy sự đối đáp. Chuyện đối là sứ thần
chức phận, chúng tôi không dám ghi lai lịch phiền độc (kể chi tiết làm nhàm tai).


" Chúng tôi bồi thần tam viên, với hành nhân cửu danh, tùy nhân thập tam danh (ba sứ thần,
9 phái viên, 13 tùy phái) muôn nhờ hồng phúc đều được bình ninh. Như môn tử (con em)
chúng tôi cũng có đem sang, cũng đều được mạnh khoẻ cả. Chúng tôi gửi dộng (tâu) lạy BỀ
TRÊN muôn muôn năm. Tư cẩn khải (nay kính thưa) ".


Tờ khái này có lẽ viết ngày 13 tháng Chạp năm Tân Mão 1761. Sứ bộ tưởng trước Tết sẽ về
đến nhà, nhưng phải đợi gần một tháng ở Thái Bình, quan Thanh mới chịu mở cửa Quan.
Tiếc rằng bản Bắc Sứ Thông Lục đã bị mất phần cuối, cho nên ta không còn biết hành trình
từ Thái Bình về và có quả thật bọn biên lai Trung Quốc có bỏ tiếng DI chăng. Tuy vậy phần
còn lại cho ta biết nhiều câu chuyện giữa Lê Quí Đôn với các nhân vật nước Thanh khi phải
đợi lâu và ăn Tết ở Thái Bình. Sau đây sẽ kể một vài chuyện.


Chuyện khám thuyền - Khi thuyền về đến Quế Lâm, theo lệ, quan Thanh xuống khám
thuyền để tịch thu các vật và sách cấm. Đồ cấm có vũ khí và diêm tiêu dùng làm thuốc súng.
Các cống sứ phải làm tờ cam kết, trong đó có nói :


" Năm Càn Long thứ 25, chúng tôi vâng mệnh Quốc vương mang tuế cống và tờ biểu và
nghi vật tới dâng. May được Thánh ân ban cho quốc vương vải vóc, trong đó có thứ đoạn
hoa Đại Mãng, Thổ Qua. Còn như diêm tiêu, quân khí và tất cả những món hàng cấm thì
không hề mang về. Đó là điều chúng tôi cam-kết là thật ". Tất cả sứ bộ phải khai các sách
đã mua, rồi phải gánh các hòm sách lên Trạm Ân Đình. Quan Thanh giữ lại một số, rồi bảo
khai giá tiền mua để được bồi thường. Trong số sách bị thu có bộ UYÊN GIAM LOẠI HÀM là
một thứ tự vựng bách khoa về văn học gồm 450 quyển, vua Khang Hi sai soạn. Lê Quí Đôn
phải làm đơn xin trả lại, viện lẽ rằng trong sứ vụ Phạm Khiêm Ích (1724) vua Ủng Chính đã
ban bộ sách ấy cho vua mình. Quan Thanh bằng lòng, nhưng giữ lại 23 bộ sách khác trị giá
chỉ hơn 4 lạng bạc. Đó là những sách có tính cách chính trị, kinh tế, bói toán, địa lí, y khoa,
thần tiên. Của riêng Lê Quí Đôn, có 5 sách bị thâu :
Phong Thần Diễn Nghĩa, Nam Du Bắc
Du, Uyên Hải Tử Bình, Tử Vi Đẩu Số và Mai Hoa Dịch Số.
Qua những tên sách nầy ta có thể
đoán rằng ông tin bói toán và thích tiểu thuyết phong thần..


Chuyện bút đàm với học giả Trung Quốc - Ngoài những nhịp dọc đường, Lê Quí Đôn tiếp
chuyện với những quan địa phương, tặng thơ đáp câu đối, hoặc đàm đạo thường xuyên,
Bắc Sứ Thông Lục còn giữ được lời ghi những buổi bút đàm với một Nho gia và sử gia có
học uyên thâm, là CHU BỘI LIÊN bấy giờ được phái đến Quảng Tây chấm hương thi. Ý
chừng y đang khảo cứu về địa dư vùng Nam qua lịch đại; cho nên y hỏi Lê Quí Đôn về sự
biến cải địa danh ở nuớc ta từ đời Tần Hán đến đời Minh. Ông trả lời rất đầy đủ , ghi đến
hơn 2000 chữ. Đọc qua, ngày nay chúng ta thấy ông đã thuộc những phần địa chí trong các
sử thư Trung Quốc. Không những ông đã dẫn chứng lấy trong Nhị Thập Tứ Sử, mà còn dẫn
những ngoại thư như Giao Quảng Xuân Thư của họ Vương và Nhĩ Thu của Trương Tân.
Không những ông bàn địa dư Giao Chỉ mà còn so sánh với sử địa Triều Tiên. Trái với nhiều
học giả nước ta đời xưa, ông đã để ấn tượng là người uyên bác về quốc sử khi mới hơn 30
tuổi. Ông lại đưa hai quyển sách đã soạn, Thánh Mô Hiền Phạm Lục và Quần Thư Khảo
Biện cho Chu xem và xin đề tựa. Chu đã thấy rằng ông có chí, học rộng, cảm thấy nước ta
có văn học, và " tiếc rằng Quế Đường (hiệu ông) sinh ở Nam Phiên, không thể ở lâu tại
Trung Châu. Nếu được ở Trung Châu vài năm, cùng thầy có tiếng đạo đức văn chương
giảng giải và nghiên cứu để tìm tình tứ Chu Công, Khổng Tử, thì ta không thể lường được
ông sẽ tiến đến đâu " (Xem tựa sách Thánh Mô Hiền Phạm Lục). Qua câu phê bình đạo mạo
của một văn gia đứng tuổi ớ Trung Châu đối với một dân phiên thổ, tuy đậu bảng nhãn,
nhưng trẻ vào bậc học trò mình, ta cảm thấy sự ngạc nhiên và kính nể của người cao sĩ
Trung Quốc đối với Lê Quí Đôn và đối với nước ta. Nguyên Thủy Chu Bội Liên đã nghe
người khác mách rằng sách Thái Tử Tuyên Kí nói rằng An Nam thờ Giải Tấn (một quan nhà
Minh sai sang cai trị nước ta sau khi Hồ Quí Li bị bắt. Xem tập-san Khoa-học Xã hội số 4
trang 121) và coi y như bậc Thánh, cho nên khinh thường trình độ văn học nước ta. Y có nói
đến sự ấy trong bài tựa dẫn trên. Vì vậy Lê Quí Đôn đã phải biện bác dông dài, kể những
người nước ta có văn danh trước khi Giải Tấn tới, Trương Hán Siêu, Nguyễn Bá Quát,
Nguyên Trung Ngạn, Phạm Sư mạnh, Chu Văn An đời Trần. Trước nữa đời thuộc Đường,
đã có bảy người đậu Tiến Sĩ và Khương Công Phụ lại đậu chế khoa. Cho đến những người
Minh sang cai trị An Nam, thì Hoàng Phúc còn để tiếng lại; chứ Giải Tấn thì không ai biết đến.


Ông nói tiếp: « Nó là một khách thương qua chơi, sao có thể đến Quốc tử giám (Văn miếu),
mà biết rõ điển chương, văn hiến của nước tôi » (trong Thuyết Linh nói An Nam không thờ
Khổng Tử, mà thờ Giải Tấn).


Chuyện kiến trúc thành quách - Chu Bội Liên chấp nhận lời biện bác ấy rồi chuyển sang
hỏi về cửa thành.


Y hỏi : « Tôi nghe nói rằng thành xứ Phù Nam (Cam-bu-chia) có bốn cửa, cửa Tiền hướng
Đông. Thấy chép như vậy trong sách Giang Đông Cựu Sự, nhưng tôi lấy làm nghi, vậy cửa
Tiền ở Quí quốc quả như thế không ? »


Ông đáp : « Từ xưa, dựng đô lập ấp, phải xem âm dương, xét trời đất, nhắm trước sau, thẩm
cao thấp; kết-quả là chưa có cửa Tiền thành nào không quay về hướng mặt trời. Ngày xưa,
đương triều nhà Nguyên trước, có thể cửa Tiền ở thành Phù Nam ngảnh về Đông, nhưng tôi
không thể biết (Lê Quí Đôn có lẽ đã đọc sách
Chân Lạp Phong Thổ Kí của Chu Đạt Quan
đời Nguyên tả thành Angkor). Còn như Đô Thành nước tôi, thì cùng một chế với thành
quách xưa nay.
Vả chăng, chín cửa thành Kinh sư (Bắc Kinh) và những dinh thự sáu bộ và
các Tự, các Viện đều bởi quan thái-giám nước tôi tên
Nguyễn An xây nên đời Vĩnh Lạc Việc
ấy được chép trong s
ách Hoàng Minh thông kỉ. Nhân tiện xin trình ».


Chu nói : « Quí quốc có nhiều người tài nghệ như thế, mà tôi nghe rằng hiện nay, các trị sở
tại trấn, phủ, huyện đều không có thành quách, là tại sao ? »


Lê Quí Đôn đáp : « Sách
Hán chí chép : Giao chỉ có hơn 60 thành. Gần đây, trong khoảng
triều Minh cai trị, cũng đắp hơn 20 thành. Không phải rằng nước tôi không biết giữ nếp cũ,
nhưng ban đầu, khi quốc triều (Lê) mới lập, đã san bằng hết. Chỉ ở trấn thị, đắp luỹ đất mà
thôi . Tôi trộm nghĩ rằng đó bởi có thâm ý...»


Chu hỏi : « Tại sao ? »


Đáp : « Nước nhỏ tôi và nước lớn Ngài, sự thể không giống nhau. Nay may được Thánh
triều ôm ấp vỗ về, hai nước thành một nhà, không phải trở lại lo nữa. Nhưng trong buổi đầu
triều Nguyên và triều Minh, bị tụi biên thần tham công mà sinh sự với nước tôi. Chúng tôi sợ
bị đột nhập. Nếu tụ nhau ở trong một thành, ngồi để chịu vây đánh, thì chẳng là kế hay. Dân
chúng là lính, làng mạc là của. Nếu ở linh tinh phân tán, thì muốn đánh cũng không chỗ nào
mà đánh, muốn cướp cũng không thấy đâu mà cướp. Trái lại, nhân chỗ họ mà phá rối, đặt
phục mà cản đường. Làm như vậy mới có thể giữ nước ».


Những câu trả lời trên thật là lí thú. Một mặt, nhờ Lê Quí Đôn nhắc lại, chúng ta được biết cái
cửa Thiên An Môn cùng 8 cửa khác của thành Bắc Kinh là công trình của người nước ta,
cũng như doanh thự trong thành. Việc nầy người Trung Quốc đời nay vẫn biết. Một mặt
khác, ông đã giải thích một cách chí lí chiến lược " của không nhà trống ", phân tán du kích,
để cảnh giác người Thanh. Chu Bội Liên phải khen rằng: « Sứ quân biện cực tài ! Nhưng
cuối cùng, tôi cho rằng như thế không bằng xây thành quách làm hiểm trở mà tự thủ ... ! »


Rồi sau khi Lê Quí Đôn lí luận bác thuyết Việt Thường hiến bạch trị cho Chu Vương và Chu
Vương cho xe chỉ nam, Bội Liên mừng rỡ mà khen : « Bàn luận thật là khoái, khiến người
thán phục và kính trọng ! ».


Và ngày nay, đọc đến đây, cũng phải thán phục một người trẻ tuổi, học tiếng nước ngoài,
phải theo đòi cử nghiệp, mà đã kiến thức mông mênh, lí luận chắc chắn, ứng đối mẫn tiệp
như Lê Quí Đôn. Thật ông đã làm đúng như lời hứa với cha khi tám chín tuổi: làm vẻ vang
Nước nhà.


Mùa đông năm Kỉ mùi


Hoàng Xuân Hãn