Câu Lạc Bộ
The Vietnamese Historical and Cultural Performing Arts Foundation
PO Box 1571 - Westminster, CA 92684-1517 - (949) 786-6840
©2003 Hùng Sử Việt
Giới thiệu
Tuyển Tập Kịch Bản “Bất Khuất”:

Đây là một tập kịch thơ gồm 12 vở kịch ngắn, dựa vào tài liệu lịch sử Việt Nam, để dàn
dựng trình diễn trên sân khấu.

1- Vở kịch thứ nhất: “Đường Tới Mê Linh”, nói về cuộc nổi dậy của dân chúng quận
Giao Chỉ vào thế kỷ thứ nhất (năm 40) theo Hai Bà Trưng khởi nghĩa, đánh đuổi thái thú Tô
Định và quân Đông Hán,  trong một câu chuyện thương tâm như sau:

“Gia đình tráng sĩ Hoàng Tâm, vợ là Lan Nương và mẹ già Lão Bà sống ở một làng chài lưới.
Một hôm quân Tô Định đánh cướp làng chài, dân chúng bỏ chạy hết sang bên kia sông theo
Hai Bà Trưng khởi nghĩa. Gia đình Hoàng Tâm, vì mẹ già đau yếu, chậm chạp, nên khi đến
được bờ sông thì không còn thuyền bè để qua sông.

May mắn kiếm mãi mới thấy một chiếc thuyền nhỏ, chỉ đủ cho 2 người qua sông. Hai vợ
chồng Hoàng Tâm nhường nhau, một người qua sông trước với mẹ, một người ở lại liều
đánh nhau với quân Tàu.

Lão Bà thấy thế, đã bắt hai con quỳ xuống khuyên bảo nên đi theo Hai Bà Trưng khởi nghĩa
để cứu lấy đất nước, rồi bà bất chợt dùng dao tự vẫn, để hai con rảnh rang ra đi theo Hai Bà
Trưng trả nợ nước thù nhà”.

Mục đích của vở kịch:

Nêu cao tinh thần yêu nước và quyết tâm đánh đuổi ngoại xâm của người Việt Nam.

Những lời tâm huyết:

- Ta tráng sĩ, hề một gươm liều với giặc,
Đứng trong trời đất, hề không thẹn với non sông!
Mang tâm huyết, phá xích xiềng nô lệ,
Noi gương Hai Bà, giành độc lập quê hương.

- Người quân tử tận trung là tận hiếu,
Tình huống nào, Tổ quốc cũng lên trên.

- Ra đi…bái biệt mẹ già,
Bao giờ hết giặc, về nhà khói hương…!

2- Vở kịch thứ hai: “Ngọn Lửa Liên Lâu”, nói về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40-
43), tấn công thành Liên Lâu là nơi đóng quân của thái thú Tô Định. Vì lòng kiên quyết, “nợ
nước trước thù nhà”, Bà Trưng Trắc đã làm lễ tế sống chồng trước khi đánh thành Liên Lâu.
Tóm tắt câu chuyện như sau:

“Hai Bà Trưng đang tập luyện quân, Nàng Tía là một nữ thám tử đến báo cáo thái thú Tô
Định tổ chức hành quân. Hai bà rất quan tâm chuyện này và bà Trưng Trắc đã thúc dục
chồng là ông Thi Sách mau chóng ra lệnh khởi nghĩa. Sau một đêm tâm sự với vợ, ông Thi
Sách đi Diên Châu và bị Tô Định phục kích bắt được. Hai Bà Trưng nghe tin dữ, bèn đem
quân đến vây thành Liên Lâu. Tướng Hán ra lệnh quân Hai Bà đầu hàng, sẽ trả tự do cho
ông Thi Sách. Nhưng ông Thi Sách kêu gọi không đầu hàng.

Bà Trưng Trắc đã làm lễ tế sống chồng trước khi hạ lệnh đánh thành Liên Lâu. Hai Bà đuổi
Tô Định chạy về Tàu và giải phóng các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố,
cùng với 65 thành trì...mang lại Độc lập, Tự do cho toàn dân Lạc Việt.”

Mục đích của vở kịch:

Vinh danh Hai Bà Trưng, là những vị nữ anh hùng Việt Nam đã có công mở đường độc lập
dân tộc và làm rạng danh nòi giống Việt nói chung,  phụ nữ Việt nói riêng.

Những lời tâm huyết:

- Lấp lánh gươm bay, vầng nguyệt lạnh,
Ào ào gió thét, nỗi hờn căm.
Nhà tan, nước mất lòng đau đớn,
Cuồng nộ gươm thề diệt ngoại xâm...

- Ta biết lắm,
Nhưng vì đất nước thảm thương,
Làm người Lạc Việt, hờn căm nhục nhằn…
Giận thay lũ giặc Hán quân,
Mặt người, dạ thú, tham tàn bất lương!
Phu nhân…ôi…!
Hỡi ba quân…!!!
Đừng vì ta,
Hãy vì dân.
Vì quê hương quá điêu linh,
Vùng lên! Tất cả chuyển mình vùng lên…!

- Không…Không thể điều đình.
Vì chị biết Thi Tướng quân sắt đá,
Không có gì lay chuyển nổi con tim.
Bây giờ chúng ta sống chết vì dân,
Vì đất nước, vì quê hương yêu dấu...

3 -Vở kịch thứ ba: “Đạp Luồng Sóng Dữ”, nói về cuộc nổi dậy của Bà Triệu Thị Trinh vào
thế kỷ thứ 3 (248) chống lại quân Đông Ngô ở quận Cửu Chân. Sơ lược cốt chuyện như sau:

“Dân Lạc Việt bị lính Đông Ngô bắt lao động và hành hạ, được bà Triệu Thị Trinh giải cứu.
Tướng Đông Ngô đến xét nhà anh Bà Triệu là Triệu Quốc Đạt, gặp bà Đạt, đã tra tấn lấy hết
vàng. Bà Đạt bèn thông đồng với Mã Hầu, đánh thuốc mê để bắt Bà Triệu đem đi lãnh
thưởng, không ngờ bà chị dâu ác độc này bị chính lưỡi dao nhọn của mình đâm chết. Triệu
Quốc Đạt trở về, thấy cảnh vợ chết thương tâm thì rất đau lòng. Sau khi biết sự tình, nguyên
do đều bởi lính Đông Ngô tham tàn, nên ông Đạt đã cùng em gái Triệu Thị Trinh lên núi khởi
nghĩa, đánh chiếm quận Cửu Chân. Triệu Quốc Đạt bị bệnh chết, bà Triệu vẫn tiếp tục
kháng chiến chống lại quân Đông Ngô cho tới chết (lúc đó Bà mới 23 tuổi)”.

Mục đích của vở kịch:

Vinh danh Bà Triệu Thị Trinh, một vị anh thư bất khuất thế kỷ thứ 3 tại quận Cửu Chân, đã
nổi dậy chống lại giặc Đông Ngô tham tàn, khiến kẻ thù vô cùng khiếp sợ.

Những lời tâm huyết:

- Quận Cửu chân, tương truyền Bà Triệu
Gái anh thư, năng khiếu hơn người..
Đạp luồng sóng dữ ra khơi...
Quyết tâm chém cá Kình ngoài biển Đông.

- Đừng cúi đầu nô lệ giặc Ngô kia,
Mất hết tự do, ê chề tủi nhục!

- Đánh đuổi ngoại xâm, chính là bổn phận
Của mỗi người dân đối với quê hương.

- Gái hay trai cùng là dân một nước!
Bổn phận mỗi người lo tròn sau trước.
Nước mất hay còn tùy thuộc trăm dân!
Cuộc đời mỗi người, mỗi bến tử sinh,
Có lẽ khác nhau...kẻ biết sống quên mình,
Yêu tha nhân... hay chỉ sống cho tình ích kỷ!

- Kẻ thống trị nào,  mà không võ đoán?
Ai không theo mình, là phản loạn...phi nhân...
Làm người dân cũng phải có quyền dân,
Quyền ăn nói, quyền tự do tư tưởng!

- Đối với quân Ngô, ta chỉ là đốm lửa,
Đốm lửa âm thầm nhen nhúm bếp than!
Nhưng một ngày kia, đốm lửa sẽ reo vang...
Theo bão nổi lên...hoá thành biển lửa!

- Tư tưởng  đầu hàng...Cầu lợi...Cầu an...
Hợp tác ôn hoà... với giặc xâm lăng...?
Chúng đến đây, đổi cả tên nước, tên thành...
Ta đã mất Văn Lang,
Mất luôn Lạc hầu, Lạc tướng!

- Ta rất muốn,  có hoà bình đúng nghĩa,
Nên mới buộc lòng khởi dậy chiến chinh!
Còn giặc ngoại xâm, ta còn đấu tranh...
Giải thoát muôn dân, khỏi tròng nô lệ!

4- Vở kịch thứ tư: “Hoàng Bào Chính Nghĩa”, nói về bà Thái Hậu Dương Vân Nga (chấp
chính sau khi vua Đinh Tiên Hoàng và con là Nam Việt Vương Đinh Liễn bị tên Đỗ Thích giết
chết và vua Đinh Tuệ lên ngôi mới sáu tuổi) nhường ngôi cho Lê Hoàn, khi quân Tống đến
xâm lăng Đại Cồ Việt. Câu chuyện tóm tắt như sau:

   “Thái Hậu Dương Vân Nga làm lễ cầu siêu cho chồng con, được Đại Sư Quốc Việt cho
biết về lời sấm truyền liên quan đến tên Đỗ Thích giết vua, và một người họ Lê sẽ xuất hiện
làm minh chúa. Trưởng họ Dương là Dương Chấp, tới chất vấn Thái Hậu về việc thông đồng
với Lê Hoàn và yêu cầu bãi chức Lê Hoàn. Trong khi đó, có báo cáo khẩn cấp quân Tống
xâm lăng Đại Cồ Việt do  Lê Hoàn đích thân mang tới.

Vì lý do giữ nước, chống lại cuộc xâm lăng của nhà Tống, Thái Hậu Dương Vân Nga không
bằng lòng bãi chức Lê Hoàn. Tiếp theo, có tin Nguyễn Bặc, Đinh Điền là những Đại thần
triều Đinh, cùng một số các quan bắt cóc vua Đinh Tuệ về Ái Châu khởi loạn. Tại hậu cung,
Kiểu hoàng hậu thông đồng với Thầy mo là gián điệp của nhà Tống, mưu toan gây rối.
Dương Vân Nga phát giác và bắt giữ Thầy mo. Kiểu hoàng hậu tự vẫn để tránh phải bị đầy
xuống lãnh cung. Lê Hoàn đã xử chém Nguyễn Bặc và dẹp yên nội loạn, đồng thời mang
quân đánh giặc Tống xâm lược. Tướng Phạm Cự Lượng trước khi ra trận, đã hô hào tôn
quan Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn lên ngôi vì vua Đinh còn nhỏ, chưa thể điều khiển
quân sĩ, thưởng phạt công minh.  Thái Hậu Dương Vân Nga đã biểu đồng tình, khoác áo
Hoàng Bào cho Lê Hoàn, tượng trưng việc nhường ngôi. Lê Hoàn lên ngôi vua lấy hiệu là Lê
Đại Hành, mở ra triều đại nhà Tiền Lê”.

Mục đích của vở kịch:  

Vinh danh Thập Đạo Tướng quân Lê Hoàn, người đã  có công đánh đuổi giặc Tống xâm
lăng Đại  Cồ Việt vào thế kỷ thứ 10, và ca tụng tư tưởng “thức thời” của bà Dương Thái Hậu,
đã giúp cho triều đình nhà Đinh bấy giờ bớt chia rẽ, quân dân  được yên trị để có đủ sức
mạnh đoàn kết, đánh tan quân Tống xâm lăng.

Những lời tâm huyết:

- Còn tấm Hoàng Bào, ta còn chính nghĩa,
Còn tấm lòng son, ta còn giang sơn!
Chẳng lẽ bao năm cha ông giữ nước,
Con cháu một ngày, để mất quê hương!?

- Chúng bắt mẹ con ta sang chầu, nghe có lọt?
Nào khác gì thời nô lệ hay không!
Chống lại chúng, chiến tranh dân khổ lụy,
Theo chúng thời còn đâu nữa giang sơn!

- Tổ quốc cần những bàn tay khối óc
Của mỗi người dân, đánh đuổi ngoại xâm!
Sao các quan còn hận thù, cố chấp?
Gây cảnh nồi da sáo thịt đau thương.
Đất nước nầy chung cho nòi giống Việt,
Đâu của riêng ai mà xâu xé tranh giành?

- Tổ quốc lâm nguy ví như người bệnh nặng,
Như đám cháy nhà, cần cứu chữa ngay.
Không chứa cháy, làm ngơ là có tội,
Gây rối, trở cờ, thử hỏi đúng hay sai?

- Sự thành bại, khởi đầu trong  ý tưởng
Có đồng tâm, mới lấp biển vá trời!

- Vua quan trên dưới một lòng,
Quân dân trong ngoài một dạ.
Thắng trận giặc nầy, cần đoàn kết nhân tâm.

- Tôi không sợ mất tiếng,
Mà chỉ sợ mất nước!
Mất danh tiếng, chỉ riêng mình tôi chịu.
Nước mất rồi...trăm họ sẽ ra sao?

- Đại Cồ Việt cùng chung dòng Lạc Việt,
Hãy đứng lên gìn giữ đất cha ông.
Quân nhà Tống toan bề sang cướp nước,
Ta quyết một lòng đánh đuổi ngoại xâm!

5- Vở kịch thứ năm: “Bất Khuất” nói về tướng Trần Bình Trọng bị bắt tại Thiên Trường.
Trấn Nam Vương Thoát Hoan chỉ huy cuộc xâm lăng, bèn mang tước Vương của nhà
Nguyên ra dụ hàng. Trần Bình Trọng, với tinh thần bất khuất, đã khẳng khái từ chối: “Ta  thà
làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm Vương đất Bắc”! Truyện xẩy ra như sau:

   “Thái tử Thoát Hoan nghe tin quân Nguyên bắt sống được tướng nước Nam là Trần Bình
Trọng thì rất đắc ý, bèn ra lệnh cho viên tùy tướng dẫn giải tới để dụ hàng. Vừa đúng lúc
công chúa Hoa Tranh đến thăm, Thoát Hoan bèn nẩy ra kế mỹ nhân, dùng sắc đẹp của em
gái để lung lạc viên tướng tài ba Trần Bình Trọng. Không ngờ Hoa Tranh đã mang lòng kính
yêu viên tướng nước Nam hiên ngang bất khuất. Việc dụ hàng thất bại, tướng Trần Bình
Trọng thà chết không hàng. Công chúa Hoa Tranh bỏ về nước, và Thoát Hoan phải ê chề
thất bại...”

Mục đích của vở kịch:

Nêu cao tấm gương bất khuất của tướng Trần Bình Trọng: Thà làm quỉ nước Nam chứ
không thèm làm vương đất Bắc.

Những lời tâm huyết:

- Trần Bình Trọng, Trần Bình Trọng,
Khí phách nghiêng trời, tài uy vũ lộng.
Danh tướng Đông A, trấn Bắc bình Mông.
Trung kiên vì nước một lòng,
Tinh thần bất khuất, khơi dòng sử xanh.

- Lũ các ngươi có biết?
Người nước Nam xương sống thẳng như cây!
Trước mặt quân thù, đầu gối chẳng lung lay...
Đâu có thể uốn cong mà quì với lạy!

- Ta, người nước Nam vì quê hương sống chết!
Nàng,  từ Bắc phương theo dấu vết bạo Tần!
Xâm chiếm nước Nam đã có dụng tâm,
Vì quyền lực, vì tham tàn ác bá!?

- Ta đói chết cũng không ăn cơm giặc,
Khát thế nào, rượu giặc cũng không ham...
Bởi lòng ta đã no đủ hờn căm,
Đánh xâm lược bạo tàn...không khoan nhượng!

- Dân tộc ta  yêu chuộng hoà bình,
Nhưng chẳng ngại chiến chinh gìn đất tổ.
Bản tính dân Nam mềm như lau cỏ,
Mà phong ba, chống đỡ chẳng xiêu lòng.
Đời sống hiền hòa như những dòng sông,
Sông tức nức vỡ bờ không sức cản!

- Ngươi có ngủ mê không? Mà hoang tưởng!
Nói chuyện “đầu hàng” với tướng nước Nam.
Danh vọng, tiền tài không lay nổi con tim
Của bất cứ ai còn yêu Tổ quốc!

- Ta nói cho nghe: Người Nam quật khởi!
Trước sau rồi cũng đánh đuổi xâm lăng.

- Ta thà thịt nát máu rơi...
Nhất quyết không bao giờ phản bội!

- Ta ngã xuống có muôn người đứng dậy,
Lửa căm hờn đã rực cháy trời Nam!
Lũ các ngươi dùng bạo lực ngông cuồng,
Toan trấn áp những tâm hồn yêu nước!
Ha ha ha!
Các ngươi đã lầm,
Bởi dân tộc ta, bốn ngàn năm dựng nước,
Chưa bao giờ khuất phục giặc xâm lăng.
Chưa bao giờ cúi mặt trước hung tàn,
Trang sử nước Nam, gương anh hùng sáng chói!

- Trên cõi đời này vì danh,  vì lợi,
Đã biết bao người phản bội quê hương!
“Úy tử tham sanh”, ấy cũng lẽ thường,
Nên các bậc anh hùng càng đáng quí!

- Muội tự hỏi, mấy ai thà làm quỉ,
Hơn làm vương sống phú quí vênh vang...?!
Nhưng...Trần tướng quân...quả  thực anh hùng!
Luôn ngạo nghễ trong tinh thần bất khuất.
Ôi! Thế gian nầy, mấy ai làm được
Sống hiên ngang, chết cũng hiên ngang!
Muội xin nghiêng mình bái phục dân Nam...!

- Người đi theo dấu sử hùng,
Tiễn đưa sông núi bỗng dưng nghẹn ngào...!

6- Vở kịch thứ sáu: “Thất Trảm Sớ” nói về tờ sớ của quan Tư Nghiệp Quốc Tử Giám Chu
Văn An xin vua chém 7 quyền thần gian nịnh trong triều để cứu nguy xã tắc....
Chuyện xẩy ra như sau:

“Trong một buổi thiết triều, thầy Tư Nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An dâng sớ tâu vua xin
chém 7 quyền thần xu nịnh hại nước hại dân. Công chúa Ý Trinh và Tể tướng Trần Nguyên
Đán cũng có mặt trong buổi thiết triều.  Thầy Chu Văn An nhờ quan Tể Tướng và Công
chúa cho người thợ mộc mang chiếc áo quan (hòm) của thầy vào cung, vì nghĩ rằng việc
dâng sớ có thể nguy hại đến tính mạng.

Sau khi tố cáo 7 quyền thần xu nịnh có hại cho xã tắc, và xin vua chém đầu, nhưng vua
không nghe, thầy Chu Văn An chán nản xin về trí sĩ tại núi Chí Linh, và được vua chuẩn y”.

Mục đích của vở kịch:

Vinh danh thầy Tư Nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An đã can đảm dâng  lên vua “Thất trảm
sớ” xin chém bẩy quyền thần gian nịnh, hại nước hại dân.

Những lời tâm huyết:

- Thất trảm sớ tựa gươm thần,
Chém gian không chết...lương tâm còn gì?!

- Thất trảm sớ quả kinh thiên động địa,
Giấy trắng mực đen hơn ngàn vết dao đâm.
Bỗng rúng động...cả triều đình sợ hãi,
Thần chết phen nầy biết có phân vân...?

- Ôi khủng khiếp! Lũ quyền thần gian nịnh,
Đã bao năm làm nghiêng ngửa san hà...
Thất trảm sớ một lần vang tiếng ...sát,
Trước búa rìu, tội ác khó dung tha.

- Đấng anh quân xưa nghe lời trung thực,
Không vì nịnh thần mà bỏ mặc giang san.
Gián quan vì nước trừ gian,
Hoàng  huynh minh xét, trăm dân được nhờ!

- Thất trảm sớ, Thất trảm sớ!
Tiếng sét ngang trời, đời đời vẫn nhớ:
Răn đe hối lộ, tham quan,
Cửa quyền, gian tướng, nịnh thần phải kinh!

7- Vở kịch thứ bẩy: “Treo Áo Từ Quan” nói về dư luận quần chúng đối với  “thất trảm sớ”  
thời bấy giờ:

Chị Đao là vợ của Đao phủ thủ đi tìm chồng, gặp thầy Đồ giảng về đạo lý và gặp cậu học trò
Trương Sinh cho biết bữa nay thầy Chu Văn An dâng “thất trảm sớ” xin vua chém đầu 7
quyền thần hại dân hại nước. Chị Đao sợ hãi vì chồng chị làm nghề Đao phủ thủ, nhưng tính
tình rất ngang tàng, chỉ chém đầu kẻ gian ác chứ không chịu thi hành lệnh chém người ngay
thẳng. Nếu kẻ gian không chết, ắt chồng chị phải chết.

Thầy Chu Văn An và quan Thái Giám (gian thần) đi ra cùng với Đao phủ thủ. Thầy Chu cho
biết “thất trảm sớ” của thầy không được vua chấp thuận. Mọi người yêu cầu thầy Chu Văn
An cho biết tên kẻ gian để họ trừng trị, nhưng thầy Chu  từ chối, chỉ nêu lên những tội ác
đáng chém mà thôi.

Thầy Chu Văn An cởi bò áo mão làm quan, để lại trên tường thành và thanh thản đi về phía
núi Chí Linh theo đúng lối hành sử của người quân tử: “Xuất, Xử, Hành, Tàng”.

Mục đích của vở kịch:

Nêu cao gương chính trực và cách xử thế của người quân tử theo đạo Nho, để thanh niên
tuổi trẻ Việt Nam cùng suy gẫm.

Những lời tâm huyết:

- Quân tử, xuất xử hành tàng...
Xuất ra, xử ở, hành làm, tàng ẩn danh.

- Quân tử là một mẫu người,
Vào đời xử thế, tùy thời tùy cơ...
Khi ra, tay kiếm tay cờ,
Khi về, chén rượu, câu thơ, bạn nhàn...
Khi hành động: Dũng, Tri, Nhân,
Khi điều nghịch lý, từ quan chẳng màng!

- Những kẻ chuyên quyền, gian manh đền tội,
Thì dân đen mới ngóc nổi đầu lên.
Cỏ dại kia không nhổ sạch một phen,
Lúa yếu đuối bị lèn đầu xiết cổ!

- Thưa thầy sấm ở trên cao,
Ông Trời có mắt lẽ nào bỏ qua...
Thất trảm sớ, một món quà,
Thiên hạ đón nhận để mà gẫm suy!

- Tuổi trẻ không còn đam mê
Mồi danh lợi, mà quên đi sử sách.
“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”
Đọc sách Thánh hiền, bỏ mặc được sao?
Giang sơn đang đợi anh hào.

- Hỡi tuổi trẻ, thời nào cũng thế...
Đừng vì lợi danh, bán rẻ lương tâm.
Việc ngay, dám nói dám làm!
Hiểm nguy chẳng sợ, gian nan chẳng từ!


8- Vở  Kịch thứ  tám: “Mài Kiếm Dưới Trăng” diễn lại tâm trạng của tướng Đặng Dung khi
phò vua Trần Quí Khoách chống lại quân Minh xâm lược đang ở giai đoạn tuyệt vọng.
Chuyện xẩy ra như sau:

“Tướng Đặng Dung mài kiếm dưới ánh trăng, vừa than thở, bỗng gặp Lão tiều phu đến xin
đầu quân. Nhờ lời khuyến khích của Lão tiều phu, tướng Đặng Dung đã tỉnh ngộ và trở lại
tinh thần hăng say đánh giặc .

Vua Trần Quí Khoách đến thị sát căn cứ kháng chiến, được tướng Đặng Dung tiếp đón và
xin với vua đi đánh tập kích tàu giặc để bắt sống viên tướng soái Trương Phụ, tương tự như
kiếm khách Kinh Kha ngày xưa đã mài gươm sang Tần để ám sát Tần Thủy Hoàng. Vua
Trần Quí Khoách cho bày tiệc rượu tiễn đưa, và các tướng sĩ cùng thề lấy lại quê hương”.

Mục đích của vở kịch:

Vinh danh tướng Đặng Dung và gia đình họ Đặng, tất cả đã hy sinh trọn đời cho quê hương,
mong khôi phục lại giang san Đại Việt, đồng thời tri ân những sĩ phu yêu nước thời Hậu Trần
đầu thế kỷ thứ 15.

Những lời tâm huyết:

- Vai gánh vác giang sơn, chừng mệt mỏi,
Hồn thanh niên một tối bỗng già nua...
Thù chưa trả, tóc đã mầu sương tuyết,
Gươm ta mài, ôi! Đủ sắc hay chưa?

- Lão tuổi hạc đã ngoài vòng cương tỏa,
Không thiết tha gì đến chuyện tử sinh.
Nhưng vì giang sơn quằn quại gót xâm lăng,
Già hay trẻ cùng chung niềm tủi nhục!
Gươm chưa sắc, sao tinh thần héo hắt?
Chí đang bền, lòng tan nát được chăng?!
Đánh đuổi quân thù, lão đâu sợ uổng công.

- Ta mài gươm mong cứu lấy giang sơn,
Dẫu gục ngã kiếp này, đàn sau tiếp nối...

- Ôi sông Dịch xưa, một thuở hào hùng!
Tiễn Kinh Kha...với trùng trùng khăn trắng.
Đặng Dung hôm nay
Không dám học đòi cổ nhân tranh thắng,
Nhưng quốc thù treo nặng lưỡi gươm mài...!

- Những tấm lòng son sắt với giang sơn...
Khi quốc biến, gạt thù nhà riêng lẻ,
Để chỉ còn mục đích: trả thù chung!
Thù dân tộc, thù quốc gia tan nát
Bởi bọn xâm lăng, quân bán nước gian tham.

- Đây gươm lệnh trao tay người kiếm khách,
Ngày khải hoàn cả nước vẫn chờ mong.
Trong tuyệt vọng, đã sẵn mầm hy vọng,
Chén tiễn đưa, không phải chén ly bôi...
Giữa đêm đen đang ẩn náu mặt trời,
Sau đông giá là mùa xuân ấm áp.

- Đêm đêm mài kiếm dưới trăng,
Nguyện thề dành lại giang san Lạc Hồng...

9- Vở kịch thứ chín: “Ải Nam Quan” diễn lại cảnh Nguyễn Trãi tiễn đưa cha già là Nguyễn
Phi Khanh, bị quân Minh bắt giải về Kim Lăng, qua ải Nam Quan. Ông Nguyễn Phi Khanh đã
khuyên Nguyễn Trãi trở về tìm cách đánh đuổi quân xâm lăng, trả thù cho cha và rửa hờn
cho nước, chớ đi theo khóc lóc chẳng ích gì.

Ông Nguyễn Trãi sau đó đã đi theo giúp Bình Định Vương Lê Lợi, đánh đuổi được quân
Minh ra ngoài bờ cõi.

Mục đích của vở kịch:

Khơi lại dòng lịch sử bi hùng của nhà đại trí thức Nguyễn Trãi đã tiễn đưa cha là Nguyễn Phi
Khanh nơi ải “Nam Quan” và nghe theo lời cha già  khuyên dạy, trở về phò tá Bình Định
Vương Lê Lợi, lấy lại giang sơn Đại Việt.

Những lời tâm huyết:

- Nam Quan nước mắt tiễn đưa,
Trùng trùng biên ải, cõi bờ xót xa!
Về đi! Nợ nước thù nhà...
Mau về cứu lấy sơn hà Việt Nam!

- Hãy can trường lên, thôi đừng khóc nữa!
Nước mất rồi, giặc chiếm ắt nhà tan.
Cảnh chia ly cùng khắp cả nhân gian...
Đâu chỉ riêng ta mà con bi lụy!

- Giặc gian ác hung tàn không kể xiết,
Chúng phen này mưu diệt giống Tiên Long.
Đồng hóa dân ta, đảo tục di phong,
Biến Nam Quốc Sơn Hà thành quận huyện...!

- Thế hệ cha đã lỡ một thời gian,
Để nước mất, nhà tan, đầy thống hận!

- Hãy lau khô giọt lệ khóc cha già!
Bởi nước mắt không làm kẻ thù run sợ,
Lời than van giặc chẳng bớt hung tàn.
Con hãy về đi...về đi!
Lo trả thù cho cha, rửa hờn cho nước,
Mau trở về, diệt cường bạo cứu giang san.

- Cha một đi...không mong ngày trở lại,
Nắm xương tàn nơi hải ngoại xa xôi...
Con xem cha như khuất núi lâu rồi,
Hãy về đi...và hãy thề: Tổ Quốc là trên hết!

10- Vở kịch thứ mười: “Sáng Ngời Chính Nghĩa” kể lại trận đánh lịch sử của vua Quang
Trung Nguyễn Huệ vào thành Thăng Long qua câu chuyện xẩy ra trong gia đình quan đại
thần họ Lê. Chuyện như sau:

“Sáng mồng Năm Tết Kỷ Dậu (1789), Lê tiểu thư cùng Cúc Nhi lo lắng chờ đợi Lê Lão tướng
công họp ở triều đình về. Bỗng Tiểu Đồng báo tin quân Tây Sơn không biết từ đâu tới, đang
bao vây đánh đuổi quân Tàu.    

Cả nhà còn đang hoang mang, Lê Lão tướng công bỗng trở về, hối thúc con gái mau thu
dọn hành trang, theo vua Lê sang Tàu. Lê tiểu thư dùng dằng, hy vọng gặp lại chồng là
Trịnh công tử ...Hai cha con tranh luận về chữ “Trung”, đã khiến Lê Lão tướng công nổi giận
rút gươm ra toan chém con gái về tội xúc phạm đến vua và triều đình.

Cùng lúc các tin tức thua trận thảm hại của quân Thanh (quân Tàu) tại Hà Hồi, Ngọc Hồi...
báo về dồn dập, khiến Lê Lão tướng công rất thất vọng... Tin cuối cùng cho biết quân
Thanh thua lớn tại Đống Đa, xác chết chất thành gò, và Phù kiều sập, xác quân Thanh chết
đuối ngập sông...Lê Lão tướng công tuyệt vọng, toan tự sát, được Trịnh Tráng sĩ theo đoàn
quân Tây Sơn chiến thắng trở về cứu thoát...Qua sự giải thích của con rể về chính nghĩa
sáng ngời của vua Quang Trung trong công cuộc đánh đuổi ngoại xâm,  Lê Lão tướng công
mới hòa hoãn, ở lại xum họp cùng gia đình và tất cả cùng cầu cho mùa xuân thiên hạ thái
bình”.

Mục đích của vở kịch:

Vinh danh người anh hùng áo vải Tây Sơn, vua Quang Trung Nguyễn Huệ, có công tiêu diệt
quân Xiêm ở miền Nam và dẹp yên đảng Trịnh ở miền Bắc, mở đường cho công cuộc thống
nhất đất nước, nhất là chiến công oanh liệt đánh đuổi tan tác 20 vạn quân Thanh ra ngoài
bờ cõi.

Những lời tâm huyết:

- Trung còn là trung với dân với nước,
Trung với vua khi vua được lòng dân!

- Con không sợ những hạng người vong bản,
Đọc sách Thánh hiền mà làm chuyện phi nhân!
Kết đảng, kết bè, bái vọng ngoại bang,
Lo trả thù riêng, mặc tình vơ vét!
Triều đình “đỉnh cao” có biết dân đói rét?
Sĩ phu Bắc Hà chán ghét bỏ đi...
Hố thù hận không lấp dễ gì,
Ai cũng biết, “Quân nhất thời, mà dân vạn đại”!

- Bắc Bình Vương đã nhìn xa, thấy trước,
Nên vì dân vì nước lên ngôi.
Dưới đắc nhân tâm, trên thuận lòng Trời,
Gươm trừ bạo, mãi sáng ngời Chính Nghĩa!

- Toàn dân ta, đáp lời sông núi!
Theo cha ông, tiếp nối lên đường...
Sáng ngời chính nghĩa Quang Trung,
Phá Thanh bình Bắc, lẫy lừng trời Nam.

11- Vở kịch thứ mười một: “Bà Chúa Tiên” nói về tài đức và ước vọng của công chúa
Ngọc Hân. Chuyện kể tóm tắt như sau:

“Ngọc Hân, còn gọi là “Chúa Tiên” đang vẽ tranh trong vườn Thượng Uyển, bỗng em gái
Ngọc Bình đến báo tin có người đem trầu cau đến Hoàng cung xin cưới hỏi ...Hai chị em
đang bàn cãi xem ai là Hoàng tử,  Mẫu Hậu đã tới cho biết Nguyên soái Nguyễn Huệ xin cưới
Ngọc Hân về làm vợ.

Ngọc Hân về dinh Nguyễn Huệ, sống rất hạnh phúc. Ngọc Bình đến báo tin vua cha Lê Hiển
Tông đã băng hà.

Ngọc Hân khóc ngất đi, được tùy tướng Nhất Trung và thị nữ Như Sương săn sóc cứu tỉnh.
Nguyễn Huệ trở lại, an ủi Ngọc Hân và hứa sẽ tổ chức quốc táng cho vua cha...
Ngọc Hân có giấc mơ vĩ đại: mong ngày đất nước thanh bình và thống nhất, bờ cõi mở rộng
về phương Bắc... tựa như giấc mơ của vị Đại Đế Quang Trung sau khi đã phá tan 20 vạn
quân Thanh...

Giấc mơ của bà Chúa Tiên tưởng như có hy vọng trở thành sự thật trong niềm vui chiến
thắng mùa Xuân ất dậu 1789...”

Mục đích của  vở kịch:

Đề cao đức tính trung hiếu và tình yêu chân thật của bà Chúa Tiên tức công chúa Ngọc Hân
đối với vua Quang Trung Nguyễn Huệ, đồng thời bác bỏ giả thuyết “Vua Gia Long sau khi
thắng trận đã lấy công chúa Ngọc Hân làm thứ phi (?)”, do sự lầm lẫn với công chúa Ngọc
Bình là em gái Ngọc Hân (?)

Những lời tâm huyết:

Hơn thế nữa! Chị mơ...
Được làm chủ một giang sơn thống nhất,
Đất nước Nam mở rộng...như thuở Hùng Vương.
Từ Động Đình Hồ ra tới biển Đông
Người Đại Việt oai hùng trên hoàn vũ!

- Con gái ngoan, Mẹ vững tin...
Theo chồng con hãy giữ gìn gia phong.
Mong con phụ giúp nhà chồng,
Làm nên nghiệp lớn,  núi sông rỡ ràng!

- Phụ Hoàng trị vì, quyền uy chẳng có,
Bởi giữ thanh danh, bổng lộc phù vân.
Con gái, con trai nghèo khó như dân...
Riêng mình thiếp có duyên,
Được Lệnh Công yêu dấu.
Thiếp cũng ví như hạt mưa, bụi ngọc
Sa xuống lầu đài, thân phận rủi may.

- Thiếp chỉ mong chia ngọt xẻ bùi.
Nước lớn mạnh, dân giàu,
Đều là giấc mơ của người Đại Việt.

- Ta biết nàng lo âu,
Nên lệ mới tuôn trào...!
Bởi việc nhà tang tóc,
Việc nước cũng hư hao...
Hai vai gánh vác thương đau,
Cành lan nặng trĩu giọt sầu, rụng rơi...

- Cỏ ưu tư héo mệnh trời,
Tình nhà, việc nước,
Đầy vơi nỗi mình...!

12- Vở kịch thứ mười hai: “Sống Chết Theo Thành” nói về trường hợp cụ Phan Thanh
Giản trấn giữ thành Vĩnh Long, bị quân Pháp dùng hỏa lực mạnh uy hiếp, đành phải bỏ
thành để cứu dân, và uống thuốc độc tự tử, mong giữ tròn danh tiết....Truyện kể tóm tắt như
sau:

“Một buổi sáng sớm, lợi dụng sương mù dày đặc, quân Pháp đã mang tàu chiến đến sát
thành Vĩnh Long và chĩa súng bao vây tứ phía.

Quan kinh lược Phan Thanh Giản hay tin, bèn cùng quan Hiệp Trấn bày kế hoạch tử thủ,
đợi địch vào thành sẽ đánh “sáp lá cà” vì vũ khí quân Nam rất thô sơ so với lực lượng quân
Pháp. Nhưng quân Pháp biết ý, chỉ bắn đại bác vào thành...Phan Thanh Giản rất lo lắng sai
con gái là Phan tiểu thơ di chuyển dân chúng, đồng thời nhận lời điều đình ngưng chiến để
di tản dân ra khỏi thành...Tuy nhiên, quân Pháp không cho dân di tản, mà chỉ cho lính đào
ngũ rời thành...

Cụ Phan Thanh Giản đau đớn, nhói tim ôm ngực gục xuống. Phan công tử nghe thấy lệnh
ngưng chiến, tưởng cha đã đầu hàng giặc, nên đến chất vấn. Quân Pháp lợi dụng sự hoang
mang tinh thần của quân Nam, đã bất thần tấn công, chiếm giữ các nơi hiểm yếu trong
thành. Cụ Phan tức giận, tuyệt thực phản đối quân Pháp. Cụ bắt các con quỳ xuống chịu
tang, rồi cụ uống thuốc độc tự vận sau khi dặn các con không được làm việc hay hợp tác với
giặc,  mà phải chịu khó đi xa học hỏi để một ngày trở về lấy lại quê hương.

Mục đích của vở kịch:

Vinh danh quan Kinh Lược sứ Phan Thanh Giản, đã vì dân vì nước hy sinh: Bỏ Thành Vĩnh
Long để cứu dân và uống thuốc độc tuẫn tiết.

Những lời tâm huyết:

- Ta diệt xâm lăng với tấm lòng,
Bừng bừng chính khí, nghĩa  non sông.
Giặc thù cường bạo, lòng không nản,
Sinh tử coi thường, dạ sắt son.

- Đó là tinh thần bất khuất...
Chết làm ma, giữ đất quê hương.
Đối với quân Nam, chỉ có một con đường:
Sống chết theo thành, quyết không đầu hàng giặc!

- Non nước xanh xanh vẫn một mầu,
Vận nước ai ngờ bên vực sâu!
Ôi nỗi nhục nhằn dân nhược tiểu,
Vũ khí thô sơ chẳng kịp người.
Ý chí tinh thần ta có đủ,
Kỹ thuật, nhân tài...vẫn thế thôi

- Dẫu phải chết, giữ lấy thành cương quyết,
Làm kẻ đầu hàng, ôi nhục nhã, bi thương!

- Ôi! Đau đớn nghe non sông rền rĩ,
Máu đồng bào hay chính máu ta rơi?
Giặc gian ác điên cuồng như hổ đói,
Đất miền Nam tơi tả tựa con mồi!

- Nói gì cũng sợ tội...
Dân ngậm miệng mãi thành câm!
Quyền thần thì không ai muốn biết,
Nên giả câm, giả điếc để an thân!
Ôi một nước toàn người câm với điếc,
Có khác chi một nước chết, vô hồn!

- Ôi! Nước mất, đâu phải ta hèn yếu!
Bởi u mê tin số phận do trời...
Không chủ kiến, để lo toan cải cách,
Nông nỗi này, trời cũng bó tay thôi!

- Nhưng muốn hòa mà ta không sức mạnh,
Có khác chi đầu hàng giặc, an thân.
Còn chiến đấu, súng gươm thời thái cổ,
Đem so tài, nào có khác thiêu thân?!

- Dân nhược tiểu nếu biết mình hèn yếu,
Phải kiên cường quyết học hỏi tiến thân.
Sống sa đọa, ru hồn trong ảo mộng,
Biết bao năm mới thoát khỏi cùm gông?!

- Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh,
Há bo bo yếm thắm, quần hồng?!
Mài gươm gìn giữ non sông,
Xứng danh con cháu Tiên Rồng, Triệu Trưng...

- Chúng giữ dân, mưu toan làm áp lực,
Ta vì dân, đành nhượng bộ trước sau...

- Chén thuốc độc, thôi đành thúc thủ,
Chết theo thành, chịu lỗi với quân vương!

- Ta chỉ muốn cứu trăm dân vô tội,
Binh tướng kiêu hùng, xương máu cũng thương tâm!
Dân nhược tiểu phải nép mình học hỏi,
Lẽ sinh tồn không thể hóa thiêu thân!

- Còn danh dự, còn tên trong lịch sử,
Phải buông gươm... ôi! Nghĩ đến mà đau!

- Để thành mất, là việc làm đáng trách,
Còn lương tâm, tướng phải chết theo thành!

- Hãy ẩn nhẫn, nuốt nhục nhằn, ráng sống,
Sống chờ một ngày khôi phục giang san.

- Bởi trả thù nhà, trễ lắm chỉ mươi năm.
Nhưng nợ nước thời gian không tính được,
Một ngàn năm, vẫn thấy lại non sông.

- Trong hoàn vũ, sống hiên ngang học hỏi,
Quyết không bao giờ theo giặc, bả vinh quang!

- Hãy mài kiếm chờ một ngày phục hận,
Trả thù nhà, dựng lại nước nguy nga.
Cha không khuyên các con hận thù đồng loại,
Mà chỉ hận thù chủ thuyết xấu xa.

- Chén thuốc độc này cho quân xâm lược biết,
Tướng nước Nam không sợ chết bao giờ!
Thành mất theo thành, chẳng thẹn với người xưa
Gương bất khuất rạng ngời trang sử Việt.

- Hãy nhớ nhé, các con thề hãy nhớ:
Ai làm ta mất nước, tan nhà?
Hãy nhớ đừng quên, thề hãy nhớ:
Ngày trở về lấy lại đất quê cha...


* Vở kịch Sống Chết Theo Thành sẽ được trình diễn trong ngày Đai Nhạc Hội Hùng Sử Việt
kỳ IV tại sân khấu Regent West vào tối  Chủ Nhật 27 tháng 11 năm 2005.

Thành phần diễn viên như sau:

Nghệ sĩ Xuân Phát: vai quan Kinh Lược Sứ  Phan Thanh Giản.
Thanh Thảo: vai Phan tiểu thư.
Nguyễn Xuân Nghĩa: vai Phan công tử.
Nguyễn Mạnh Hiền: vai quan Hiệp Trấn.
Võ Hoàng: vai quan Thông Dịch của Pháp.
Nguyễn Tuấn: vai quan Cận Vệ.
Bất Khuất
Ấn bản điện tử
Kịch Bản Bi Hùng Dã Sử
Việt Nam