Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
Please click here if you cannot
read the Vietnamese characters
on this website - Xin nhan day
neu Qui Vi khong doc duoc chu
Viet tren trang nay
©2003 Hùng Sử Việt
VIETCH-PAF


Đề nghị 5 quy ước viết chữ Quốc Ngữ

Tổng quát:

Tiếng Việt ký âm bằng "chữ cái" La Tinh, gọi là chữ Quốc Ngữ, được sáng chế cách nay
hơn ba trăm năm, do công trình của nhiều vị giáo sĩ Công Giáo và một số người Việt Nam
phụ giúp. Trong số những giáo sĩ người ngoại quốc, Linh Mục Alexandre de Rhodes
có công nhất. Trong số những học giả Việt Nam có công truyền bá chữ Quốc Ngữ, ta phải
kể tới quý ông Huỳnh Tịnh Của (1834-1907), Trương Vĩnh Ký (1837-1898), Phan Kế Bính
(1875-1921), Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), Trần Trọng Kim (1883-1953), Phạm Quỳnh
(1892-1945), Dương Quảng Hàm (1898-1946)...

Sau khi các kỳ thi bằng chữ Hán cuối cùng bị hủy bỏ vào năm 1919, chữ Quốc Ngữ càng
ngày càng phát triển mạnh mẽ, để trở thành chữ viết duy nhất của người Việt Nam ngày nay.

Nhiều bằng chứng cho thấy người Lạc Việt cổ ở Quảng Tây đã có chữ viết riêng trước khi bị
người Tần, Hán đô hộ.  
Sau gần một ngàn năm học chữ Hán (chữ Nho), người Việt đã sáng tạo ra chữ Nôm. Vì chữ
Nôm phụ thuộc vào chữ Hán, khó học nên ngày nay ít người biết đến.
Như vậy, tiếng Việt đã được ký âm bằng nhiều thứ chữ, ít ra là hai: Chữ Nôm và chữ Quốc
Ngữ.

Từ trước đến nay, học chữ Quốc Ngữ thường căn cứ vào sách giáo khoa và sự giảng dạy
của Thầy Cô. Nước ta chưa có Viện Hàn Lâm về Ngôn Ngữ, nên chưa có những quy luật rõ
ràng về cách viết chữ Quốc Ngữ.


Vì vậy, "vấn đề thống nhất cách viết chữ Quốc Ngữ" đã trở thành quan trọng, thôi thúc
nhiều người quan tâm đến cách viết chữ Quốc Ngữ, cố gắng suy nghĩ và đề nghị cách giải
quyết.

Bản "đề nghị 5 quy ước viết chữ Quốc Ngữ" sau đây, chính là một trong những đề nghị giải
quyết kể trên (1).

Như thường lệ, kính xin quý vị độc giả lượng thứ cho  những điều sai sót.

Quy ước I-  Cách phát âm và đánh vần:  

1a- Cách phát âm những nguyên âm: A/a (a), Ă/ă (á), Â/â (ớ), E/e (e), Ê/ê (ê), I/i (i – i
ngắn), O/o (o). Ô/ô (ô), Ơ/ơ (ơ), U/u (u), Ư/ư (ư). Y/y (y-gờ-rếch – y dài)

1b- Cách phát âm những phụ âm đơn và phụ âm ghép: (Phát âm theo thứ tự kiểu cũ và
kiểu mới): B/b (bê – bờ), C/c (xê – cờ), D/d  (dê – dờ), Đ/đ (đê – đờ), G/g (giê – gờ), H/h
(hát – hờ), K/k (ca – cờ), L/l (e-lờ – lờ), M/m (em-mờ – mờ), N/n (en-nờ – nờ), P/p (pê – pờ),
Q/q (cu – cờ), R/r (e-rờ – rờ), S/s (ét-s – sờ), T/t (tê – tờ), V/v (vê – vờ), X/x (ích-xì – xờ);  
CH/ch (xê-hát – chờ), GH/gh (giê-hát – gờ), GI/gi (giê-i – giờ), KH/kh (ca -hát – khờ), NG/ng
(en- giê – ngờ), NGH/ngh (en-giê-hát – ngờ), NH/nh (en-hát – nhờ), PH/ph (pê-hát – phờ),
QU/qu (q-u – quờ), TH/th (tê-hát – thờ), TR/tr (tê-e-rờ – trờ).

1c- Cách đánh vần:
- Đánh vần theo kiểu cũ: Thí dụ chữ "Chân": C-h-â-n-nờ  = chân. (Xê-hát-ớ-chớ-en-nờ-chân
= chân)
- Đánh vần theo kiểu mới: Chờ-ân = chân.
(Chờ-ớ-chớ-en-nờ-chân = chân).

1d- Bảng chữ cái Quốc Ngữ:
(1) a, (2) ă, (3) â, (4) b, (5) c, (6) ch, (7) d, (8) đ, (9) e, (10) ê, (11) g, (12) gi, (13) gh, (14)
h, (15) i, (16) k, (17) kh, (18) l, (19) m, (20) n, (21) ng, (22) ngh, (23) nh, (24) o, 25) ô, (26)
ơ, (27) p, (28) ph, (29) q, (30) qu,  (31) r, (32) s, (33) t, (34) th, (35) tr, (36) u, (37) ư. (48)
v. (39) x, (40) y.

1e- Các dấu chữ Quốc Ngữ:
sắc (ʹ), huyền (`), hỏi (ˀ), ngã (~), nặng (.).

Ghi chú:

- Cách đánh vần theo kiểu mới thích hợp hơn đối với người lớn hay người ngoại quốc học
tiếng Việt.

- Phụ âm (kể cả phụ âm ghép) khi đứng một mình sẽ phát âm theo lối cũ (bê, xê, dê, đê…).
Chỉ khi nào ghép vần (với nguyên âm) mới phát âm theo lối mới. Thí dụ: Hãng GMC phát âm
là hãng Giê-Em-mờ-Xê (không phát âm là Gờ Mờ Cờ).
                                                                                                                                           
- Trước các nguyên âm "i, e, ê", chữ "c" đổi thành "k" và "ng" đổi thành "ngh". Thí dụ: "ki,
ke, kê" (không viết "ci, ce, cê"), "nghi, nghe, nghê" (không viết "ngi, nge, ngê"). Chữ  "g"
đứng trước "e, ê" đổi thành "gh". Thí dụ: "ghe, ghê" (không viết "ge, gê").                        

Quy ước II -  Cách đánh dấu:

Chữ Quốc Ngữ có 5 dấu:  sắc (ʹ ), huyền (`), hỏi (ˀ), ngã (~), nặng (.).


2a- Dấu chỉ được đánh trên nguyên âm và chủ âm:
Những biến âm của nguyên âm như  ă, â, ê, ô, ơ, ư đều là chủ âm. Đối với vần "oa", o lá âm
chủ, nên đánh dấu trên o. Thí dụ: Chán, chỉnh, hóa, thuế
Những vần "qu" (quờ) trong chữ “quý”, vần "gi" (giờ)  trong chữ “già” được coi là phụ âm
ghép, nên chỉ đánh dấu trên nguyên âm "y" (quý) và "a" (già) mà thôi.

2b- Trường hợp có 2 nguyên âm:
Dấu được đánh trên nguyên âm chủ (chủ âm). Thí  dụ: Chánh, thuế, thuở. Đối với vần "oa",
o lá âm chủ, nên đánh dấu trên o. Thí dụ: Hóa. Khi đánh dấu trên chủ  âm, dấu thường ở vị
trí cân đối nhất. Thí dụ: Thường, chướng, chọe, hủy, súy (không viết thừơng, chứơng,
choẹ, huỷ, suý), ngoại trừ Huế, thuở (ê, ơ... là chủ âm.)

2c- Trường hợp có 3 nguyên âm:
Đánh dấu trên nguyên âm đứng giữa. Thí dụ: Soài, hoài (không viết sòai, hòai, soaì, hoaì).

Chú ý:
- Sáu giọng bao gồm một giọng (ngang) không dấu và 5 giọng có dấu. Thí dụ:     a     á     
à     ả     ã     ạ
- Hai nguyên âm "ă" và "â" không đứng một mình và không theo sau phụ âm một mình.  Thí
dụ: "ă" viết là "á": cá, "â" viết là "ớ": cớ (Theo Trần Trọng Kim).

Quy ước III-
Cách viết hoa và phiên âm tên người:

3a
- Viết hoa theo quy tắc trong văn phạm Mỹ (capitalization) những tên riêng như tên
người, quốc gia, đường phố, hội đoàn, cơ sở, tên ngày thứ tự trong tuần lễ, ngày tháng
năm… Thí dụ: Lý Thường Kiệt; nước Mỹ; đường Đinh Tiên Hoàng; Hội Ái Hữu Cựu Nữ Sinh
Trưng Vương Nam California; hãng Toyota; Thứ Hai, Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Sáu,
Thứ Bảy, Chủ Nhật; Tháng Giêng, Tháng Hai, Tháng Ba… Tháng Mười Một hay Tháng Một,
tháng Mười Hai hay Tháng Chạp; năm Nhâm Thìn, năm Quý Tỵ...

3b-  Phiên âm tên người:

- Viết tên họ người Tàu: Tên họ người Tàu đôi khi lẫn lộn với tên họ người Việt, do đó nên
dùng phương pháp Pinyin (bính âm) để phiên âm tên người Tàu bằng chữ cái La Tinh
trước, sau đó viết tên người Tàu theo phiên âm Hán Việt trong dấu ngoặc đơn. Thí
dụ: Jiang Zemin (Giang Trạch Dân).

- Viết tên người, tên quốc gia, tên tỉnh và tên nước ngoài: Có thể  phiên âm theo tiếng Việt,
nhưng viết tên gốc trong dấu ngoặc đơn. Thí dụ: Cu-ba (Cuba). Trường hợp đã quen với
cách phiên âm theo gốc tiếng Hán Việt, nên giữ nguyên và cũng viết nguyên văn tên người,
tên quốc gia hay tên tỉnh nước ngoài trong ngoặc đơn. Thí dụ: Nã-Phá-Luân (Napoléon),
Pháp (France), Ba-Lê (Paris).

Quy ước IV- Cách viết y dài và i ngắn:

Đây là cách viết gây nhiều tranh cãi nhất kể từ khi ở trong nước có quy định thay thế y dài
bằng i ngắn trong cách viết chữ Quốc Ngữ. Chúng tôi đồng thuận với những nhà giáo tại
Việt Nam trước 1975 và tại hải ngoại sau 1975 về 3 quy ước sau:

4a- Viết y dài khi đứng một mình và có nguồn gốc Hán Việt:  y phục, y tế, y chang, y hệt.
4b- Viết y dài đối với tên riêng (ngoại trừ tên người đã được viết bằng i ngắn): Lý Thường
Kiệt, nước Mỹ, Mỹ Tho…
4c- Viết y dài những từ ngữ gốc Hán Việt sau các chữ H, M, L, K, T, Qu.  (Mẹo ghi nhớ theo
một trường dạy Việt Ngữ tại Texas: Học Mau Lên Kẻo Ta Quên). Thí dụ: Hy vọng, mỹ thuật,
lý thuyết, kỷ yếu, tỷ lệ, quý vị.
(Những từ ngữ bé tí, tỉ mỉ, đi ị, í ới …viết i ngắn vì không có gốc Hán) (2).

Tham khảo:

Bộ Giáo Dục ở Việt Nam năm 1983.

Quy ước V- Vị trí các dấu câu:

1-
Vị trí các dấu câu như dấu ngoặc đơn, ngoặc kép, chấm hỏi, chấm than, hai chấm, chấm
phẩy, phẩy, chấm lửng (…) đều viết sát kế bên chữ cuối của câu (không có khoảng cách).  
Đây chỉ là cách viết chữ theo văn phạm Mỹ. Thí dụ: (1789), “Xuân Quý Tỵ”, anh là ai?  Than
ôi! Tôi không ngờ…

2- Phân biệt cách dùng dấu gạch ngang (dash) và dấu gạch nối (hyphen):

- Phân biệt các dấu gạch ngang giữa (-), dấu gạch ngang dưới (_), dấu gạch dưới (u) và
dấu gạch nối (-):
- Theo định nghĩa, dấu gạch ngang dài hơn dấu gạch nối. Tuy nhiên, trên bàn phím đánh
máy điện toán (keyboard), hai dấu này là một (đối với một số máy).
- Dấu gạch ngang ở đầu dòng dùng trong thể văn kể truyện.
- Dấu gạch ngang ở giữa dòng dùng để chú thích thêm cho rõ nghĩa hay rõ nơi chốn của
mệnh đề trước nó. Thí dụ: Trường Cao Học Chính Trị Kinh Doanh Sài Gòn - Viện Đại Học
Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt – đã đào tạo được nhiều chuyên viên có bằng Cao học ở Việt
Nam.
- Dấu gạch ngang dưới ít dùng.
Thí dụ:  Nguyen_038@yahoo.com.
- Dấu gạch dưới dùng để nhấn mạnh (từ ngữ hoặc câu văn). Thí dụ: Sài Gòn trước kia là
thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày nay ít dùng (hoặc không dùng) dấu gạch nối đối với  những chữ ghép (tiếng Việt và
Hán Việt), nhưng lại thường dùng cho các chữ phiên âm tiếng các nước khác.
Thí dụ: a-ti-sô, a-xít, a-men, áo măng-tô...
Nhưng không dùng gạch nối như: á khẩu, a hoàn, anh thư.

3- Đơn vị số: Theo cách viết trong văn phạm Mỹ. Thí dụ: 1,000.00; 10,000.00.

4- Ngày tháng: Viết theo văn phạm Mỹ hoặc theo ta (âm lịch). Thí dụ: 7/22/2012 hoặc 7-22-
2012. Theo ta: Ngày 22 tháng 7 năm 2012.

5- Phân biệt dấu hỏi (ˀ), ngã (~):
- Đối với chữ ghép, một chữ mang dấu huyền hay dấu nặng thì chữ kia mang dấu ngã
(huyền, nặng = ngã). Thí dụ: Dòng dõi, lộng lẫy, ầm ĩ, lặng lẽ. Ngoại lệ: Hoàn hảo, mòn mỏi,
học hỏi, phản bội.
- Đối với chữ ghép, một chữ không dấu (ngang) hay dấu sắc, thì chữ kia mang dấu hỏi
(ngang, sắc = hỏi). Thí dụ: Liêm sỉ, ám ảnh, dai dẳng, bóng bẩy.  Ngoại lệ: Than vãn, quá
vãng, ve vãn, thoáng đãng.

Mẹo để nhớ (theo tài liệu trên Internet):
"Cô Huyền mang nặng, ngã đau, cậu Ngang sắc mắc hỏi sao thế này?" (sắc mắc có nghĩa
là hay soi mói, bắt bẻ).

Những cách phân biệt kể trên còn nhiều ngoại lệ, nên chưa thể gọi là quy tắc hay luật lệ.
Điều cốt yếu để viết đúng dấu hỏi, ngã  là học ngữ vựng và tập phát âm theo đúng dấu của
ngữ vựng.

6- Phân biệt các vần ay, ây, au, âu:
- “ay” (không có dấu mũ) và “ây” (có dấu mũ). Thí dụ: Đi cày - con cầy; số bảy - đòn bẩy,  
trình bày - một bầy (heo),  thày lay - thầy giáo, lông mày - chúng mầy (tụi bay), màu (màu
áo, màu bột, màu cỏ úa, màu da,  màu mè, màu mỡ, màu sắc) - mầu (mầu nhiệm, thị mầu).

Chú ý:

- Một số chữ thường viết sai dấu hỏi, ngã: đã (việc đã qua) - đả (đả đảo),  nghĩ (suy nghĩ) -
nghỉ (nghỉ ngơi), sẽ (mai sẽ đi) - sẻ (con chim sẻ), cũng (cũng vậy) - củng (đồ đạc lủng
củng), vẫn (vẫn thế) - vẩn (vẩn đục), dẫu (dẫu sao đi nữa) - dẩu  (dẩu mỏ chìa môi ra), mãi
(mãi mãi) - mải (mê mải), hỗ (hỗ trợ) - hổ (xấu hổ, con hổ), quỹ (ngân quỹ) - quỷ (ma quỷ)  

- Lẫn lộn chữ “c” với chữ “t”. Thí  dụ: Lời bạt (lời tác giả viết thêm về ý nghĩa của nội dung,
thường ở cuối sách), viết thành lời bạc, rừng sác thành rừng sát...
- Hiểu sai nghĩa chữ có gốc Hán (HV.): mãi (HV. nghĩa là mua) trái ngược với  mại (HV. nghĩa
là bán),  mãn (HV. nghĩa là đầy đủ)   và mạn (HV. màn cửa, khoan chậm, phóng khoáng,
rộng rãi không giới hạn).
Thí dụ: Mãn hạn kỳ (đầy đủ thời gian ấn định) -  Bệnh mạn tính (bệnh phát ra chậm chạp
nhưng lâu dài, khó chữa).  

7- Phân biệt những chữ viết “có g” và “không có g” . Ví dụ: luôn (luôn luôn, luôn miệng, luôn
thể, luôn tiện) và luông tuồng (bừa bãi); bàn hoàn (nghĩ quanh quẩn) và bàng hoàng (tâm
hồn bất định, chưa kịp ổn định), vãng lai (vãng: Đi đến, đã qua, đã cũ, đi đi lại lại: Khách
vãng lai), viết thành vãn lai (vãn: chiều, muộn)…

8- Phân biệt tr và ch: Phân biệt truyện (tác phẩm) và chuyện (câu chuyện vớ vẩn). (Xem
Phụ bản 4).

9- Phân biệt s và x.  Thí dụ: Sinh sản, nữ sinh và xinh đẹp, xinh xắn. (Xem phụ bản 5). :

10- Phân biệt d, gi, và r.  Thí dụ: dành (để dành, dành dụm, dành chỗ, dành phần, dành
riêng) và giành (giành lại, giành giật) hay rành (rành mạch, rành rành, rành rẽ, rành rọt).
(Xem phụ bản 6).
Phân biệt những chữ đồng âm cũng tương tự như phân biệt dấu hỏi ngã:  Có một số mẹo
luật, nhưng việc áp dụng không phải dễ, nhất là có nhiều ngoại lệ. Điều quan trọng là phải
tra cứu Từ Điển Ngữ Vựng mỗi khi gặp sự nghi ngờ.

11- Chấp nhận cách viết chữ Quốc Ngữ:

11a- Chấp nhận một số chữ có gốc Hán đã được “Việt hóa” do nhiều người “nói sai” hay
“viết sai”. Thí dụ: “chung cư” (viết đúng theo tiếng Hán Việt là “chúng cư”), “khoái trá” (Hán
Việt là khoái chá)…

11b- Chấp nhận cả hai cách viết chữ đồng âm:
- Đối với những chữ ghép, đồng âm "x" với "s", hoặc "d" với "gi" mà nghĩa không đổi, có thể
tạm chấp nhận cả 2 cách viết. Thí dụ: Sum suê và xum xuê; trau giồi và trau  dồi.

- Một số chữ phát âm “ày, ầy”; “àu, ầu” mà không đổi nghĩa cũng tạm thời chấp nhận cả hai
cách viết. Thí dụ: tày trời - tầy trời; tày đình - tầy đình; bánh tày - bánh tầy; học thầy không
tày học bạn - học thầy không tầy học bạn; cây lớn tày ôm - cây lớn tầy ôm; người Tàu -
người Tầu; tàu thủy - tầu thủy; giàu có - giầu có; sắc màu - sắc mầu (?);  thuộc làu - thuộc
lầu; này - nầy.

Kết luận

Chúng ta cùng quan niệm rằng: Nước Việt Nam là của chung cho 90 triệu đồng bào sinh
sống trong và ngoài nước, không phải của riêng một tổ chức hay đảng phái nào. Cũng vậy,
tiếng Việt là tiếng nói của người Việt không phân biệt Bắc, Trung, Nam, miền thượng hay
miền xuôi, trong hoặc ngoài nước.

Hiện nay tiếng Việt được ký âm bằng chữ Quốc Ngữ, là chữ viết chính thức của 90 triệu
đồng bào Việt Nam. Tiếng Việt là một sinh ngữ, nghĩa là có thể phát sinh tiếng mới, có tiến
triển và nếu chữ nào quá cũ, sẽ không được ai dùng nữa. “Nói sao cho mọi người cùng
hiểu; viết sao cho những thế hệ hậu sinh lãnh hội được ý tưởng trong sáng của tiền nhân”,
đó chính là mục đích của một “bản quy luật viết chữ Quốc Ngữ”. Bản quy luật này phải do
một Viện Hàn Lâm về ngôn ngữ quyết định. Tuy nhiên, nước Việt Nam từ trước và cho tới
ngày nay chưa có một Viện Hàn Lâm về ngôn ngữ, do đó tiếng nói, chữ viết chưa được tiêu
chuẩn hóa và đang ở vào tình trạng “ai muốn nói gì thì nói, ai muốn viết gì thì viết”.
“5 quy ước viết chữ quốc ngữ” không phải là những quy tắc hay quy luật bắt mọi người phải
theo, mà chỉ là “cách thức” viết chữ quốc ngữ được nhiều thầy cô giáo và người cầm bút ở
hải ngoại quen dùng.     
                           .  
Mục đích của những người cầm bút là gì, nếu không phải là muốn điều chỉnh những câu văn
nghe chướng tai, những chữ viết làm gai mắt? Vậy thì tại sao chúng ta không ngồi lại cùng
nhau xem  xét,  đề  nghị  và   đồng   thuận,   trong   một  tinh thần tự do, dân chủ mở  rộng,  
để  điều  chỉnh những câu văn, chữ viết tiếng Việt sao cho được rõ nghĩa và trong sáng?
Mong lắm thay!

Song Thuận

Tham khảo
- Hán Việt Từ Điển – Đào Duy Anh - Trường Thi XB (1957).
- Việt Anh – Anh Việt Từ Điển - Nguyễn Văn Khôn – Khai Trí.
- Từ Điển online - Hội Khai Trí Tiến Đức.
- Webster’s New World – College Dictionary – Fourth Edition.
- Việt Nam Văn Học Sử Trích Yếu - Hạo Nhiên Nghiêm Toản – NXB Sống
Mới.                            
- Văn Học Việt Nam - Dương Quảng Hàm - Xuân Thu xb.
- Sách Giáo Khoa - Việt Tộc Thiếu Niên Cấp 11; số 2. “Cách viết chữ Quốc Ngữ” - Paris 08-
03-2000.
- Việt Nam Từ Điển - Lê Văn Đức.
- Từ Điển Tiếng Việt – Ngôn Ngữ VN – Lê Thị Huyền -  Minh Trí – Nhà XB Thanh Niên.  
- Đại Từ Điển Tiếng Việt - Nguyễn Như Ý ch ủ biên- nhà xb  Văn Hóa Thông
Tin.                             
- Từ Điển Từ và Ngữ Việt Nam – GS Nguyễn Lân.
- Tài liệu của Giáo Sư Tiến Sĩ Lê Kim Ngân.
- Tiếng Nói Nôm Na – Lê Gia.
- Luận Việt Văn – GS trường Gia Long Lê Ngọc Loan & GS Lê Thị Hồng
Mận.                                                 
- Từ Điển Chính Tả Tiếng Việt Phổ Thông - Nguyễn Văn Khang - Nhà XB Khoa Học Xã Hội.
- Văn Phạm Việt Nam – Bùi Đức Tịnh – Nhà XB Miền Nam.
- Bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư - Trần Trọng Kim,  Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc,
Đỗ Thận.
- Bản Đối Chiếu Từ Ngữ - Trần Văn Giang.
- Tài liệu Wikipedia, & Đào Văn Bình -http://daovanbinh.cattien.us).
- Tài liệu trên nhiều diễn đàn Internet.


-----------------------------


Chú thích

(1)  Bản đề nghị 5 quy ước viết chữ Quốc Ngữ được tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu khác
nhau do nhiều tác giả biên soạn và góp ý, cũng như sẽ được hiệu đính bởi nhiều vị giáo sư,
thầy cô giáo, nhà văn, nhà báo, quý vị làm truyền thông, truyền thanh, truyền hình cùng
những quý vị am tường và quan tâm đến Tiếng Việt. Đây chính là một tập hợp ý kiến của
đông đảo người Việt tham gia.

Bản quy ước này chỉ mang tính cách hướng dẫn mà không phải là những quy tắc hay quy
luật chặt chẽ cần phải noi theo.

Bản quy ước này sẽ phù hợp với một cuốn Từ Điển Ngữ Vựng và Từ Điển Tiếng Việt Phổ
Thông là dự án kế tiếp, do nhiều tác giả đang gắng sức thực hiện.

Bản quy ước viết chữ Quốc Ngữ cũng sẽ được điều chỉnh lại cho hợp thời do kết quả từ các
buổi hội họp hoặc do những ý kiến xác đáng của những vị học giả về tiếng Việt đề nghị sửa
chữa.

"Nhóm Thực Hiện Từ Điển Việt Nam Tại Hải Ngoại" sẽ phối hợp với Câu Lạc Bộ Hùng Sử
Việt để phổ biến rộng rãi tài liệu này.

(2) Cách dùng "i" hoặc "y" kiểu cũ thì thường căn cứ vào Hán Việt Từ điển của Đào Duy Anh
(1931). Theo đó thì "y" được dùng thay "i" với những từ gốc Hán Việt nếu đứng sau các phụ
âm h, k, l, m, t, và q (qu). Vì vậy nên có "ngựa hí", "tì tay" (gốc Nôm) nhưng "song hỷ", "tỵ
nạn" (gốc Hán Việt). Những phụ âm khác thì vẫn dùng "i" như "tăng ni" chứ không có ny.
Người Việt ở hải ngoại dạy tiếng Việt cho trẻ em dùng mẹo để nhớ sáu phụ âm trên bằng
câu "học mau lên kẻo ta quên". (Trích trên Internet - Wikipedia)
----------------------------