Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt
                   Tổ chức làng xã cổ Việt Nam
                                                             Song Thuận
                                                                                    (CLB/HSV)

    
Làng xã cổ Việt Nam thường được thiết lập trên một khu đất gần trục lộ giao thông
như  bên một con sông hay gần con đường cái quan (đường lớn), gồm có một số dòng họ
tụ tập sinh sống với nhau thành từng xóm. Vài xóm họp lại thành làng, còn gọi là
thôn.
Làng là tiếng Viêt,  Xã là tiếng Hán. Một hay nhiều thôn họp lại thành Đại Xã.

   Bao quanh làng thường là một lũy tre xanh, có cổng làng, và gần bên là ruộng đồng bát
ngát, thẳng cánh cò bay.
Nơi sinh hoạt công cộng của Làng là
Đình.












Đình làng -  (hình trích từ Knowledge of Vietnam)

Đình làng cổ Việt Nam: Mỗi làng xã Việt Nam thường có một ngôi Đình, gọi là Đình Làng.
nơi có tới 3 ngôi Đình.

   
Đình là nơi thờ Thành Hoàng (vị thần linh coi sóc việc làng về phương diện tinh thần). và
cũng là nơi sinh hoạt công cộng về hành chánh, văn hóa, xã hội, lễ Tết (hội hè đình đám)
của dân làng.

Đình cổ được xây cất ban đầu chỉ là những trạm nghỉ chân, gọi là “Đình Trạm”.

Dịch Đình  là những ngôi nhà công cộng, quét vôi trắng có dán cáo thị, xuất hiện từ thời Lý
Trần (thế kỷ 11 – 14).

Đình Trung được coi  như nơi hội họp tại làng xã theo tôn ti trật tự, thứ bậc trên dưới và lễ
nghi như một
tiểu triều đình.

Một ngôi Đình cổ thường được xây cất rất kiên cố, cột lớn làm bằng gỗ lim hay loại gỗ tốt,
mái lợp ngói uốn cong (mái rộng lớn, nên cần rất nhiều ngói):

“Qua Đình ngả nón trông Đình”
“Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu” (ca dao)

Hướng Đình thường trông ra sông, rạch, ao, hồ hay chỗ trũng có đọng nước theo “phong
thủy”. Ao hồ thường trồng hoa sen, hoa súng và thả cá để mỗi dịp lễ, Tết, trai tráng ra đó
tát nước bắt cá và dọn sạch ao. Chung quanh ao, hồ trồng cây liễu, tàn lá rủ thướt tha, thật
là thơ mộng.

“Hôm qua tát nước đầu Đình”
“Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen”
“Em được thì cho anh xin”
“Hay là em để làm tin trong nhà?”
“Áo anh sứt chỉ đường tà”
“Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu...” (ca dao)

“Trúc xinh, trúc mọc đầu Đình”
“Em xinh, em đứng một mình cũng xinh” (ca dao)

Sàn Đình lát bằng ván, phẳng hoặc hơi dốc, trải chiếu hoa, để hương chức hoặc dân làng
ngồi xếp vòng tròn (ngồi xếp vòng tròn là một tập tục đặc biệt của dân tộc Lạc Việt), hội họp
hay ăn uống (khác với lối kiến trúc Đình Trung Hoa).

Tổ chức hành chánh trong làng xã: thay đổi tùy theo thời đại và tùy theo địa phương,
nhưng đại để có một
Hương Hội  (Bắc gọi là Hương Hội, Trung là Hội Đồng Kỳ Hào hay
Kỳ Mục, Nam là
Hội Tề), và một Lý Trưởng hay Xã Trưởng  trông coi mọi việc.

   Thường thì Hương Hội lo điều hành việc làng và Lý Trưởng (Xã Trưởng) là người liên lạc
với chính quyền từ cấp hàng Tổng trở lên.

Hương Hội do dân làng bầu ra, đứng đầu là Tiên Chỉ, còn gọi là Chánh Hương Hội (trong
Nam gọi là
Hương Cả). Tiên chỉ là người đứng đầu trong giấy tờ. Người đứng thứ hai là
Thứ Chỉ. Đối với những làng đã cải lương rồi, tổ chức hương hội giống nhau: gồm một
chánh hương hội, một phó hương hội, một thư ký và một thủ quĩ..

Lý Trưởng
(Nam: Xã Trưởng) cũng do dân làng bầu ra, đứng đầu Hương Chức làm môi
giới cho dân và quan trên.
Trương Tuần (miền Bắc) hay Hương Kiểm (miền Trung) hay
Hương Hào (miền Nam) là người coi việc tuần phòng, an ninh trong làng xã. Mõ làng
truyền đạt tin tức đến dân làng.

Đinh (farmers) là những thanh niên từ 18 tuổi trở lên và phải đóng thuế (thuế đinh), tạp
dịch và đi lính.

Điền (land) là ruộng vườn, cũng phải chịu thuế sản xuất gọi là thuế điền.














                           Cổng Làng (hình trích từ Luân Lý Giáo Khoa Thư)


Xã hội VN tại làng xã, như vậy từ trước thế kỷ 11 đã có “
Hương ước phân minh”: Mỗi làng
đều có một số luật lệ riêng mà dân làng phải tuân theo, để dần dần trở thành
chế độ xã
thôn tự trị
. Từ đó, tục ngữ có câu: “Phép vua thua lệ làng”.

Trong mỗi làng xã, có tư điền là ruộng thuộc quyền tư hữu của dân làng, công điền,
công thổ
là ruộng đất chung của cả làng. Bổn thôn điền dùng để chi dụng việc làng, tự
điền
để tu bổ và đèn hương ở đình chùa, và hậu điền để làm giỗ tết cho người có ruộng
cúng vào làng.

Ngoài Bắc, mổi xã còn chia ra từng
thôn, từng giáp, đặt tên riêng, hoặc theo phương
hướng như
thôn Đông, thôn Đoài (phương Tây), hoặc theo số thứ tự như giáp Nhất , giáp
Nhì,
hoặc theo vị trí trên dưới như giáp Thượng, giáp Hạ. . ..



                                           Sơ Đồ Tổ Chức Một Làng Cổ
                                                   (Organization  Chart)

                                  
                                                                
Tiên Chỉ
                                                            Chief of Village
                                                     (Chief Executive Officer)
|
                                                              
Lý Trưởng
                                                     Chief Operative Officer                      
                                                  
              
                    
Hương Hội                                                               Hương Chức
                  Village Council                                                          Operative Officers


                       
    Thứ Chỉ                                                                  Phó Lý
                     (Assistance of CEO)                                          (Assistance of COO)

                     
Thư ký (Secretary)                                     Trương tuần (Security)
  
                     
Thủ quỹ (Treasurer)                                    Mõ làng (Announcer)

                                                             
Kết luận:
   Làng xã là đơn vị nồng cốt về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá của nước ta. Làng Xã
Việt Nam thường được bao quanh bởi lũy tre xanh, kiên cố bảo vệ đất nước trong thời
chiến, chống lại các cuộc xâm lăng về quân sự và văn hóa, và thơ mộng êm ả trong thời
bình, tăng gia sản xuất nông phẩm để nuôi dân.

   Tổ chức hành chánh và quản trị một làng cổ Việt Nam, cách đây hàng  ngàn năm, tuy
đơn sơ nhưng đã thấm đượm tình thần dân chủ: Những người cầm quyền như Tiên Chỉ, Lý
Trưởng đều do dân làng bầu ra trong một tinh thần tự do. Điều này khiến chúng ta phải suy
nghĩ về một  đất nước trong thời đại văn minh hiện tại lại không có tự do bầu cử và tinh
thần dân chủ như thế.

(
Sách tham khảo: Luân Lý Giáo Khoa Thư - Lớp Sơ Đẳng - Trần Trọng Kim 1941 - Đất Lề
Quê Thói - Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu - Việt Nam Phong Tục - Phan Kế Bính – Đình Làng
Việt Nam - Nguyễn Bá Lãng.  Ghi chú Anh ngữ không hẳn là dịch nghĩa).